CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (23)

Logo bay gio ke

9 Giao duc 1GIÁO DỤC VIỆT NAM

CÁCH ĐÂY HƠN 100 NĂM

Từ lều chõng đi thi, học chữ Hán, chữ Nôm, học sinh Việt Nam đến lớp học chữ quốc ngữ, thực hành thí nghiệm…

H1: Các triều đại phong kiến Việt Nam tuyển chọn nhân tài thông qua khoa cử. Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long giữ vai trò là trung tâm giáo dục lớn nhất nước. Giai đoạn 1802-1945 dưới triều Nguyễn, hiện thực nền giáo dục Việt Nam là bức tranh hỗn dung đan xen yếu tố giáo dục truyền thống và các nhân tố giáo dục mới. Việc dạy học chữ Hán ngày càng giảm thiểu, chữ Quốc ngữ cùng nhiều kiến thức mới về văn học, địa lý, khoa học… được đưa vào chương trình giáo dục.

Hàng loạt trường tiểu học, trung học, cao đẳng, dạy nghề ra đời, trở thành gạch nối cho sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam sau này. Những hình ảnh về nền giáo dục Việt Nam thời kỳ này được thể hiện tại triển lãm “Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1802-1945 qua tài liệu lưu trữ” được trưng bày ở Văn Miếu – Quốc tử giám từ ngày 28/10.

H2: Các thí sinh lều chõng đi thi. Trong 143 năm tồn tại, nhà Nguyễn tổ chức được 39 kỳ thi Đại khoa, lấy 293 vị tiến sĩ. Bấy giờ, Văn Thánh miếu và Quốc tử giám Huế được thành lập tại kinh đô Phú Xuân, tiếp tục giữ vai trò đào tạo nhân tài cho đất nước.

9 Giao duc 2

H3: Các tân khoa dạo phố để ra mắt người dân. Thời vua Minh Mạng, ông cho chỉnh đốn lại khoa cử và năm 1828 mở thi Hội, rồi thi Đình để chọn tiến sĩ. Trước đó (đời Gia Long) chỉ có thi Hương. H4: Tân khoa dự tiệc. Sau khoa thi năm 1919, do ảnh hưởng của chế độ đô hộ Pháp, thi Nho học Việt Nam chấm dứt, thay thế vào đó là các loại thi cử dùng chữ quốc ngữ. H5: Các hoàng đế triều Nguyễn chủ trương lấy việc tổ chức giáo dục, đào tạo làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thông qua việc xây dựng Văn Miếu Quốc tử giám và Văn Miếu tại Huế dưới thời vua Gia Long hay việc thành lập trường Quốc học Huế dưới thời vua Thành Thái.9 Giao duc 3

H6: Trường làng Xuất Hóa (Bắc Cạn). Ở mỗi địa phương đều có trường cho học trò theo học. H7: Giờ khoa học thường thức, voi được đem ra để học trò quan sát. H8: Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Khi chiếm được Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Pháp tiến hành một nền giáo dục mới phục vụ cai trị. Trường học dựng lên ở khắp nơi hình thành nên tầng lớp trí thức mới trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa. Tòa nhà trụ sở của ĐH Đông Dương tại số 19 Lê Thánh Tông (Hoàn Kiếm, Hà Nội) xây dựng năm 1906 là một trong những trường học sớm nhất được thành lập (nay do ĐH Dược và ĐH Quốc gia Hà Nội quản lý và sử dụng).

9 Giao duc 4H9: Trường Trung học Bảo hộ (nay là trường THPT Chu Văn An, Hà Nội) thành lập năm 1908. Mục đích ban đầu là đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị của Pháp tại miền Bắc. Sau này, trường được biết tới cái tên trường Bưởi, là nơi đào tạo các thế hệ trí thức có tinh thần dân tộc cao, như Tôn Thất Tùng và các thầy giáo nổi tiếng như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên… H10: Trường nữ sinh Đồng Khánh, nay là trường THPT Hai Bà Trưng (TP Huế) được khởi công xây dựng năm 1917. Đây là ngôi trường nữ đầu tiên và duy nhất dành cho nữ sinh 13 tỉnh Trung Kỳ bấy giờ đến học. Ngoài việc học văn hóa và nữ công gia chánh, các nữ sinh Đồng Khánh còn được dạy cách nuôi con, quản lý gia đình, rèn luyện phong cách người con gái có học thức.

9 Giao duc 5

H11: Đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp tiến hành nhiều đợt cải cách giáo dục vào năm 1906 và năm 1917. Thời gian đầu, chương trình cải cách không như mong muốn, tạo ra sự tồn tại song song của hai nền giáo dục mâu thuẫn nhau, tạo bất lợi cho chính quyền thực dân. H12: Năm 1917, cải cách giáo dục lần hai tiến hành, nền giáo dục Việt Nam được chia làm ba cấp học: đệ nhất cấp (bậc tiểu học), đệ nhị cấp (bậc trung học) và bậc cao đẳng, đại học. Cuộc cải cách này tạo nền tảng cho giáo dục Việt Nam sau này.

9 Giao duc 6

H13: Một buổi học khoa học ở trường Đồng Khánh (Huế). Khác với nền giáo dục bản xứ chỉ coi trọng văn chương, nền giáo dục Pháp hướng đến đào tạo con người, phát triển kỹ năng toàn diện phục vụ các công việc thuộc nhiều lĩnh vực của xã hội.

9 Giao duc 7H14: Buổi học thực hành vật lý ở trường Chasseloup – Lauba. H15: Giờ dạy mẫu tại trường Quốc học Huế. H16: Giờ học vẽ tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế.

H17: Bài thi môn vẽ Mỹ thuật vẽ lá ô rô của một thí sinh. H18: Quyển biên bài dạy học hàng ngày và chương trình tiểu học Pháp – Việt và giáo dục bổ túc Pháp – Việt. (theo Hoàng Phương)

Logo Phong su

9 Cho troi 1CHỢ TRỜI

CỦA MỘT THỜI

– Mại dzô… Mại dzô… Đồng hồ mười hai trụ đèn, không người lái, hai cửa sổ… Xem thử đi các đồng chí… Cái đồng hồ này đáng giá cả một gia tài, nhưng bây giờ chỉ bán với giá ủng hộ…

– Chụp ảnh lấy liền chỉ mất 30 giây bằng máy Polaroid tối tân của Mỹ… Chụp đầy đủ cả bộ Đạp-Đổng-Đài để làm kỷ niệm… Chỉ còn một ít giấy ảnh, chụp ngay kẻo hết… Giá chỉ một ngàn đồng Ngụy một tấm…

Vài chú bộ đội tần ngần dừng chân đứng lại, một chú thắc mắc:

– Chụp 30 giây “nà thế lào” ?

– Chỉ sau 30 giây là đồng chí có một tấm ảnh bên cạnh xe đạp, đồng hồ đeo trên tay và radio đeo bên nách… Chụp đi đồng chí rồi gửi về Bắc làm kỷ niệm, chỉ mất có 1 đồng tiền mới, không có tiền mới thì trả tiền Ngụy cũng được !

9 Cho troi 2Đạo cụ’ của anh thợ chụp hình gồm chiếc xe đạp, cái vỏ radio bằng da và nếu người chụp không có đồng hồ anh ta sẵn sàng cho mượn để thực hiện một bộ sưu tập Đạp-Đổng-Đài như quảng cáo.

Mặt hàng ăn khách nhất ở chợ trời là “3D” (Đạp, Đổng, Đài) được đánh giá là ‘đỉnh cao’ của sự sung túc theo tiêu chuẩn người miền Bắc. Đồng hồ họ thích loại có nhiều cửa sổ’, một cửa sổ thì có ngày, hai cửa sổ thì có cả ngày lẫn thứ nhưng không biết họ có hiểu những chữ Mon, Tue, Wed… hay không ?

Radio thì ở miền Nam hầu như gia đình nào cũng có, nào là Sony, National, Zenith… có đủ cả AM lẫn FM và máy phát băng nhạc hiệu Akai. Tình thế đã thay đổi nên nhu cầu nghe radio không còn cần thiết, cách tốt nhất là đem ra chợ trời bán lấy tiền mua gạo.

Xe đạp thì Sài Gòn cũng không hiếm và chạy đầy đường, kiểu cách thì đa dạng không như xe Phượng Hoàng của Trung Quốc vốn lâu nay làm chúa đường phố Hà Nội.

Chợ trời là ‘nền kinh tế mới nổi’ trong thời kỳ Sài Gòn vừa đổi chủ. Chợ trời, ve chai, lạc soong nở rộ khắp hang cùng ngõ hẻm. Bụng đói nên mọi người phải ra đường kiếm kế mưu sinh. Trong hàng ngũ dân chợ trời, những người chân chính kiếm sống gồm đủ thành phần.

Ng Thuy LongNgười ta đồn ca sĩ Thái Thanh đi bán xôi ở khu vườn hoa Công lý, nhạc sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) ra chợ trời Sài Gòn. Thế là gần như ban Thăng Long xuống đường hợp ca bản… chợ trời !

Nhà văn Nguyễn Thụy Long với tác phẩm nổi tiếng Loan Mắt Nhung vốn hiền lành là thế nhưng cũng phải chạy chợ trời để nuôi con khi bị vợ bỏ. Nguyễn Thụy Long tâm sự : “Ra chợ trời có nhiều mánh kiếm ăn nhưng tôi chẳng được ‘quý phái’ như nhiều tay chợ trời khác. Như ký giả Hồng Dương buôn bán vàng ở chợ Lê Thánh Tôn, vải vóc, quần áo cũ hay sách báo lậu, môi giới ăn hoa hồng. Tôi cũng là dân chợ trời nhưng mua đi bán lại vài ba cái bù loong dỉ nên rất là đói rách…”

Nhà giáo vì ‘mất dậy’, ‘vô lương’ nên phải đứng chợ trời. Công chức mất sở làm phải ra chợ trời còn sĩ quan ‘ngụy’ bận đi cải tạo… Từ xưa, trong mắt số đông người miền Nam, chợ trời đồng nghĩa với sự lừa đảo, dối trá, ma lanh, láu cá. ‘Dân chợ trời’ là một cụm từ miệt thị chỉ những tay mua bán theo cơ hội, thời cơ nhưng trong thời điêu linh, Sài Gòn biến thành một chợ trời khổng lồ, trong đó đủ các thành phần xã hội, thượng vàng hạ cám. Tất cả chỉ vì miếng ăn, có cái tọng vào họng là được, bất kể sang hèn.

9 Cho troi 4Chợ trời là một hiện tượng nở rộ tại Sài Gòn trong thời điêu linh, kể từ sau 30/4/1975. Về mặt kinh tế, những nơi nào có nhu cầu mua-bán thì ở đó có chợ trời. Tuy nhiên, xét cho cùng, chợ trời thời điêu linh là một hình thức tự phát khi nhu cầu của người miền Nam cần bán những mặt hàng được coi là không còn cần thiết trong tình hình mới gặp nhu cầu của người mua là những người đến từ phương Bắc, họ săn nhặt những mặt hàng lạ còn sót lại từ thế giới tư bản niền Nam.

Bước vào khu vục chợ trời, bạn sẽ được chào đón bằng câu : ‘Có gì bán không anh ?’. Nhiều người tỏ vẻ bất bình trước câu hỏi sỗ sàng đó, có người lại trả đũa một cách khó chịu : ‘Tôi bán tôi, anh có mua không ?’. Sau này, không ngờ câu hỏi cay cú đó lại được sử dụng ở các chợ người, hay còn gọi là ‘chợ lao động’.

Ở gần khu vực tôi sinh sống có chợ trời Lăng Cha Cả. Chợ buôn bán đủ các loại mặt hàng, từ ‘thượng vàng’ đến ‘hạ cám’. Tại đây, tôi đã từng đem bán cái nhẫn tốt nghiệp United States Defense Language Institute và chiếc quần jeans có cái nhãn Levi’s gắn bên cạnh túi. Bán được 2 món đồ thấy nhẹ hẳn người vì không còn ‘tàn dư Mỹ Ngụy’ trên người mà lại có tiền cho vợ con đong gạo ‘bông cỏ’, mua khoai lang sùng, khoai mì chạy chỉ và cả ‘cao lương’ tức hột bo bo cứng như đá để độn cơm. Thật đúng là thời ‘cao lương mỹ vị’ đến độ ‘cao lương’ trở thành món tầm thường mà ai cũng ngán. Phải nói là ngán ngẩm mới đúng.

Nhà văn Hoàng Hải Thủy vốn là người rất ít khi làm thơ nhưng chợ trời đã khiến ông ‘tức cảnh’ với những dòng dưới đây :

Hoang H Thuy 2Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui

Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi

Vỉa hè này những khóc cười bầy ra

Lạc loài áo gấm, quần hoa

Này trong khuê các, sao mà đến đây ?

Chợ bầy những đọa cùng đầy

Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa

Bán đồ toàn những người ta

Mua đồ thì rặt những Ma cùng Mường

Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường

Đầu âm phủ, cuối thiên đường là đây !

Ở chợ trời, người bán nhiều hơn người mua, dĩ nhiên đa số người mua là những ‘Ma’ cùng ‘Mường’, họ là những từ phương xa đổ vào thành phố. Họ là những chiến binh chất phác, chân quê, ‘xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước’ và khi được đặt chân lên Hòn Ngọc Viễn Đông họ ngỡ ngàng như trong mơ, hàng hóa phong phú như ở các nước… Đông Âu!

Bên cạnh những chiến binh chân chất là những anh bộ đội có tính ‘sĩ diện hão’. Hỏi anh ngoài Bắc có ‘ti vi’ không, anh trả lời như một cái máy ghi âm Akai: “Thứ đó chạy đầy đường”. Hình như, theo sự hiểu biết của anh, TV là một loại xe Honda nên nói liều là… chạy đầy đường !

Đến khi thân nhân ở nước ngoài gửi quà về Việt Nam qua sân bay Tân Sơn Nhất và bưu điện đường Hai Bà Trưng lại phát sinh một nghề mới, nghề chợ trời mua thu gom đồ. 9 Cho troi 3Họ bám lấy người đi lãnh đồ như ruồi, không tiền đóng thuế cho hải quan, họ tình nguyện đóng thuế giùm, miễn là bán lại đồ cho họ.

Tôi đã chứng kiến nhiều cảnh cười ra nước mắt ở chỗ lãnh đồ gửi từ Mỹ về. Trong thùng đồ gửi về có một cây thuốc lá Pall Mall. Cây thuốc thơm tho đã nằm trên bàn kiểm hàng, thủ tục thuế má cũng đã đóng đủ cả chỉ còn việc người lãnh đồ chờ nhận. Tuy nhiên, nhân viên Hải quan (quan thuế) cho biết rằng thân nhân bên Mỹ đã gửi đồ một cách… phạm pháp. Người lãnh đồ thắc mắc, hồi hộp hỏi :

– Thưa… trong những gói thuốc này có… héroin hay sao ?

– Không, nhưng nhà nước xử nhẹ thôi, sẽ mua lại với giá chính thức, và cho lại anh một gói hút lấy thảo gọi là tình nghĩa với bà con.

Người lãnh đồ sống trong tâm trạng của kẻ đi xin và được cho những gì… nhà nước không cấm. Thuốc Pall Mall vẫn bầy bán trên lề đường Đồng Khởi, hồi xưa gọi là Tự Do. 9 Cho troi 5Người ta mới hiểu ra, thuốc lá tịch thu ở chỗ lãnh đồ có chân chạy ra đường Đồng Khởi.

Hàng từ ngoại quốc gửi về, nằm trong kho, người nhận quà được giấy báo, đôi khi hỡi ơi, chỉ còn thùng bị rút ruột hoặc bị đánh tráo. Vải từ bên Mỹ gửi về cho thân nhân ở quê nhà toàn dệt ở Việt Nam, nhà máy dệt Nam Định chẳng hạn. Gặp những chuyện đó chỉ có nước cắn răng chịu trận. Thân phận con kiến sao kiện được củ khoai.

Chuyện đó xảy ra hàng ngày nên không còn là chuyện la. Rồi giai cấp mới làm kinh doanh qua việc nuôi chó bẹc giê kiếm lời. Một giai cấp nhà giầu mới ra đời, người ta chăm sóc chó, cho chó ăn cả ký lô chả quế, ăn phở tái nạm gầu.

Lời đồn đại về lối sống của giai cấp mới này nhiều vô số kể, nhưng tôi không thể tin hết nếu chưa kiểm chứng. Trong hồi ức này những điều tôi viết ra đều đã được kiểm chứng và đúng là sự thật. Tôi không “bắt” ai phải tin hay nghĩ gì khác.

9 Cho troi 6

Cái cột đèn trong thành phố nó bị trồng cứng xuống lề đường nên đành đứng nguyên một chỗ, còn đồ Mỹ có chân, nó chạy ra chợ trời ! Nồi cơm điện, bàn ủi, hay đổng-đài nó có thể chạy ra đến chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Thất Đạm. Nơi đây người ta bán chúng với bất cứ giá nào, dân chợ trời mua tùy theo túi tiền có sẵn và người mua về bao giờ cũng vui vì có được món hàng mà mình ao ước !

9 Cho troi 7oOo

Chợ trời thuốc tây lớn nhất Sài Gòn trải dài suốt một con đường bên hông chợ Tân Định. Người ta có thể tìm mua đủ các loại tân dược tại đây, từ những viên thuốc cảm, sổ mũi, nhức đầu cho đến thuốc ‘đặc trị’ huyết áp, tiểu đường, thấp khớp – cái thì còn ‘đát’ nhưng có cái hết ‘đát’ từ mấy năm về trước. Nguồn hàng có xuất xứ đa dạng : thuốc từ các viện bào chế trước 1975, thuốc từ các nước ‘xã hội chủ nghĩa anh em’ và sau này còn có cả thuốc từ các nước tư bản do thân nhân từ nước ngoài gửi về.

Nguồn thuốc gửi về có đến 90% tìm đường ra chợ trời vì người nhận thuốc không phải để uống mà để bán đi lấy tiền lo cơm áo hàng ngày. 9 Cho troi 8Người ta quan niệm, chống đói quan trọng hơn chống bệnh tật gấp nghìn lần. Thân nhân ở nước ngoài được báo là cứ gửi thuốc về, mặt hàng này có giá rất cao nếu so với quần áo, vải vóc, mỹ phẩn, kẹo bánh. Hơn nữa, trọng lượng lại rất nhẹ cân nếu so với các ‘hàng viện trợ’ khác, đỡ tốn cước phí đối với người gửi.

Từ Mỹ, từ Pháp cũng xuất hiện những công ty của người Việt chuyên gửi thuốc tây về Việt Nam với danh sách các loại thuốc ‘hot’ nhất, có nghĩa là bán được nhiều tiền nhất trên thị trường chợ trời. Tại Sài Gòn có cả một hệ thống thu mua mặt hàng thuốc tây, họ là dân chợ trời nhưng đến tận nhà. Hệ thống chân rết này bắt đầu từ những tay ‘cò’, có mặt tại khu lãnh hàng trên phi trường Tân Sơn Nhất hay bưu điện, thấy ai lãnh thuốc là xin địa chỉ đến tận nhà để mua, vừa kín đáo lại vừa an toàn, không sợ công an ‘vồ’.

Ph Hong Que 3Dân chợ trời thuốc tây cũng xuất thân đủ mọi ngành nghề: từ ông dược sĩ chính hiệu bị mất sở làm đến anh “sỹ quan ngụy” vừa tốt nghiệp cải tạo, từ tên chuyên nghiệp mánh mung đầu đường xó chợ đến kẻ trong túi không có tiền uống cà phê cũng ra chợ trời buôn nước bọt. Họ đứng ra làm trung gian, dẫn mối.

Bạn cải tạo của tôi ra chợ trời kiếm ăn cũng không ít. ‘Tổng hành dinh’ của đám chợ trời chúng tôi là nhà Nam ‘đầu bạc’ ở đường Hai Bà Trưng, ngay chân Cầu Kiệu, nên rất gần với chợ trời thuốc tây trên đường Nguyễn Hữu Cầu, bên hông chợ Tân Định.

Nam vốn là bác sĩ quân y, khi đi học tập về sống chung với ca sĩ Phương Hồng Quế và mở phòng mạch trên đường Triệu Quang Phục trong quận 5, Chợ Lớn. Căn nhà mặt tiền đường Hai Bà Trưng vốn là của gia đình Quế nên được đám bạn chọn là nơi ra vào từ chợ trời.

Thuốc tây thu gom ở chợ Nguyễn Hữu Cầu được gửi tạm tại đây trước khi sang tay, mua đi bán lại. Mỗi khi bác sĩ Nam cần thuốc cho phòng mạch cũng đều nhờ anh em chợ trời săn lùng, anh em không ra chợ trời Nam cũng sẵn sàng mua ủng hộ mỗi khi có thuốc tây từ nước ngoài gửi về làm quà. Phần tôi thỉnh thoảng cũng có chút quà nên nhờ Nam mua giúp. 9 Cho troi 9Tôi hiểu, những lọ vitamin nếu đem ra chợ trời bán sẽ bị chê ỏng chê eo nên hễ có là tôi nhờ Nam mua… ủng hộ!

Nhóm chợ trời thuốc tây chúng tôi gồm đủ thành phần đã tốt nghiệp ‘đại học cải tạo’: Huệ (sĩ quan Hải quân… mắc cạn), Cường ‘điếc’ (pháo binh Thủy quân Lục chiến nên tai bị nghễnh ngãng vì tiếng súng), chú Định (dân Quốc gia Hành chính, đã từng là phó quận), Quyền (Giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội bị… ‘mất dậy’)…

Riêng tôi được miễn ‘công tác ra chợ trời thuốc tây kiếm sống’, thay vào đó là chân ‘gia sư’ kèm Anh Văn cho Phương Hồng Quế, Phương Dung, Thu Hiền và một số bạn bè của Quế cũng như con cái của các bạn cải tạo. Ông thầy ngày một đông học trò nên cuộc sống cũng có phần dễ thở trong suốt thời điêu linh.

SG Ph Tat DaiTan chợ, anh em thường tụ họp tại Hai Bà Trưng, thỉnh thoảng vào cuối tuần lại chung tiền tổ chức ‘giải lao’ sau những ngày ‘hành sự’ tại chợ Nguyễn Hữu Cầu. Tết Trung Thu, Quế lại còn tổ chức cho con cái ‘cái bang’ về Hai Bà Trưng đốt lồng đèn, ăn bánh Trung thu…

Giờ thì anh em cải tạo, người nào cũng ‘sáu, bẩy bó’, lưu lạc bốn phương, kẻ ở lại trong nước, người đã ra nước ngoài. Ngồi viết lại chuyện chợ trời để nhớ lại một thời điêu linh. (theo Hướng Dương txd)

Phan Tất Đại tổng hơp chuyển tiếp

Logo do day

SG Lan caysu 25 CHỢ TRỜI NỔI TIẾNG

CỦA SINGAPORE

Ở các khu chợ này, bạn có thể tìm thấy những bộ quần áo theo xu hướng thời trang mới nhất, đồ điện tử, đồ thủ công….với giá rẻ bình dân.

Singapore là thiên đường mua sắm với nhiều trung tâm mua sắm, các chương trình sale giảm giá kéo dài và các nhãn hàng đồ hiệu trên toàn thế giới. Ngoài các trung tâm lớn ra, còn một thế giới mua sắm khác của người dân địa phương mà bạn nên thử – các chợ ngoài trời nơi bạn có thể tìm thấy tất cả mọi thứ từ những bộ quần áo theo xu hướng thời trang mới nhất, đồ điện tử, đồ thủ công….với giá rẻ bình dân.

9 Singapore 1Dưới đây là 5 chợ ngoài trời nổi tiếng nhất của Singapore mà bạn không nên bỏ qua.

1/- Zouk’s Flea & Easy : Zouk’s Flea & Easy là một nơi tụ họp phổ biến của những tín đồ mua sắm, những người tiên phong trong xu hướng thời trang. Đây là một trong những chợ tập hợp nhiều đồ lạ, độc và hiếm của Singapore.

Bạn có thể tới mua những đồ theo xu hướng thời trang mới nhất, đồ vintage, hoặc những thứ trông như rẻ rách nhưng nếu được kết hợp khéo léo sẽ tạo ra những bộ đồ cực cá tính không giống ai.

Thời gian: Ba tháng 1 lần. Địa điểm: Zouk Club, 17 phố Jiak Kim.

2/- Flea Fly Flo Fun : Lại một chợ trời nổi tiếng với các đồ kỳ quặc, lập dị và độc đáo. Trong không gian nhạc ồn ào tại câu lạc bộ Home, các tín đồ thời trang lập dị, cá tính có thể tìm rất nhiều món đồ lạ để thoả mãn phong cách thời trang của mình.

Thời gian: Một tháng 2 lần. Địa điểm: Home Club, B1-01/06, The Riverwalk, 20 đường Upper Circular

3/- Chợ đồ ăn trộm tại đường Sungei : Chợ đồ ăn trộm tại đường Sungei được mở từ những năm 1950 cho các khách du lịch nhưng 9 Singapore 2hiện giờ nó đã trở thành một trong những chợ trời nổi tiếng nhất Singapore. Tất cả hàng hóa được đặt ra trên thảm nhựa hoặc lều dựng tạm.

Bạn có thể mua mọi thứ từ điện thoại quay số, băng cassette, nồi nấu ăn, những đồ đã bị vỡ nhưng bằng cách nào đó vẫn hoạt động tốt. Khi chủ gian hàng không cố gắng tỏ ra thân thiện với bạn, thì đó là cách họ giả kiểu để bạn tò mò về những món đồ đá quý từ thời xa xưa. Tinh ranh, bạn có thể nói vậy, nhưng rất thú vị.

Thời gian: Hàng ngày từ 11h-19h. Địa điểm: Dọc Jalan Besar gần đường Sungei, giữa đường Kelantan và đường Weld

4/- Chợ MAAD (Chợ của các nghệ sĩ và nhà thiết kết) Rất nhiều đồ trông như ngớ ngẩn, phù phiếm hoặc nghệ thuật nhưng lỗi thời, MAAD là nơi dành cho sự sáng tạo. Bất cứ ai cũng có thể đến để trưng bày, bán và trao đổi những tác phẩm sáng tạo hoặc thử nghiệm của mình. Đây là một trong những chợ trời tốt nhất của Singapore.

Đây cũng là nơi để các nhà thiết kế hoặc nghệ sỹ địa phương quảng cáo và đưa các tác phẩm sáng tạo của mình đến công chúng. Bạn sẽ tìm được từ những mặt hàng thủ công, đồ chơi đẹp mắt, đồ trang sức làm bằng tay…

9 Singapore 3Thời gian: Cuối tuần đầu tiên của tháng, 11 a.m.-7 p.m. Địa điểm: Bảo tàng Red Dot, 28 đường Maxwell

5/- Quảng trường Trung tâm Trung Quốc : Quảng trường trung tâm Trung Quốc bày bán thập cẩm các đĩa DVD, đồ lưu niệm và thiết bị điện tử. Những ai nghiện truyện tranh sẽ tìm thấy ở tầng 2 những ấn phẩm mới nhất và những ấn phẩm đầu tiên của các bộ truyện. Nếu bạn hỏi những tín đồ truyện tranh của Singapore họ sẽ nói rằng đó là chợ trời tốt nhất dành cho họ tại Singapore.

Thời gian: Chủ nhật hàng tuần, 11h – 18h. Địa điểm: Trung tâm quảng trường Trung Quốc, Tầng 1 & 2, 18 phố Cross (theo Depplus)

Lan caysu chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (17)

Logo bay gio ke

9 Buon vui 1BUỒN VUI THỜI

ĐIÊU LINH – BAO CẤP

Bắt ở trần phải ở trần

Cho may-ô mới được phần may-ô

Hai câu “lẩy Kiều” vừa dẫn là một trong những bức biếm họa xác thực nhất vẽ lại hình ảnh của thời bao cấp sau năm 1975. Đối với những người đã sống qua thời kỳ này, tưởng không cần phải giải thích loại ca dao ‘tức cảnh sinh thời’ đại loại như trên. Tuy nhiên, đối với các thế hệ sau, con cháu của chúng ta, không thể nào tưởng tượng được áo may-ô, một loại áo lót dùng cho đàn ông, cũng thuộc loại hàng hóa cung cấp cho “nhân dân”. Vì thế mới gọi là… bao cấp.

Từ điển tiếng Việt xuất bản trước “thời bao cấp” hoàn toàn không có mục từ bao cấp. Phải đến Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, bao cấp mới được chính thức xuất hiện trên sách vở. Từ điển giải thích : “Bao cấp là cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”.

Đối với người dân bình thường, đó là một định nghĩa rườm rà, khó hiểu với những từ ngữ ‘dao to búa lớn’. Người dân chỉ cần hiểu một cách đơn giản: Bao cấp là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hằng ngày…

9 Buon vui 2Trên thực tế, thời bao cấp kéo dài từ năm 1954 đến 1986 tại miền Bắc và từ năm 1975-1986 tại miền Nam. Theo cách gọi của tôi, một người miền Nam, đó là thời kỳ điêu linh sau khi Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.

Tại miền Bắc, trước khi bước vào thời kỳ bao cấp, Hà Nội đã sống trong ‘ảo giác no đủ’ của những ngày đầu tiếp quản từ tay thực dân Pháp. Nhà văn Tô Hoài kể lại trong hồi ký Cát bụi chân ai :

Chín năm ở rừng, không có lương, quần áo phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lấy ở kho từng miếng, cơ quan sắm dao kéo húi đầu cho nhau. Trở lại thành phố, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề. Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà Thủy Tạ. Nhà hàng Phú Gia vang đỏ, vang hồng, vang trắng… vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên. Áo khoác da lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế. Hàng Trung quốc thôi thì thượng vàng hạ cám. Kim sào, kim khâu, chỉ mầu, củ cải, ca la thầu, sắng xấu, mì chính, xe đạp cái xe trâu cao ngồng. Ca xi-rô ngọt pha vào bia cho những người mới tập tọng uống bia. Bắt đầu được lĩnh lương tháng. Không nhớ bao nhiêu, nhưng tối nào cũng la cà hàng quán được. Có cảm tưởng cả loài người tiến bộ đổ của đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ”.

Cái cảm tưởng “cả loài người tiến bộ ‘đổ của’ đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ” chỉ là một giấc ngủ ngày, bất ngờ thiếp đi trong khoảnh khắc để rồi bừng con mắt dậy với thực tế phũ phàng của đêm đen. Hàng hóa nhiều như Tô Hoài liệt kê không phải do Hà Nội sản xuất mà vì mới tiếp quản thành phố nên có sẵn trong kho của Pháp. Thế cho nên, nguồn hàng không phải tự mình làm ra ấy cạn kiệt một cách nhanh chóng. Đó cũng là lý do của sự khởi đầu một thời kỳ trì trệ kéo dài hơn 30 năm tại miền Bắc và hơn 10 năm tại miền Nam.

9 Buon vui 3Ngay từ năm 1955, công báo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa tin: công nhân viên, trên nguyên tắc, mỗi năm được cấp từ 5 đến 7 mét vải, khi sinh đẻ được cấp thêm 5 mét ‘diềm bâu’ khổ 7 tấc. Bình quân cứ 10 người dân đọc một tờ báo Nhân dân và Cứu quốc. Các quan chức từ cấp Thường vụ Ban thường trực Quốc Hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng, các chuyên gia nước ngoài, các đoàn ngoại giao được hưởng tiêu chuẩn mua quạt điện.

Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo ‘mô hình xã hội chủ nghĩa’, hoàn toàn do nhà nước nắm giữ. Nhân viên làm việc trong các cơ quan hay người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh sẽ chỉ được nhận một phần lương rất nhỏ bằng tiền mặt, số tiền còn lại sẽ được quy ra tem phiếu, riêng gạo được mua bằng sổ.

Cái gì cũng có thể và cần phải quản lý chặt chẽ. Tư tưởng chính làm nền tảng cho sự quản lý này đã biến cả xã hội lẫn con người thành một thứ đất sét, muốn nhào nặn thế nào cũng được. Nhà nước phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc cho đến các tiêu chuẩn phân phối được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung, săm, lốp xe đạp…

Tr Bac ky 2Mỗi gia đình công nhân viên được cấp 1 sổ mua gạo có số lượng hằng tháng tương đương với tiêu chuẩn của các cá nhân từ 16 đến 21kg mỗi tháng đối với người lớn, tùy theo mức độ lao động, lao động nặng thì được hưởng nhiều gạo hơn. Cán bộ có chức tước thì phiếu gạo ít vì lao động nhẹ hơn nhưng lại được cấp phiếu mua các mặt hàng thiết yếu nhiều hơn.

Trẻ em ngày ấy được gọi là ‘hộ ăn theo’, căn cứ theo tiêu chuẩn của bố mẹ, sẽ được hưởng khoảng từ 10-14kg/tháng. Để mua được gạo cũng là cả một vấn đề. Mỗi khu vực dân cư sẽ được quy định mua gạo tại một cửa hàng lương thực, cửa hàng lại phân lịch bán cho từng tổ theo lịch bán luân phiên. Hình ảnh thường thấy là người lớn, trẻ em đi xếp hàng mua gạo từ 3, 4 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết gạo. Người ta dùng những cục gạch, chiếc dép, mảnh gỗ để ‘xí chỗ’ khi cửa hàng chưa mở cửa và người thật sẽ đứng vào hàng khi mở cửa.

Dù xếp hàng đầu nhưng cũng không bảo đảm là sẽ được mua trước nếu có những sổ thuộc dạng ‘ưu tiên’ hoặc ‘chen ngang’ do có móc ngoặc với nhân viên thương nghiệp. Thời bao cấp người ta chỉ nghĩ đến miếng ăn nên việc quản lý của nhà nước theo hộ khẩu và sổ gạo là chính sách rất hữu hiệu. Thuật ngữ ‘buồn như mất sổ gạo’ xuất hiện trong thời kỳ này: mất sổ gạo còn quan trọng hơn cả việc mất tiền vì có tiền cũng không mua được gạo, dù là gạo đỏ, đầy thóc và sạn !

Chưa hết, gạo đỏ lại thường xuyên được thay thế bằng những loại lương thực khác như bột mì tồn kho (viện trợ từ Liên Xô), sắn khô xắt lát, ngô (bắp), bo bo (hạt lúa mì) hay gạo tấm. Tấm là thứ gạo nhỏ xíu bung ra từ những đầu khuyết của hạt gạo, ăn rất hay bị đầy bụng và “tốn” vì gạo tấm nấu không nở, khi thành cơm thì 1 lon tấm chỉ bằng 1/3 lon gạo thường!

9 Buon vui 4Những câu vè dưới đây nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp:

Nhất gạo nhì rau

Tam dầu tứ muối

Thịt thì đuôi đuối

Cá biển mất mùa

Đậu phụ chua chua

Nước chấm nhạt thếch

Mì chính có đếch

Vải sợi chưa về

Săm lốp thiếu ghê

Cái gì cũng thiếu

Chế độ bao cấp ngoài việc khiến người dân lúc nào cũng đói còn hủy hoại những giá trị đạo đức căn bản của con người. Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài kể lại :

“Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn. Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp…”

Quả thật, trong xã hội bao cấp, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi quá thiếu thốn và cũng bởi ăn cắp quá nhiều nên không bị coi là hành động xấu nữa. ‘Cái khó không bó cái khôn’, nhưng chỉ là ‘khôn vặt’ theo kiểu ‘đói ăn vụng, túng làm liều’:

Thời bao cấp, xã hội bị phân hóa. Đó là điều nghịch lý trong xã hội chủ nghĩa vốn hướng đến một Thế giới Đại đồng. Số liệu trong cuốn Kinh tế Việt nam 1945-2000 :

“Trong khi người dân thường mỗi tháng chỉ được 150 gram thịt, thì cán bộ cao cấp được 6kg, tức là bốn chục lần nhiều hơn. Và tính ra chênh lệch là 100 đồng. 9 Buon vui 5Ngoài ra còn thuốc lá, chè, đường, sữa, len dạ, cũng tạo ra khoản chênh lệch khoảng 100 đồng nữa”.

Nhiệt tình cách mạng của cán bộ thời kháng chiến ngày nào giờ chỉ xoay quanh vấn đề… ăn. ‘Ăn’ được hiểu theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, người ta ‘ăn’ theo nhiều kiểu, tùy vào cấp bậc, địa vị:

Cán bộ cao ăn cung cấp

Cán bộ thấp ăn chợ đen

Cán bộ quen ăn cổng hậu

Thời bao cấp, xe hơi ở Hà Nội rất hiếm, nên chỉ cần nhìn một chiếc ‘xe con’ đi qua người ta biết ngay cán bộ cấp nào ngồi trong đó. Xe Pobeda, và sau này là Vonga màu đen, dành cho cấp bộ trưởng trở lên. Các thứ trưởng và cấp tương đương đi những chiếc nhỏ hơn, loại Moskovits.

Cán bộ cấp càng cao càng có dịp đi công tác ở các nước Đông Âu, và con cái họ, những ‘cậu ấm, cô chiêu’, được đi lao động hoặc đi học tập bên Tây (hiểu theo nghĩa các nước XHCN Đông Âu). Đến khi về nước họ rước về những mặt hàng của các nước anh em như Liên Xô thì có tủ lạnh Saratov, xe Minsk, đồng hồ Pôljot, nồi áp suất… Đông Đức thì có xe máy Simson, xe đạp Dianond, Mifa; Tiệp Khắc có xe gắn máy Bebetta, xe đạp Favorit… Tầng lớp ‘tinh hoa’ của chế độ tạo thành một nhóm đặc quyền, đặc lợi trong thời kỳ bao cấp.

Bàn về con người và tư tưởng thời bao cấp, Vương Trí Nhàn phân tích: “Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta. Hèn theo nhiều nghĩa. Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Và chỉ có những niềm vui tầm thường. Mua được cân gạo không bị mốc: vui. Cưới cho con trai cô vợ làm ở cửa hàng lương thực nên cả họ mua bán dễ dàng: quá vui. Đi bộ mấy cây để đến nghe nhờ đài [radio] ở một nhà bạn, cũng đã… vui lắm. Vui đấy rồi thấy sự khốn khổ của mình ngay đấy, và ngày mai, lại vẫn tiếp tục cái tầm thường dễ thương đó”.

9 Buon vui 6Tôi trích đoạn văn trên qua một bài viết nhan đề Nhân cuộc trưng bày về cuộc sống Hà Nội 1975-1986. Cuộc trưng bày này được tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc học, tập trung vào các tư liệu, hiện vật của Hà Nội trong khoảng thời gian từ 1975-1986. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đứng ra tổ chức nhưng điều khá thú vị là được sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ SIDA (Thụy Điển), Quỹ Ford (Hoa Kỳ).

Cuộc trưng bày sử dựng đồng thời các hiện vật gốc do người dân hiến tặng, được kết hợp với việc tái tạo và phục dựng một số bối cảnh của cuộc sống thời bao cấp. Trọng tâm của cuộc trưng bày nói lên tiếng nói của cộng đồng thông qua những câu chuyện, những ký ức những suy nghĩ, đánh giá của người dân về cuộc sống của mình trong thời kỳ ‘đêm trước’ Đổi mới.

… Tại miền Nam, đồng bằng sông Cửu Long vốn là vựa thóc nhưng trong thời bao cấp chính sách ‘ngăn sông cấm chợ’ không cho phép nông sản được xuất tự do ra khỏi địa phương. Tất cả đều được nhà nước ‘thu mua’ với hàm ý ‘vừa tịch thu, vừa mua lại’.

Dưới mắt người nông dân đó là hình thức ‘mua như cướp’ theo ‘giá nghĩa vụ’ hoặc ‘giá khuyến khích’… Ngược lại, đến khi nhà nước bán cho người tiêu dùng, họ ‘bán như cho’, người mua có cảm tưởng được cửa hàng… bố thí chứ không thực sự là đi mua với đồng tiền của mình!

Thu mua lúa hay thu mua các mặt hàng khác đều giống nhau. Năm 1978, giá thành 1m2 vải ‘calicot’ sản xuất tại Công ty Dệt Thành Công là 1,5 đồng 9 Buon vui 7nhưng phải bán cho nhà nước với giá 1,2đ/m2. Giá thành 1m2 vải dệt theo kiểu oxford tính ra hết 10 đồng nhưng công ty phải bán cho Nhà nước giá 9 đồng. Nhìn cảnh đóng hàng xuất cho nội thương với giá thấp hơn thực tế, người công nhân phải rơi nước mắt.

Giá của hai thứ vải trên nếu bán ở thị trường tự do thì cao gấp 10-12 lần. Cũng vì thế, người dân và cả cơ quan nhà nước cũng chạy theo thị trường tự do để hình thành một nền kinh tế ‘ngầm’ song hành cùng nền kinh tế do nhà nước quản lý. Người dân buôn gạo từ địa phương này sang địa phương khác, chỉ vài ký mỗi chuyến nhưng cũng hưởng chênh lệch để ‘cải thiện’ cuộc sống gia đình.

Tại Sài Gòn, một số cơ quan, xí nghiệp ‘lách’ luật, bung ra trong việc ‘đi đêm’ với xí nghiệp bạn hoặc với tư thương, Công ty Kinh doanh Lương thực của bà Ba Thi (Nguyễn Thị Ráo) là một trường hợp điển hình của một ‘huyền thoại’. Năm 1980, với trình độ lớp 4 trường làng, bà Ba Thi được bổ nhiệm làm giám đốc công ty để lo cung cấp lương thực cho gần 4 triệu dân với ‘giá kinh doanh’ không ‘bù lỗ’ nhưng cũng không nhằm thu lãi cao.

Có thể đó là cách giải quyết của những lãnh đạo có ‘tâm’ trước sự thiếu thốn trong đời sống của nhân dân nhưng cũng không loại trừ những ‘phi vụ’ chạy vào túi riêng của những người trong cùng băng nhóm. Xã hội bắt đầu hình thành những ‘Mafia kinh tế’ để sau này tạo ra một giai cấp mới là ‘tư sản đỏ’.

Năm 2006, báo Tiền Phong dùng cụm từ Màu thời gian xám ngắt (nhại chữ của Đoàn Phú Tứ Màu thời gian tím ngát trong bài thơ Hương thời gian) để nhắc lại cái bóng kinh hoàng của thời bao cấp.

SG Kieu Dac Them 2Màu thời gian không xanh

Màu thời gian tím ngát

Hương thời gian không nồng

Hương thời gian thanh thanh

Đối với người miền Nam vốn đã quen sống trong nền kinh tế tư bản, thời bao cấp chắc không ‘xám ngắt’ mà phải là ‘xám xịt”.(theo Nguyễn Ngọc ChínhHồi ức một đời người)

Kiều Đắc Thềm chuyển tiếp

9 Khuon hinh 1NHỮNG HÌNH ẢNH QUÝ BÁU

ĐÁNH THỨC HỒI ỨC

THỜI BAO CẤP

Tem phiếu, cửa hàng mậu dịch… chỉ còn trong ký ức của những người sinh từ những năm 70 về trước.

Thời gian có thể tạo nên những công trình, những kỳ tích nhưng cũng chính thời gian vô tình xóa đi nhiều thành tựu quá khứ. Tuy nhiên, chỉ duy nhất có hồi ức là vẫn sống mãi cùng với cuộc đời của những ai được một lần chứng kiến.

9 Khuon hinh 2

Thời kỳ bao cấp, nhất là thập kỷ 1980 thuộc giai đoạn điển hình trong lịch sử Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như nghệ thuật của đất nước.

9 Khuon hinh 4

Thời kỳ bao cấp (1976 – 1986) là một giai đoạn để lại nhiều ấn tượng khó quên trong cuộc sống người dân Việt Nam. Tuy nhiên, với thế hệ trẻ, để hình dung trọn vẹn được sự vất vả của mỗi gia đình trong giai đoạn lịch sử này không phải là điều dễ dàng. Có lẽ nó chỉ còn trong ký ức của những người Việt sinh từ những năm 70 về trước.

9 Khuon hinh 5

Khách Giang Hồ chuyển tiếp

SG Ph Tat DaiHÀ NỘI (2014) ≈

NEW YORK (1914)

NHƯ NHAU ! 

Loạt ảnh trên trang BuzzFeed so sánh sự giống nhau giữa phố phường Hà Nội năm 2014 và New York từ năm… 1914 ! (Bài viết và những bức ảnh này được đem ra so sánh bởi một người nước ngoài đã sống ở Việt Nam 4 năm nay).

9 Ha noi 1

H1/. New York 1914  có rất nhiều dây điện trên đường phố, Hà Nội năm 2014 cũng vậy. H2/. Những cậu bé đánh giày là điểm chung. H3/. Cả hai nơi đều có những ông già hút thuốc trên vỉa hè, dù cách thức và thứ họ hút là khác nhau. H4/. Chợ hoa New York 1914 cũng sầm uất không kém chợ hoa Hà Nội 2014.

9 Ha noi 2

H5/. Những người quét rác đều có mặt ở cả 2 nơi. H6/. Những người bán bánh mì cũng vậy. H7/. Những xí nghiệp may vá…H8/. Trẻ con dù cách nhau cả thế kỷ nửa vòng trái đất nhưng vẫn cùng yêu thích trò chơi nhảy dây.

9 Ha noi 3

H9/. Và người New York cũng thích phơi quần áo bên ngoài như chúng ta. H10/. Một điều đáng buồn là những đứa trẻ không gia đình cũng là điểm chung.

Mặc dù vậy, chúng ta may mắn hơn là hiện nay đã có rất nhiều tổ chức từ thiện và các nhà hảo tâm tìm cách giúp đỡ những đứa trẻ này.

H11/. Người New York 1914 “điêu đứng” vì kẹt xe, nhưng Hà Nội 2014 thì khác, tưởng tắc đường mà hóa ra là… không tắc.

9 Ha noi 4

H12/. Hà Nội và New York đều có những cụ già thích đánh cờ trong công viên. H13/. Những khu chợ trong nhà cũng là điểm đến chung của các bà nội trợ ở cả 2 nơi. H14/. Người Mỹ thích “hot dog”, còn người Việt thì thích… thịt “chó nóng” hổi.

9 Ha noi 5

H15/. New York hồi đó cũng thích xây nhà chọc trời như Hà Nội hiện nay. H16/. Những con phố ở New York hồi đó luôn tấp nập và bây giờ, Hà Nội cũng không hề “kém cạnh”. H17/. Người Mỹ hồi đó thích uống nước chanh, còn người Việt giờ thích uống… trà chanh. H18/. Người New York rất yêu thích việc đón năm mới tại một nơi nổi bật nhất trong thành phố và dĩ nhiên, người Hà Nội của chúng ta cũng vây… a/- Tại Quảng trường Thời Đại. b/- Tác giả của bài so sánh này cùng vợ đón giao thừa tại Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo thu gian

THỜI GIAN NÀO CÓ ĐỢI AI…

Tuoi gia 1Thời gian nào có đợi ai !

Cuối đời bước ngắn bước dài tới nơi !

60 đang tuổi ăn chơi; Sáng, trưa, chiều, tối; hết ngồi lại đi.

– 60 là tuổi dậy thì. Rất mê bác sĩ, thuốc gì cũng nghe.

– 60 thích gặp bạn bè; Liền anh liền chị, dưa lê buôn dài

– 60 là tuổi thành tài. Được con bổ nhiệm trông vài nhân viên.

– 60 là tuổi thần tiên. Một mình lo liệu chẳng phiền cháu con.

– 60 là tuổi trăng tròn. Thoái hóa xương khớp mạch còn vữa xơ.

Tuoi gia 2– 60 là tuổi mộng mơ. Đêm đêm thao thức nằm chờ bình minh.

– 70 sang tuổi si tình; Mắt nhìn đắm đuối một hình hóa hai .

– 70 như giọt sương mai; Chăm chỉ luyện tập kéo dài tuổi xuân.

– 70 chưa muốn dừng chân; Vẫn ham tranh luận chuyện gần chuyện xa.

– 70 tuổi vẫn chưa già; Nếp nhăn trên trán, ấy là sợi yêu

Tô hồng khóe mắt hơi nhiều;

Mắt đỏ chứng tỏ tình yêu mặn mà.

Mai đây về với ông bà;

Tr Ong gia 10Ngồi sau nải chuối ngắm gà khỏa thân.

Chẳng ai sống mãi cõi trần;

góp vui một chút mừng xuân gọi là.

Mấy vần thơ thẩn nôm na;

Mừng bà móm mém thành hoa hậu rồi.

Gặp nhau thì hãy cứ vui.

Mấy câu để chúc mọi người an khang !

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

ALBUM : HÌNH ẢNH SÀI GÒN XƯA

logo kho tang

Cho Ben ThanhHÌNH ẢNH XƯA

ĐỂ NHỚ LẠI MIỀN NAM

Những hình ảnh Ròm đã chôm được trên mạng, đem về đây để làm tài liệu, tư liệu và chia sẽ cho các bạn . Cái mục lục này Ròm đề ba tạo ra vào ngày 2 tháng 9, 2012, rồi theo thời gian thêm vào những gì Ròm tìm được gom về

(Click vô đề tài được các bạn chọn, để xem Entry hình)

SÀI GÒN XƯA

Hình xưa : Hình Ảnh Sài Gòn năm xưa

Hình xưa : Hình Ảnh Sài Gòn năm xưa (tiếp theo)

Hình xưa : Nhớ vài con đường Sài Gòn năm xưa

Hình xưa từ Rufus Phillips Collection 1956?

Hình xưa : Hồ Con Rùa Sài Gòn .

Một số ảnh màu Việt Nam giai đoạn 1914 -1921

Hình xưa Operation Babylift

Operation Babylift: Chuyện bây giờ mới kể (của anh…

Hình xưa Tàu Helgoland BV Tây Đức – Năm 1967

Video clip SàiGòn trước 1975

Hình xưa về “Vẻ hào nhoáng của Sài Gòn 1967 “

Hình xưa sông Sài Gòn

Hình xưa : Chân dung Sài Gòn một thế kỷ (tiếp theo…

Vài hình Sài Gòn xưa, những mùa Giáng Sinh

Hình xưa : Trước 1975, người Sài Gòn đi xe gì?

Hình xưa thời Cộng Hòa miền Nam

Hình xưa : Sài Gòn Đẹp lắm Sài Gòn ơi !

Hinh xưa Velo Solex của một thời VNCH .

Hình xưa Sài Gòn chủ nhật

Xem hình xưa và hiện nay

Những hình ảnh Sài Gòn 1920

Hình xưa SAIGON 1965 by John A. Hansen

Hình xưa SAIGON 1964 by Iparkes

Ảnh hiếm về nhà máy thuốc phiện ở Sài Gòn xưa thờ…

Hình xưa Saigon 1968 – Đổ nát & Tái thiết – Destru…

Hình xưa Sài Gòn Thủ Dầu Một xưa

“Văn hóa không tên” tạo nên linh hồn của Sài Gòn x…

Hình Xưa :Sự thật đằng sau chiếc yếm bỏ ngỏ

Hình xưa Sài gòn trên bưu thiếp cũ & Trò chơi “đua…

Chân dung Sài Gòn một thế kỷ

HÌNH ẢNH SAI GÒN XƯA RẤT ĐẸP VÀ QUÝ

Hình ảnh xưa : Những Hình Ảnh Dĩ Vãng Sưu Tầm

Hình ảnh xưa : Những Hình Ảnh Dĩ Vãng Sưu Tầm (P2)…

Hình ảnh xưa : Những Hình Ảnh Dĩ Vãng Sưu Tầm (P3)…

Hình ảnh xưa : Hồ Con Rùa Duy Tân lúc chưa bị phá …

Hình ảnh xưa : Lăng Cha Cả ở nơi nào?

Hình ảnh xưa : Đường Catinat và nếp sống Sài Gòn x…

Hình ảnh xưa : Sài Gòn-Những Khung Trời Kỷ Niệm

Hình ảnh xưa : 22 tấm bản đồ Sài Gòn Chợ lớn xưa

Hình ảnh xưa : Thư Viện Quốc Gia Nghĩa Tử (17/3/19…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những từ ngữ đã đi vào quá k…

Hình ảnh xưa : Lăng Cha Cả & Cầu 3 Cẳng (Chợ Lớn)

Hình ảnh xưa : Đường phố Sài Gòn -hòn ngọc Viễn Đô…

Hình ảnh xưa : Hình ảnh Sài Gòn cổ xưa (1866 & 189…

Hình xưa : HÌNH ẢNH THÂN YÊU SÀI GÒN CỦA NGÀY XƯA

Hình ảnh xưa : Kênh rạch Sài Gòn xưa .

Hình ảnh xưa : Buôn bán ở Sài Gòn ngày xưa trước 7…

Hình ảnh xưa :Video xưa :Sài Gòn 1945

Hình ảnh xưa : Thủ Đức ngày xưa

Hình ảnh xưa : PostCard Indochine .(100 hình ,quà …

Hình ảnh xưa : Sài Gòn năm 1970-1971 (Jeff Dahlstr…

Hình ảnh xưa :SG khoảng thời gian 1967-1968

Hình xưa : 2/9 – Lối xưa xe ngựa “Sài Gòn cũ”

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Lính tráng

Hình xưa : Một số hình ảnh xưa ơi là xưa , 3 miền …

Hình xưa : Vài cảnh ngày xưa & xe xưa .

Hình xưa : Hình ảnh Sài Gòn theo dòng lịch sử

Hình xưa : Hình trắng đen Saigon Xưa 1950

Hình xưa :Một số Hình ảnh (mới) Của Saigon Xưa…

Hình ảnh xưa :Sài Gòn thời Đông Dương

Ảnh xưa :Sài Gòn mùa Giáng Sinh xưa trước 1975

Hình ảnh xưa : Sài Gòn 75 (PDF file)

Thêm hình ảnh về Sài Gòn xưa , có chú thích kèm th…

Ảnh xưa xe Lam -*- Lambro – Một thời để nhớ

Vài ảnh xưa ” Miền Nam VN 1949 “

SAIGON-1955: Video 10 năm sau đệ nhị thế chiến

VNCH , Những tấm hình … tìm lại trong ngăn kéo k…

Hình Ảnh của thời Đệ Nhất VNCH (Nguồn http://thang…

Sài Gòn xưa : Một số hình ảnh bình dân

Hình Xưa : Sài Gòn 1961 Bầu cử Tổng Thống

Hình xưa : “Xe Lam” …”phương tiện giao thông cũ”…

Tên đường phố Sài Gòn xưa

Xe gắn máy tại miền Nam trước 75

Citroën La Dalat… Made in Vietnam

Không ảnh của Sài Gòn xưa và nay,…

Cầu Sài Gòn trước 75 ….Cầu Chà Và …Cầu Kiệu …..

Sài Gòn : các loại xe đò xưa !

Dưới ngoi bút vẽ của Choé

Trường học và Nam Nử học sinh Sài Gòn xưa

Tượng Đài xưa ở Sài Gòn và biểu tượng cho binh chủ…

Có ai còn nhớ?: Tiền Xu VNCH

Ròm ôm về một số hình ảnh xưa của thời VNCH để ch…

Air Viet nam & VNAF Trước 75

Xe thổ mộ xưa trước 75

Việt-Nam vào những năm 1884-1885 Những tấm hình c…

Nhìn hình ảnh xưa để nhớ lại miền Nam VN CH

Hình ảnh cuộc sống thường nhật Sài Gòn trước1975

Hình Thủ Đức ngày xưa

Ði ăn mì chỉ cá ở Chợ Lớn (nhớ Sàigòn xưa)

VĂN HÓA – VĂN NGHỆ

Bài viết về hình xưa : Các rạp chiếu phim ở Sài Gòn…

Hình xưa : Đi coi chiếu bóng ở Sài Gòn xưa

Vòng Quanh Các Rạp Ciné SàiGòn Ngày Xưa Ngày Xuâ…

Phim xưa : Miền Nam Việt Nam trước 75

Vài cảnh xưa với Thanh Nga -Hùng Cường và nhạc xưa…

Nhạc sĩ LỮ LIÊN & ban AVT (clip Cò Tây Cò Ta )

Phạm Duy và 10 bài tục ca -(Nguyễn Ngọc Chính)

Saigon By Night 1967

Trò chơi thuở xa xưa

Nhớ trò chơi xưa : Oẳn Tù Tì

Vài mẩu quảng cáo … khói thuốc năm xưa

Thẩm Thúy Hằng với những đoạn phim thời trước 75

Việt Nam! Việt Nam! : Phim của John Ford với phụ đ…

SÁCH CŨ MIỀN NAM 1954 – 1975

Hình xưa : Tem thư ” Người Cày Có Ruộng “

Hình xưa : Nhớ sách “Tuổi Ngọc” xưa

Hình xưa : Vài ảnh Ca Sĩ, Nhạc Sĩ Vang Bóng Một Th…

Bộ Tem Việt Nam Cộng Hòa (1951-1975) – ( có chú th…

Những nhạc phẩm ra đời trong bối cảnh Mậu Thân 196…

“Đập vở cây đàn” & Duy Khánh với những hình ảnh HS…

Hình ca sĩ chụp trước 1975

Hình ảnh các Ca sĩ trước năm 1975

Rock Việt Nam trước 4/1975

MỘT THỜI CỦA NỮ HOÀNG NHẠC TWIST: TÚY PHƯỢNG

Nhạc Lính Ngày Xưa

Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”

Hình ảnh xưa : Phượng Mai trên Nhật Báo trước 75

Hình ảnh xưa : Tập ảnh Nghệ Sĩ 73 (Nhựt báo Trắng …

Hình ảnh xưa : Ca Nhạc sĩ Sài Gòn , trước 1975

Hình ảnh xưa : Nhạc Trẻ Sai Gon trước 75

Hình ảnh xưa : Vài trang báo xưa …mời bạn đọc

70 Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 – 2…

Hình ảnh xưa : Những tờ báo quốc ngữ đầu tiên

Hình ảnh xưa : VNCH – Giáo dục con đường khai phón…

Hình ảnh xưa : Sách Giáo Khoa Trước 1975 Việt Nam …

Hình ảnh xưa : Trường xưa của Sài Gòn thời ấy .

Hình ảnh xưa : Thanh niên SG nhảy đầm bị bắt đi ri…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những chữ vay mượn

Hình ảnh : Soul vs Sàigòn xưa và nay

Hình ảnh xưa : Báo chí VNCH 1974

Hình ảnh VNCH qua những tấm vé số

Bán nguyệt san TUỔI HOA và truyện Tranh trước 75 V…

Hình ảnh những bản nhạc xưa.

Vài bài thơ xưa trong bối cảnh trước 75 (Kèm theo …

Những Địa Danh Mang Tên ‘Ông’, ‘Bà’ Ở Sài Gòn

Hình ảnh những bản nhạc xưa.

Điều kỳ diệu của bài vọng cổ

Mời Nghe “Tiếu Vương Hội” -Hài Trước 75

Nhạc Trẻ Việt Nam, thập niên 60-70

XÃ HỘI

Hình xưa : Vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam thời xưa.

Hình xưa :Phụ nữ Sài Gòn những năm 60

Cuộc sống thường nhật Sài Gòn trước1975

Phim xưa Huế Mậu Thân 68 Huế , Xác nào là em tôi, …

Hình xưa : Trẻ em nơi Làng quê Việt Nam .

Hình xưa Chợ Hoa Nguyễn Huệ trước 75 ,xem chợ hoa …

Hình xưa : Áo dài trên phố Sài Gòn thời VNCH

Hình xưa qua Thông điệp từ những chiếc zippo thời …

Phim xưa :Thời bao cấp ,VN sau 75

Hình ảnh tuyệt đẹp về trang phục lịch sử Việt Nam

Hình xưa Tiền Đông Dương

Lịch Sử Đá Banh Việt Nam Cọng Hòa

Hành trình đi tìm Tự Do 1954 – 1975

Xem hình xưa mùa Tết Trung Thu

Hình ảnh xưa : Trại tị nạn Palawan PFAC tại Phi Lu…

Hình ảnh xưa : Trại tị nạn Palawan PFAC tại Phi Lu…

Hình ảnh xưa : Phụ nử Việt thời xa xưa

Phim xưa quý hiếm của VN & Di Cư 54

Ảnh xưa : Tết Xưa

Hình xưa VN : Ảnh trong ảnh ,”xưa” trong “nay” .

Hình xưa Trại Tị Nạn Bataan Philippines

KHOẢNG 500.000 DÂN VƯỢT BIÊN BỎ MẠNG DƯỚI BIỂN ĐÔN…

Ảnh xưa từ những bưu thiếp với những con tem VNCH …

Ảnh xưa : Quảng cáo trên sách báo ngày xưa …

Hình ảnh di cư từ Bắc vào Nam 1954

Quà vặt ngày xưa .Hình ảnh miền nam trước 75

Hình ảnh trẻ em VNCH 1966- 1967

Hình xưa , dân Hà Nội chuẩn bị di cư vào Nam vào t…

Thêm hình ảnh về “Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 ” …

Vài hình ảnh về “Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955 “

Hình ảnh xưa : Bầu cử VNCH

Một số hình ảnh bầu cử tại Sài gòn trước 1975 & S…

DANH THẮNG VIỆT NAM

Hình xưa : Huế Ngày Xưa . ( thời vua chúa )

Hình xưa : Chợ Lớn Sài Gòn 1950 khu dân Hoa Kiều ….

Hình xưa Hà Nội

Hình xưa Vũng Tàu – Cap Saint Jacques (Phần 1)

Hình xưa Vũng Tàu – Cap Saint Jacques (Phần 2)

Hình ảnh Pleiku xưa và nay

Hình ảnh PLEIKU phố núi xưa

Phim tư liệu: Kon tum xưa và nay

Hình ảnh xưa : PLEIKU phố núi xưa 1969

Hình xưa miền Nam vĩ tuyến 17 – Trước 1975 ( P1 )

Hình xưa miền Nam vĩ tuyến 17 – Trước 1975 ( P2 )

Hình xưa miền Nam vĩ tuyến 17 – Trước 1975 ( P3 )

Hình xưa : Vài hình Long Khánh thời 65/66

Hình ảnh hiếm thấy về Việt Nam năm 1932

Hình ảnh hiếm về VN trước năm 1954

Huế & Đà Nẵng 1967-1968 – Steve Brown

MIỀN NAM VIỆT NAM TRƯỚC 1975 QUA ỐNG KÍNH MICHEAL …

Hình xưa : Vũng Tàu 1967 – 1968

Hình xưa : KONTUM 1947 CỦA MICHEL GRISEY

Hình ảnh xưa : Sóc Trăng 1966/67

Vài đoạn phim tài liệu xưa về miền Nam VNCH

Hình ảnh xưa : Huế – Đà Nẵng – Qui Nhơn 1964-66

Hình ảnh xưa : Côn Đảo xưa (Poulo-Condore)

Hình ảnh xưa : Huế – nghi lễ đại bái

Hình ảnh xưa : Cầu Cẩm Lệ – Đà Nẵng xưa

Hình ảnh xưa : Nhà Thờ xưa trên Postcards

Hình ảnh xưa : Postcards Việt Nam xưa (P2)

Hình ảnh xưa : Postcards Việt Nam xưa (P1)

Hình ảnh xưa : Phụ nữ Bắc Việt đầu thế kỷ 20

Hình ảnh xưa : Nha Trang xưa

Hình ảnh xưa : Vịnh Hạ Long hơn 100 năm trước

Hình ảnh xưa : Vũng Tàu xưa ,trước 75 .

Hình ảnh xưa :Trường Trung Học Vũng Tàu 1954-1975

Từ Hà Nội đến Sài Gòn 1954 – 1975

Hình ảnh xưa : Quảng Trị xưa ,trước 75

Hình ảnh xưa : Buôn ma thuộc – Hội Chợ Tết 1957

Hình ảnh xưa : Viện Đại Học Huế từ 1957 .

Hình ảnh xưa : Huế và Lễ Tế Nam giao

Hình ảnh xưa : Huế và trang phục

Hình ảnh Huế xưa…YouTube Clip

Hình ảnh xưa Bến Tre (P1)

Hình ảnh xưa Bến Tre (P2)

Hình ảnh xưa : CHỢ TẾT NGÀY XƯA ( Hà nội )

Hình xưa : Vũng Tàu trước năm 1975

Hình ảnh xưa : Nha Trang trước thập niên 70

Hình ảnh xưa : Hà Nội xưa

Hình ảnh Huế xưa .

Hình xưa :Nhớ Hồn Quê – Đà Nẵng trước 1975

Những Hình Ảnh Về Mỹ Tho Xưa (YouTube clip)

Hình ảnh về Ban Mê Thuột ngày xưa (thập niên 1960)…

Ảnh xưa Việt-Nam vào những năm 1884-1885

Vũng Tàu xưa và nay qua hình ảnh ( SlideShow )

Buôn Ma Thuột xưa – Những bức ảnh chưa từng được c…

Đà Nẵng ngày xưa (Thân tặng các bạn quê ở ĐÀ NẴNG …

Hình ảnh Đà Nẵng xưa ( nhiều hình quá xá luôn hehe…

Những hình ảnh xưa của Sàigòn, Đàlạt, Nha Trang & …

Vài hình ảnh di tích lịch sử VN

Sưu tầm : Cảnh vật Vũng Tàu xưa…(vuhuyduc.blogsp…

Ảnh xưa : Vũng Tàu Thắng Cãnh ( những năm 1960)

Hình ảnh Châu Đốc ngày xưa.(Trận lụt 1961)

Ảnh xưa : Cố Đô Huế

Cảnh vật Vũng Tàu xưa….

Dalat và những hình ảnh chưa được công bố! (?)

Hình Ảnh Xưa : Dân tộc thiểu số

Đà Lạt Xưa vào những năm 1925 – 1930 ! ( Photos by…

Vài hình ảnh Vua VN, thế kỷ 20

Hình ảnh Việt Nam vào năm 1950 của ông Urbain CALE…

Hình ảnh xưa : Không ảnh VNCH xưa .

Mỹ Tho ngày xưa Tho 1968 1969 1969 -…

Tìm dấu vết của Hà Nội xưa Những bức ảnh về các đ…

36 phố phường Hà Nội xưa 36 phố phường Hà Nội qua…

Hình ảnh Hà Nội thời xa xưa và nay Cột cờ Hà Nội…

Hình xưa Nha Trang

101 tấm PostCard hình xưa Việt Nam

Hình ảnh VN xưa trước 75

Hình xưa : Vịnh Hạ Long hơn 100 năm trước

NHÂN VẬT

118 HÌNH ẢNH QUÝ HIẾM CỦA CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH D…

16/06/1990 TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng …

Phim xưa : Phóng sự tài liệu về Cố Tổng Thống Nguy…

Những ngày cuối của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở …

Video và hình xưa :TT Ngô Đình Diệm & Việt Nam Một…

Video xưa :Phim tài liệu về TT Ngô Đình Diệm (Yout…

Ảnh xưa : Đệ nhất phu nhân VNCH “Mrs THIỆU”

TT Nguyễn Văn Thiệu những ngày cuối ở Sài Gòn

Hình Xưa : Bà Ngô Đình Nhu trên Báo LIFE

QUÂN ĐỘI XƯA

Nhìn hình xưa sinh viên miền Nam VNCH chống tàu+ n…

Hình xưa : Trường Thiếu Sinh Quân VNCH tại Vũng Tà…

Thêm một câu chuyện về Thiếu Sinh Quân VNCH Vũng T…

Vài hình xưa về “Huấn luyện quân khuyển” thời VNCH…

Hình xưa : Pháp trường cát thời VNCH

Phim xưa : Chuyến bay di tản cuối cùng khỏi Đà Nẵn…

Hình xưa . Vài hình Cảnh Sát Quốc Gia của một thời…

Hình xưa AN LỘC, MỘT THỜI CHIẾN TÍCH…

Hình xưa : Lễ bế mạc Khoá 1 Võ Bị Đà Lạt .

Hình xưa : Lễ tốt nghiệp trường SQ Bộ binh Thủ Đức…

Hình xưa : Vài hình yêu quý trong QLVNCH .

Hình ảnh xưa :Trường Quân Y QLVNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Không Quân VNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Pháo Binh VNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Hải Quân VNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Thiết Giáp VNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Quân Cảnh VNCH

Những hình ảnh kỷ niệm về một thời chinh chiến – 1…

Những hình ảnh kỷ niệm về một thời chinh chiến – 2…

Những hình ảnh kỷ niệm về một thời chinh chiến – 3…

Hình ảnh xưa : Vài Bản Đồ Quân Sự Để Nhớ Về QLVNCH…

Hình ảnh xưa : EETI -Trường Thiếu Sinh Quân Đông D…

Hình ảnh xưa : Nhân Dân Tự Vệ VNCH

Trại tù Phú Quốc thời VNCH .

Hình ảnh xưa : Hồi hương Việt kiều Campuchia – 197…

Hình ảnh xưa : Thanh Nữ Cộng Hòa 1961-62

Hình ảnh xưa : Nữ Quân Nhân QLVNCH

Hình ảnh xưa : Sổ tay chiến sĩ 1971 VNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Không Quân QLVNCH

Hình ảnh xưa : Binh Chủng Pháo Binh QLVNCH

Hình ảnh xưa :Trường Quân Y QLVNCH

HUY HIỆU QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Hình xưa : Không Quân VNCH (gom về 19.02.2012)

Hình ảnh xưa :Tổng Y Viện Cộng Hòa ,có bác chú anh…

Hình Ảnh QLVNCH. Hải Quân.

Ảnh xưa : NHÌN LẠI CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Hình ảnh cứu hỏa của Sài Gòn xưa .(1971)

Vài hình ảnh về cuộc đảo chánh 1-11-1963 .

Hình xưa VNCH :Lễ Quốc Khánh và Ngày Quân Lực

Ấp Chiến Lược Của Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa

Ảnh sưu tầm 40 năm cuộc hành quân hạ Lào “Lam Sơn …

Ảnh xưa : Trại tị nạn người Việt giáp biên giới Ca…

Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và Trận Chiến Bi Hùng

Nghĩa Trang Quốc Gia của Quân Đội VNCH tại Biên Hò…

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA, CHUYỆN KỂ TỪ ĐẦU

Hình Xưa : Diển hành quân lực VNCH 1968 – 1975

Những Vị Tướng VNCH đã Tự Sát 30/04/1975

Nử Quân Nhân VNCH .

Thiệp Chúc Tết của Quân Lực VNCH

Quân Sử VNCH Qua Tem Thư Bưu Chánh

Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Vi…

HNg Huynh V. Yen 3Quân Phục VNCH

Quân Phục VNCH ( p. 2 )

Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa Duyệt Binh  r…

Chân dung người nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên …

Biệt đội tình báo Thiên Nga .

Xem Video để nhớ một thời đã qua (VNCH & Thuyền Nh…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (10)

Logo bay gio ke

9 Tra tan 2VÀI ĐÒN TRA TẤN

QUÁI DỊ XƯA Ở CÁC NƯỚC

Trong lịch sử đã có nhiều vụ tư thông gian dâm nổi tiếng được sử sách ghi lại. Vụ án đầu tiên về quan hệ trai gái bất chính được chính sử ghi nhận thời Lê sơ là vào năm Ất Mão (1435) đời vua Lê Thái Tông: “Người đàn bà ở xã Thương Xá, lộ Quốc Oai  (nay thuộc Hà Nội) là Nguyễn Thị Ngọc đã có 8 con với chồng. Chồng bị bệnh hủi, Nguyễn Thị Ngọc không cứu chữa nuôi nấng, mà còn lấy trộm tài sản của chồng, tư thông với khố giám là Nguyễn Chiếm để mưu lấy chồng khác” (Trích Đại Việt sử ký toàn thư).

Hai năm sau, chính sử tiếp tục ghi nhận một trường hợp nặng hơn khi con rể thông dâm với mẹ vợ : “Đinh Tỵ (1437) tháng 8, Hàn lâm viện đãi chế Vũ Văn Phỉ thông dâm với mẹ vợ là Nguyễn Thị, chuyện bị phát giác” (Theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Với tội này, áp dụng chương Thông gian (ngoại tình có đi lại với nhau) trong Quốc triều hình luật, tội của viên quan Vũ Văn Phỉ ứng với Điều 1: “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội lưu hay tội chết” và Điều 5: “Thông gian với vợ người thì bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, bắt nộp tiền nhiều ít theo bậc cao thấp của người đàn bà, nếu sang hèn cách xa thì lại xử khác”, lại ứng với “Lệnh cấm đàn bà phản bội chồng, 9 Tra tan 1đàn ông gian dâm với vợ người khác” trong Thiên Nam dư hạ tập : “Gian dâm với vợ người thì xử lưu hoặc tử hình”.

Nhưng cụ thể và rõ ràng nhất thì tội của Phỉ được áp vào Điều 11 của Hồng Đức thiện chính thư : “Con rể thông dâm với mẹ vợ là việc đồi bại làm tổn hại đến luân thường đạo lý, theo luật phải xử chém”. Tổng hợp lại những quy định ấy, tội của Vũ Văn Phỉ sau đó được tuyên là “phải xử tội chém”. Tuy nhiên, chính sử cho hay, Vũ Văn Phỉ “xin được chuộc tội, cuối cùng bị đày ra châu xa”.

Điều đó cho thấy rằng, trong xã hội xưa tiết hạnh của người phụ nữ rất được coi trọng, những việc trái với đạo lí vợ chồng đều bị xã hội lên án và có những hình thức xử phạt khắt khe.

Còn nhiều nước khác có những hình phạt về tội thông dâm như sau :

1/- Ép ngón tay : Đây là công cụ tra tấn phổ biến nhất thời cổ đại. Những người phụ nữ bị nghi ngờ ngoại tình sẽ phải đặt 4 ngón tay vào rồi bị ép chặt xuống. Có câu “Thập chỉ liên tâm” (Mười ngón tay liền với tim), khi người phụ nữ quá đau đớn mà ngất đi sẽ lại bị giội nước lạnh cho tỉnh lại để chịu sự đau đớn.9 Tra tan 3 Hình thức ép ngón tay này được sử dụng phổ biến đời Đường, Tống, Minh, Thanh (H1).

2/- Cắt mũi : Trong những xã hội cổ đại có ghi chép văn tự, đặc biệt là tại phía Đông Địa Trung Hải, lưu vực sông Tigris và sông Euphrates, những hành vi bị khép trọng tội như giết cha, thông dâm và tù binh chiến tranh đều không thể dung thứ và phải chịu những hình phạt nặng nề.

Người phụ nữ nếu ngoại tình, sẽ không bị xử tử, nhưng hình phạt mà họ phải chịu cũng vô cùng đau đớn và tàn khốc, đó là cắt mũi (H2). Tuy không ảnh hưởng tới khả năng sinh nở của người đàn bà, nhưng kiểu hành hình này khiến phạm nhân phải sống trong mặc cảm, tủi nhục suốt đời với dung nhan xấu xí và cơ hội để níu giữ trái tim đàn ông dường như đã hết.

3/- Cắt phăng của quý : Với người La Mã cổ đại, Nếu như người phụ nữ ngoại tình, họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều hình phạt thảm khốc. Người phụ nữ đó sẽ bị đuổi ra khỏi nhà, bị người chồng chửi bới và hàng xóm soi mói, không còn mặt mũi nhìn bất cứ ai. Thậm chí họ sẽ bị chính người chồng và gia đình chồng giết chết. 9 Tra tan 4Nếu như người chồng bắt gặp cảnh đôi tình nhân ngoại tình, kẻ cắm sừng đó còn bị ông chồng cắt phăng của quý và đem rêu rao với xóm làng. Người vợ hư hỏng kia sẽ bị lăng nhục, thậm chí còn bị vứt cho đám nô lệ và người hầu hãm hiếp.

Ở Ấn Độ thời cổ đại, việc trừng phạt hành động ngoại tình lại luôn gắn với sự bảo vệ giai cấp thống trị. Nếu như những người ngoại tình là những người cùng một đẳng cấp thì có thể bị chặt đứt 2 ngón tay. Đôi khi, những người giàu có cũng có thể dùng tiền để trả thay cho hình phạt chặt tay này.

Tuy nhiên, nếu như hai người ngoại tình với nhau mà ở hai giai cấp khác nhau thì hình phạt sẽ cực kỳ tàn khốc. Nếu như một người đàn ông ở đẳng cấp thấp hơn thông dâm với một người phụ nữ ở đẳng cấp cao hơn mình thì bộ phận sinh dục của người đàn ông sẽ bị đốt cháy. Sau đó, người này còn phải chịu hình phạt nằm trên một chiếc giường sắt đã nung đỏ để chịu đau đớn cho tới chết.

Những người phụ nữ ở đẳng cấp cao cũng phải chịu hình phạt không hề dễ chịu hơn. Bộ phận sinh dục của họ sẽ bị người ta dùng một chiếc que bằng sắt nung đỏ đốt cho cháy.

9 Tra tan 5

4/- Bỏ đói : là cách tra tấn mà một số quản ngục nhà Thanh nghĩ ra. Theo đó, phạm nhân sẽ bị nhốt trong một nơi chật chội, có kích thước chỉ bằng chuồng chó. Kế đến, cai ngục sẽ để thức ăn thơm ngon trước mặt tù nhân nhưng họ không thể với tới. Nhiều người đã chết vì bị điên cuồng do không chịu nổi sự đau đớn về tinh thần nên đã tự sát (H3)..

5/. Lột da : là một trong những hình thức tra tấn rùng rợn khác. Theo đó, đao phủ sẽ sử dụng một con dao sắc bén để từ từ lột từng miếng da của phạm nhân. Để tăng phần đau đớn cho phạm nhân, người ta còn sát muối vào vết thương. Đao phủ sẽ từ từ hành hạ phạm nhân trong vài ngày, thậm chí hàng tháng trời. Sau cùng, phạm nhân mới được giải thoát khỏi đau đớn (H4).

6/- Ném vào vạc dầu : là hình thức tra tấn hết sức dã man. Nạn nhân sẽ bị ném thẳng vào vạc dầu đã được đun sôi. Hình thức tra tấn này sẽ khiến nạn nhân đau đớn và chết ngay lập tức (H5).

9 Tra tan 6

7/. Dùng tre để tra tấn phạm nhân : Tre là một trong những loại cây phát triển rất nhanh. Vào thời xưa, Trung Quốc được cho là sử dụng loài cây này để tra tấn phạm nhân. Theo đó, phạm nhân sẽ được treo lên bên trên ngọn cây tre được vót nhọn. Sau đó, từng ngày trôi qua, cây tre đó ngày càng phát triển và đâm qua da của phạm nhân. Dần dần, cây tre đó đâm qua bụng của tù nhân khiến họ chết trong đau đớn (H6)..

8/- Thả vào nơi nuôi nhốt thú dữ. Nếu như phạm nhân bị bắt một mực không khai nhận tội thì sẽ bị nhốt vào những nơi nuôi nhốt thú dữ như hổ, báo… Khi vào trong đó, bất cứ phạm nhân nào cũng khó lòng giữ được tính mạng nếu như không nhận tội. (H7).

9 Tra tan 7TỘI NGOẠI TÌNH

THÔNG DÂM Ở XỨ TÀU

Ngoại tình, cưỡng dâm xưa nay vẫn bị coi là hành vi đi ngược lại quy chuẩn đạo đức xã hội. Tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, những mối quan hệ ngoài luồng ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình, những hành vi cưỡng bức luôn bị lên án. Vậy, trong các triều đại phong kiến Trung Quốc xưa vốn khắt khe và đề cao đức hạnh của người phụ nữ, đề cao cương thường đạo lý, người ta nhìn nhận thế nào về chuyện ngoại tình, cưỡng dâm ? Và số phận của những kẻ dám cả gan vượt rào ấy liệu có bi thảm ?

1/- Thời Tây Chu : Tái phạm 3 lần sẽ không dung thứ. Thời Tây Chu, xã hội văn minh vừa mới bắt đầu, tất cả mọi thứ vẫn đang trong tình trạng hỗn loạn. Pháp luật khi đó vẫn rất mơ hồ. Những điều luật dưới thời Tây Chu đến nay không còn tồn tại nhiều, chỉ có thể tìm thấy vết tích của chúng trong một số cuốn sách cổ. Như trong cuốn “Thượng thư – Quân Trần” có ghi chép : Đối với những người làm tổn hại cương thường lễ giáo, gây nhiễu loạn phong tục đạo đức, nếu tái phạm tới 3 lần thì không thể dung tha. Hành vi “cầm thú” như tội gian dâm cũng bị liệt vào hành vi làm tổn hại cương thường lễ giáo.

2/- Thời Tần : Phạt nặng nô lệ thông dâm với chủ nhân. Tới thời Tần, việc nam nữ thông dâm được xét là một loại tội phạm. Riêng cưỡng dâm cũng bị liệt vào hành vi phạm tội và phải chịu xử phạt nặng hơn với thông dâm. Dưới thời Tần, nếu nô lệ cả gan gian díu với chủ nhân sẽ bị xử phạt hơn tội nô lệ đánh lại chủ nhân. Nếu như nam nô lệ nảy sinh quan hệ tình dục với nữ chủ nhân, bất luận là nữ chủ nhân tự nguyện hay nam nô lệ cưỡng bức thì nô lệ đều bị khép vào tội “phạm thượng tác loạn”, “thiên nghịch bất đạo”, đều bị xử phạt nặng.

9 Tra tan 83/- Thời Hán : Thời Hán phân chia tội liên quan tới quan hệ tình dục thành 3 loại: thông dâm, cưỡng dâm và “cư tang gian”. Thông dâm là nam nữ hai bên tự nguyện. Ví dụ như Tự hầu Đổng Triêu đã tư thông với con gái của Thành Dương Vương khi làm quan thái thú của Tế Nam, nên đã bị phạt 3 năm tù giam. Tự hầu Tuyên Sanh đã thông dâm với vợ của người khác nên đã bị cách chức.

Pháp luật thời Hán định nghĩa cưỡng dâm là sử dụng sức mạnh để chiếm đoạt, làm trái với ý muốn của người bị hại. Điểm này khá tương đồng với pháp luật Trung Quốc hiện đại. Nếu trong thời gian để tang phụ thân hoặc mẫu thân mà thông dâm với người khác thì gọi là “cư tang gian”.

4/- Thời Đường : Thông qua môi giới mua dâm cả hai bên bị phạt 1 năm tù giam. Thời Đường phân chia thành 3 loại gồm thông dâm, cưỡng hiếp, mối giới mua dâm. Pháp luật thời đó quy định, nam nữ thông dâm đều bị phạt 1 năm rưỡi tù giam, nếu như nữ giới đã có chồng thì sẽ bị phạt tới 2 năm tù giam. Tội cưỡng hiếp sẽ bị phạt nặng hơn các tội thông dâm một mức, mỗi mức tương đương với nửa năm, chính vì thế tội cưỡng hiếp sẽ bị phạt 2 năm tù giam, trong đó nếu người bị hại là nữ thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

9 Tra tan 9Ngoài ra còn có 2 tình tiết có thể tăng hình phạt của tội cưỡng hiếp, gồm: thứ nhất, cưỡng hiếp người thân trong gia đình thì hình phạt có thể là treo cổ, thứ hai, nô tỳ cưỡng hiếp chủ nhân thì có thể bị chặt đầu hoặc treo cổ. Môi giới mua dâm chính là hành vi thông qua người môi giới tiến hành thông dâm. Pháp luật thời Đường quy định, những người phạm tội môi giới bán dâm đều bị phạt 1 năm tù giam.

5/- Thời Nguyên : Cưỡng hiếp trẻ em gái nhỏ tuổi đều bị xử tử hình. Ở thời Đường và Tống không phân biệt rõ tội danh cưỡng hiếp trẻ em gái nhỏ, còn theo cuốn “Nguyên sử – Hình pháp chí” thì chép rõ, người làm hại trẻ em gái nhỏ tuổi đều bị xử tử hình, thậm chí kể cả phía nữ có tự nguyện thì vẫn áp dụng đúng luật, còn phía nữ sẽ không chịu hình phạt nào.

Đối với giới hạn tuổi thì pháp luật thời Nguyên quy định rõ : Nữ giới dưới 10 tuổi được quy là trẻ em nhỏ tuổi. Nếu như phạm tội cưỡng dâm bình thường thì những người phạm tội trên 70 tuổi hoặc dưới 15 tuổi thì có thể dùng phương pháp nộp tiền chuộc nhưng nếu phạm tội cưỡng dâm trẻ em nhỏ thì không thể áp dụng hình thức nộp tiền chuộc để thoát tội.

9 Tra tan 106/- Thời Minh : Nam đóng giả gái để lừa đảo cưỡng dâm sẽ bị xử tử theo hình thức lăng trì. Dưới thời Minh Hiến Tông, có một người tên Tang Trùng, anh ta đóng giả nữ để theo học nữ công gia chánh. Sau khi học thành nghề, anh ta thường được giới thiệu để tới dạy nữ công gia chánh cho các thiếu nữ nhà giàu. Vào buổi tối khi Tang Trùng đang nghỉ ngơi cùng những thiếu nữ đó, anh ta liền lợi dụng sự tin tưởng của những thiếu nữ nhẹ dạ để chiếm đoạt thân thể của họ. Bằng cách như vậy, Tang Trùng đã hành nghề trong 10 năm và cưỡng hiếp khoảng 182 thiếu nữ. Mãi tới năm Thành Hóa thứ 30 (năm 1477), Tang Trùng mới bị vạch trần thân phận và áp giải tới quan phủ. Ban đầu, nhà Minh cũng không có quy định trừng phạt cụ thể đối với hành vi lừa đảo cưỡng dâm. Mãi tới năm Thành Hóa thứ 30 thì Hoàng đế mới phê chuẩn trừng trị hành vi đóng giả nữ giới cưỡng dâm nữ giới theo hình thức lăng trì.

7/- Thời Thanh : Dụ dỗ thông dâm bị phạt đánh 80 trượng. Thời Minh không có quy định xử phạt cụ thể về tội dụ dỗ thông dâm. Hình phạt này cho tới thời Thanh mới được hoàn thiện.SG Lan Huong Trong “Đại thanh luật” quy định cụ thể : Nam nữ thông dâm bị phạt mỗi người 80 trượng, nếu nữ giới đã có chồng thì sẽ bị phạt 90 trượng; Tội lừa đảo cưỡng dâm thì sẽ bị phạt 100 trượng; Tội cưỡng hiếp sẽ bị phạt treo cổ, nếu người cưỡng hiếp vẫn trong tuổi vị thành niên thì sẽ bị phạt 100 trượng và đày ra nơi khác cách 3 ngàn dặm.

Ngoài ra, pháp luật thời Thanh còn tiến hành giải thích rõ tội danh lừa đảo cưỡng dâm chính là hành vi dụ dỗ để lừa đảo sự đồng ý của phía nữ, do đó mới phát sinh mối quan hệ tình dục không chính đáng. Tuy nhiên, thời Thanh không quy định tội lừa đảo cưỡng dâm vào một loại cưỡng hiếp mà chỉ coi đó là hành vi thông dâm. (theo kienthuc.net)

Lan Hương chuyển tiếp

Logo tai lieu

9 Dinh lang 2ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM

Đình – Wikipedia tiếng Việt

Đình làng Nam Bộ – Wikipedia tiếng Việt

Đình Bảng – Từ Sơn – Bắc Ninh

Video

– Triển lãm đối thoại đình làng Bắc Bộ

– Tuyệt tác kiến trúc đình làng Bắc Bộ

–  Từ một đình làng Nam Bộ

– Kiến trúc Đình Làng Nam Bộ

Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền. Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã. Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội….

Nguồn gốc đình làng Việt Nam

Thời điểm xuất hiện và nguồn gốc của đình làng Việt Nam đến nay vẫn có nhiều giả thuyết khác nhau. Từ “đình” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là vào thế kỉ II, thế kỉ III. Trong “Lục bộ tập kinh” của Khang Tăng Hội có đoạn: “Đêm đến ông lặng lẽ chốn đi. Đi hơn trăm dặm vào nghỉ ở một ngôi đình trống. Người giữ đình hỏi: “Ông là người nào”. Ông trả lời: “Tôi là người xin nghỉ nhờ”… (Theo Hà Văn Tấn – Đình Việt Nam). Chi tiết “ngôi đình trống” trong đoạn văn trên cho ta cơ sở khẳng định đó là trạm nghỉ chân dọc đường, còn chi tiết “người giữ đình” cho ta giả thiết đó là ngôi đình là nhà công cộng của làng xã. Tuy nhiên, giả thiết này còn thiếu chắc chắn.

Như vậy, đình trạm là hiện tượng phổ biến ít nhiều từ thế kỉ thứ II. Thời nhà Đinh, ở cố đô Hoa Lư đã có dựng đình cho sứ thần nghỉ chân trước khi vào trầu vua. Đến đời Trần, đình với tư cách là trạm nghỉ chân được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư: “Thượng hoàng xuống chiếu rằng, trong nước ta, phàm chỗ nào có đình trạm đều phải tô tượng phật để thờ. Trước là tục nước ta, sau là vì nắng mưa nên làm đình để cho người ta đi đường nghỉ chân, trát vách bằng vôi trắng gọi là đình trạm” (Theo Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự – Đình Việt Nam).

Dưới thời nhà Lê, đình làng đã phát triển. Một sự kiện quan trọng dưới thời Lê Thánh Tông đã được Hồng Đức thiên chính ghi chép lại về việc lập đình như sau: 9 Dinh lang 1“Người giàu đã bỏ tiền làm đình hay công đức làm chùa. Thế mà (người sau giữ việc hậu) không biết đền đáp ơn đức, chỉ lừa người lấy của, chẳng bao lâu, tình nhạt lễ bạc, quên cả lời đoan, sinh thói bạc ác hoặc bỏ cả giỗ chạp, không như đời trước, hoặc là làm cỗ bàn không như khoán ước, hoặc năm thì trước năm thì sau, không đúng tháng hoặc trẻ thì lạy lớn thì không, chẳng đồng lòng. Vậy con cháu đặt hậu ở đình hay ở chùa mà thấy kẻ giữ ở hậu có trái lễ thì trình báo với nha môn để thu lại tiền công đức” (Theo Hà Văn Tấn – Đình Việt Nam).

Đình có bia xưa nhất là đình Thanh Hà (Hà Nội), vốn xưa thuộc làng Thanh Hà cổ, nay thuộc phố ngõ Gạch, quận Hoàn Kiếm. Bia đề năm Thuận Thiên thứ 3 (1433). Các cứ liệu trên cho phép ta khẳng định đình làng đã có từ thời Lê Sơ, đầu thế kỉ XV. Những ngôi đình xưa nhất còn bảo tồn đến ngày nay đều có niên đại vào thời nhà Mạc, thế kỉ XVI, đó là :

– Đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội) dựng năm Đại Chính thứ 2 (1531).

– Đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang) được ghi vào niên hiệu Sùng Khang (1566 – 1577), nhiều người dự đoán vào năm 1576.

– Đình Phù Lưu (Tiên Sơn, Bắc Ninh), được dựng vào cuối thế kỉ XVI.

– Đình Là (Thường Tín, Hà Nội) dựng năm Diên Thành thứ 4 (1581).

– Đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội) dựa vào phong cách kiến trúc và điêu khắc, người ta dự đoán được dựng vào thế kỉ XVI.

Căn cứ vào tài liệu, bi kí, chúng ta có thể biết thêm về những ngôi đình được dựng trong thế kỉ XVI. Bia đình Nghiêm Phúc (xã Lam Cầu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) dựng năm Hưng Trị thứ 4 (1591) ghi rằng đình được làm vào niên hiệu Cảnh Lịch (1548- 1553). Văn bia đình Đại Đoan (xã Đoan Bái, Gia Lương, Ninh Bình) cho biết đình dựng năm Quý Tỵ, niên hiệu Diên Thành (1583)…

9 Dinh lang 3Về nguồn gốc đình làng cũng có nhiều ý kiến khác nhau và cũng chưa có giải đáp chắc chắn. Có ý kiến cho rằng, đình vốn là hành cung của vua, được xây dựng dành cho vua khi đi tuần thú, sau mới thành đình làng. Có ý kiến khác cho rằng, vào thời Lý ở Thăng Long, người ta xây dựng những phương đình (có quy mô nhỏ) để dán các thông báo của chính quyền, hoặc là nơi người ta tuyên đọc các văn kiện của nhà vua. Sau đó, kiến trúc loại này tỏa về làng với chức năng như trụ sở hành chính của làng. Một vài ý kiến khác cho rằng đình làng có thể bắt nguồn từ các kiến trúc thờ thần đất và thần nước. Các cư dân Việt cổ trong tín ngưỡng bản địa, sùng bái thần đất và thần nước che chở nuôi sống họ.

Đáng lưu ý là ở Tuyên Quang có đình Tân Trào và đình Hồng Thái được xây dựng vào thế kỉ XX, thành hoàng làng được thờ là thần núi của làng. Theo nguyên lý văn hóa “hóa thạch vùng biển” thì hai ngôi đình Hồng Thái và Tân Trào gợi cho chúng ta về ngôi đình sơ khai đầu tiên của người Việt, kiến trúc khung gỗ, lợp lá cọ, bộ mái lớn, xà thấp, kết cấu nhà sàn và thông thoáng tứ bề. Quy hoạch mặt bằng hình chữ nhất, vì kèo bốn hàng cột. Tín ngưỡng thờ thần đất và nước biến đổi theo thời gian, khi tiếp thu văn hóa phương Bắc thì thần đất, nước được khoác bộ áo của thần thành hoàng Trung Quốc, từ đó biến thành hoàng làng Việt Nam.

Do vậy, đình làng với tín ngưỡng của nó có thể có nguồn gốc từ việc thờ thần đất, nước, hai vị thần quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, thờ mẫu, thờ sức mạnh tự nhiên, và có phần ảnh hưởng không lớn lắm của đạo Phật, đạo Nho đã được bổ sung tạo ra những biến thể phong phú của Thành Hoàng làng Việt Nam.

9 Dinh lang 4Chức năng đình làng Việt Nam

Đình làng là một thiết chế văn hóa – tín ngưỡng tổng hợp, có ba chức năng: Tín ngưỡng, hành chính, văn hóa. Rất khó để xác định chức năng nào có trước, chức năng nào được bổ sung. Hơn nữa, ba chức năng đan xen, hòa quện với nhau đến mức khó có thể phân biệt.

1/.   Chức năng tín ngưỡng:

Trong các đình làng Việt Nam, vị thần được thờ cúng là Thành Hoàng làng, vị vua tinh thần, thần hộ mệnh của làng. Khi tín ngưỡng Thành Hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc cũng nảy sinh ra một số Thành Hoàng mà chức năng cũng giống như ở Trung Quốc…Các vua triều Nguyễn còn lập miếu thờ Thành Hoàng làng ở tỉnh và huyện. Nhưng khi tín ngưỡng Thành Hoàng về làng, xã thì nó đã biến đổi khác với tín ngưỡng Thành Hoàng ở Trung Quốc. Như vây, tín nguỡng Thành Hoàng Trung Quốc khi du nhập vào làng xã Việt Nam thì các yếu tố văn hóa Hán, hoặc hiện tượng Hán hóa khác bị cổng làng chặn lại thì nó lại tìm thấy các tín ngưỡng bản địa có tính tương đồng, nên hội nhập rất thuận lợi với hệ thống tín ngưỡng đa nguyên của Việt Nam.

Nguồn gốc của Thành Hoàng cũng rất phức tạp. Trước hết là các thần tự nhiên (thiên thần hay nhiên thần) được thờ ở rất nhiều đình làng. Các vị thần này đều được khoác áo nhân thần với các tiểu sử thế tục. Được thờ chủ yếu là Sơn Tinh (thần núi), Thủy Tinh (thần sông, thần biển), trong đó, Tản Viên Sơn thánh có địa vị cao hơn cả. Ngoài ra, các vị thần núi có tên như Cao Các, Quý Minh được thờ ở nhiều nơi. Các thần núi ở địa phương, như: Tam Điệp Sơn, Điệp Sơn cũng được tôn làm Thành Hoàng làng.

Thành Hoàng làng thứ hai là các nhân thần. Các nhân vật lịch sử, như: Lí Bôn, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo… Chiếm số đông trong các nhân thần là những người ít nổi tiếng hơn như: Quan lại, nho sĩ và đặc biệt là các tướng của Hai Bà Trưng, nhất là các nữ tướng. Những vị thần này thực ra là các nhân vật truyền thuyết, mang tính giả lịch sử hơn.

Cung 2Thành Hoàng làng thứ ba gắn liền với tín ngưỡng bản địa, như tục thờ cây, thờ đá thời nguyên thủy…

Ngoài các vị thần, ở đình làng còn thờ những người có công khai phá đất mới, lập làng, như: Hai hoàng tử thời Lý là Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương, Nguyễn Hữu Cảnh, Thoại Ngọc Hầu, Nguyễn Cư Trinh … Ở miền Bắc thường gặp ở các vùng ven biển dân làng thờ những người có công khai hoang lấn biển. Những người gọi là “tiên hiền” là những người đến trước, “hậu hiền” là những người đến sau tiếp tục công cuộc “khai canh, khai khẩn”. Thành Hoàng có thể là người xuất thân hèn kém, có người chết vào giờ thiêng cũng được thờ làm thần. Trong lễ hội, người ta thường cử hành “hèm” để nhắc lại thần tích của các vị Thành Hoàng làng này.

Những người có công đóng góp cho làng sau khi chết được dân làng thờ làm “hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình. Có người khi còn sống đóng góp cho làng trên cơ sở có khoán ước với làng, được ghi thành văn bản, đôi khi được khắc vào bia đá. Họ được “bầu hậu” khi chết đi được thờ làm “hậu thần” và được làng hương khói hàng năm.

Ngoài ra, ở một số làng nghề thủ công người ta còn thờ tổ nghề gọi là “tiên sư”. Trong miền Nam các “tiên sư” được thờ ở nhà hậu của đình làng, chỉ có một số ít “tiên sư” được thờ ở chánh điện.

Tóm lại, các thần làng Việt Nam biểu hiện một hệ thống tín ngưỡng đa nguyên. Đó là một hệ thống pha lẫn nhiều yếu tố tín ngưỡng sơ khai của cư dân nông nghiệp (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ mẹ, các thần sức mạnh tự nhiên…) với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người anh hùng và có phần ảnh hưởng không nhiều của của đạo Phật và đạo Nho.

9 Dinh lang 52/. Chức năng hành chính:

Đình làng thực sự là trụ sở hành chính – nơi mọi công việc về hành chính của làng đều được tiến hành ở đó. Từ việc xét xử các vụ tranh chấp, phạt vạ, khao vọng, từ thu tô thuế đến việc bắt lính, bỏ các xuất phu đinh.

Chủ thể tiến hành các hoạt động hành chính ở đình làng là các vị có chức danh Chánh tổng, Lý trưởng, Phó lý, Trưởng tuần và các viên quan của Hội đồng hương kì, kì mục. Cơ sở để giải quyết các công việc của làng được dựa vào lệ làng hoặc hương ước. Hương ước là một hình thức luật tục. Gắn với hoàn cảnh, phong tục, tập quán lâu đời của từng làng mà nhân dân có các bộ luật nhà nước không thể bao quát được.

Các làng đều có hương ước riêng với nội dung rất cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, hương ước làng bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

+ Những qui ước về ruộng đất: việc phân cấp công điền, công thổ theo định kì và qui ước về việc đóng góp (tiền và thóc).

+ Qui ước về khuyến nông, bảo vệ sản xuất, duy trì đê đập, cấm lạm sát trâu bò, cấm bỏ ruộng hoang, chặt cây bừa bãi.

+ Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng. Việc xác định chức dịch trong làng nhằm hạn chế họ lợi dụng quyền hành và thế lực để mưu lợi riêng.

Cung 3+ Những quy định về văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng. Đó là những quy ước nhằm đảm bảo các quan hệ trong làng xóm, dòng họ, gia đình, láng giềng, được duy trì tốt đẹp. Quy định về việc sử dụng hoa lợi của ruộng công vào việc sửa chữa, xây dựng đình, chùa, điện, quy định về thể lệ tổ chức lễ hội, khao vọng, lễ ra làng, lễ nộp cheo …

Hương ước còn có những quy định về hình phạt đối với ai vi phạm. Vi phạm mức độ nào thì nộp phạt hoặc phải làm cỗ ở đình làng để tạ tội với Thành Hoàng làng. Hình phạt cao nhất là bị đuổi ra khỏi làng.

Có thể nói, hương ước là một bộ luật của làng xã. Về cơ bản, hương ước chứa đựng nhiều giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp, được hình thành lâu đời và nếu được chắt lọc có thể phát huy những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống làng xã hiện nay.

Với đặc điểm của tính tự trị và tính cộng đồng của làng xã, hoạt động hành chính và quản lí của làng xã được tiến hành có hiệu quả. Đình làng với tư cách là trụ sở hành chính đã trở thành biểu tượng của tính tự trị và sự cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử của mình.

3/. Chức năng văn hóa:

Đình làng là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cả làng. “Cây đa, bến nước, sân đình” đã đi vào tâm hồn của người dân quê. Đỉnh cao của các hoạt động văn hóa ở đình làng là lễ hội. Làng vào hội cũng được gọi là vào đám, là hoạt động có quy mô và gây ấn tượng nhất trong năm đối với dân làng. Ở các làng quê Việt Nam còn có hội chùa, hội đền nhưng phần lớn là hội làng được diễn ra ở đình làng gắn với đời sống của dân làng. Lễ hội bao gồm hai phần chính là: Phần lễ và phần hội:

9 Dinh lang 6

Lễ là các hoạt động có tính nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng.

Hội là hoạt động mang tính giải trí, gắn liền với thế tục, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Nhưng trong một số trò chơi hội làng cũng có ý nghĩa tâm linh, gắn với mục đích cầu mưa, cầu mùa.

Lễ hội ở làng diễn ra “xuân thu, nhị kì” vào các dịp nông nhàn. Lễ hội phần lớn vào tháng Giêng, có nơi vào thành hai, tháng ba âm lịch. Lễ hội thu thường vào tháng bẩy, tháng tám. Đó là hai lễ hội lớn, còn trong năm người ta cúng lễ Thành Hoàng làng.

Lễ cúng Thành Hoàng làng trong khi mở hội có quy trình như sau:

– Lễ trộc dục: Lễ tắm tượng thần hay thần vị.

– Lễ tế Gia quan tức là lễ mặc áo, đội mũ cho tượng thần. Nếu chỉ có thần vị thì đặt áo, mũ lên ngai.

– Rước thân: Khi mở hội, người ta rước thần từ đền ra đình. Khi kết thúc hội thì lại rước thần về đền.9 Dinh lang 7 Ở nhiều làng, người ta thờ Thành Hoàng làng ngay trong đình. Trong ngày hội, người ta rước thần đi vòng quanh làng và quay về đình.

– Đại tế: Là lễ tế quan trọng nhất. Có một người đứng chủ trì lễ (chủ tế), còn gọi là mạnh bái. Ngoài ra còn có hai hoặc bốn người bồi tế, hai người đồng xướng, hai người nội tán, mười đến mười hai người chấp sự.

Sau buổi đại tế, người ta coi thần luôn có mặt ở đình nên các chức sắc và bô lão phải thay nhau túc trực. Mở hội gọi là nhập tịch, hết hội gọi là ngày xuất tịch hay còn gọi là ngày dã đám.

Sau phần tế lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí. Sân đình trở thành sân khấu diễn xướng, ca hát. Ở những hội làng Bắc Bộ, sân đình thường có chiếu chèo, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang sân đình gắn với hội hát quan họ.

Mỗi địa phương có trò chơi khác nhau, thỏa mãn con người với nhiều nhu cầu như: Nhu cầu tâm linh (các trò chơi gắn với cầu mưa, cầu mùa, cầu ngư…), nhu cầu cộng cảm, nhu cầu thể hiện sức mạnh, sự tài trí. Các trò chơi gắn liền với nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, như: Cướp cầu, kéo co, đua thuyền…

Cho đến nay, cúng đình và lễ hội vẫn là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu ấn tượng nhất của làng xã. Trong sinh hoạt tín ngưỡng đó, người dân vẫn tin vào sự phù hộ của các vị thần trong mùa màng và đời sống. Hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ sau một thời gian bị đứt đoạn đã có sự phục hồi nhanh chóng, chứng tỏ dân làng vẫn có nhu cầu về tâm linh.SG Ph Tat Dai Điều đó cũng chứng tỏ sức sống bền bỉ của tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng.

Tóm lại, đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của nền văn hóa Việt Nam. Những nhân tố tự nhiên và xã hội đã hình thành nên làng, một cộng đồng làng, lối sống làng. Đình làng là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng ra đời từ thời Lê Sơ, đánh dấu một bước phát triển của cơ cấu làng xã cổ truyền. Đình làng là một biểu tượng của tính cộng đồng, tự trị dân chủ của làng xã. Ngôi đình là trung tâm văn hóa của làng mà thể hiện cô đọng nhất là lễ hội. (theo Thắng Trần)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC

Logo tai lieu

9 Dong kinh 1ĐÔNG KINH NGHĨA THC

– Nguyễn Văn Đệ

“Một số nhà nho Hành Thiện hưởng ứng lời kêu gọi của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đã cắt bỏ búi tó và để tóc ngắn như người Pháp từ năm 1908.” (Trang 74)

”…Phải đợi đến khi nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục vào năm 1907 hô hào toàn dân theo tân học, nên đến năm 1908 mới có học sinh Hành Thiện theo học Trường Tiểu Học Xuân Trường”. (Trang 115)

“Trong 23 năm đầu của nền bảo hộ Pháp tức từ năm 1884 đến 1907 dân Hành Thiện vẫn theo Hán học. Đời sống tinh thần của dân Hành Thiện trong khoảng thời gian ấy vẫn giữ nếp cũ.

Mãi đến năm 1907 hưởng ứng lời hô hào của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục và chịu ảnh hưởng của hai nhà tư tưởng Trung Hoa là Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, hơn nữa vì Triều đình Huế quyết định từ khóa thi Hương 1909 trở về sau, ngoài các bài thi chữ Hán còn có các bài thi chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ nữa, bấy giờ các nhà nho Hành Thiện mới chịu cho con em theo tân học, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp”. (Trang 681) – Đặng Hữu Thụ, “Làng Hành Thiện thời Tây Học”, 1999, Menlo – France.

Như phần trích dẫn bên trên, chúng ta thấy phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầng lớp sĩ phu Việt Nam, cũng như những nhà Nho làng Hành Thiện thời đầu Thế Kỷ thứ 20, dưới thời thực dân Pháp. Chúng tôi xin được tóm lược về Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:

1/-  Đông Kinh Nghĩa Thục được lập ra từ tháng 3, và bị đóng cửa vào tháng 11 năm 1907, đã khởi động một phong trào duy tân nhằm thực hiện việc cải cách xã hội Việt Nam vào đầu Thế kỷ 20 trong thời kỳ Pháp thuộc. Mục đích của phong trào là việc khai trí cho dân qua những lớp học, chủ trương quảng bá phong trào dạy chữ Quốc Ngữ, in ấn những tài liệu giáo khoa, dịch thuật những tài liệu duy tân tiến bộ của những tác giả ngoại quốc, tổ chức những cuộc diễn thuyết để trao đổi tư tưởng cùng cổ động tinh thần duy tân trong dân chúng, chủ trương và phát hành Đông Cổ Tùng Báo và Đại Việt Tân Báo, phát huy những cơ sở thương mại, thực nghiệm kinh doanh cũng như để tăng thêm nguồn thu nhập và hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa.

9 Dong kinh 22/- Vào đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp hầu như đã dẹp tan được các cuộc khởi nghĩa của những phong trào Văn Thân và Cần Vương (1885-1895) tại Việt Nam. Cùng với việc củng cố chính sách cai trị thực dân, nền kinh tế thuộc địa cũng bắt đầu được phát triển trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các nhóm nhỏ được hưởng những lợi ích về đặc quyền kinh tế như những cộng đồng người Hoa, người Ấn (Chà Và), vân vân… cũng đã dần già du nhập, áp dụng, và phát triển thêm nền kinh doanh thị trường. Song song với sự phát triển về kinh tế, các tư tưởng kinh tế tư bản cũng đuợc xâm nhập vào, và phát triển bên trong Việt Nam.

Một số các nhà nho tuy thuộc thành phần cựu học nhưng đã có những tư tưởng tiến bộ nhận thức được sự yếu kém của nền Hán Học; Cũng như họ đã chứng kiến được một nước Nhật Bản vì duy tân và mở cửa kịp lúc nên đã trở thành hùng mạnh, đã chiếm cứ Mãn Châu, Cao Ly. Và thêm vào đó là sự kiện Hải Quân Nhật đã đánh tan những hạm đội của đế quốc Nga tại cảng Lữ Thuận (1904) và tại eo biển Đối Mã (1905). Họ đã thấy cần, và đã quyết tâm phải thay đổi về tư tưởng, sự suy nghĩ, và cách thức học tập của người dân trong nước để nhằm mục đích nâng cao dân trí trước, và hy vọng đưa đến một cuộc đổi mới, đồng bộ trong phương cách đấu tranh dành lại nền độc lập cho nước nhà từ thực dân Pháp.

Hướng tới Nhật Bản như là một ngọn hải đăng soi đường : các phong trào Đông Du (1904-1908) do cụ Phan Bội Châu khởi xướng nhằm lén lút đưa những người trẻ tuổi sang Nhật du học, và phong trào Duy Tân (1906-1908) do các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp lãnh đạo để cổ võ sự canh tân về dân trí.

9 Dong kinh 3Các cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã kết hợp với các nhà nho đang cùng có chung một chí hướng, và những tư tưởng tiến bộ ở trong nước như các cụ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Hải Thần… đồng ý về địa bàn cơ bản để hoạt động nâng cao dân trí chính là phải từ trong nước. Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu được khai giảng ở căn nhà số 4 của cụ Lương Văn Can tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Về sau đông học sinh qúa, phải mượn thêm chỗ tại căn số 10 để mở thêm các lớp, và thêm nhiều chi nhánh tại các tỉnh lân cận như Hà Đông, Hưng Yên, Hoài Đức, Hải Dương, Thái Bình..

3/- Đông Kinh Nghĩa Thục được mở ra với các tiêu chí :

Loại bỏ tư tưởng hủ cựu Tống Nho, và du nhập những tư tưởng tiến bộ về tự do, về dân chủ của Trung Hoa, Nhật Bản hay Âu Châu như của các ông Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, René Descartes, Jean-Jacques Rousseau, Voltaire, John Locke, Montesquieu…

Mở các lớp dạy, và truyền bá chữ Quốc Ngữ. Ngoài ra còn mở thêm các lớp cao học bằng tiếng Pháp, hay chữ Nho cho những người đã quen thuộc Pháp Văn hay Hán Văn. Thúc đẩy mạnh sự phát triển chữ Quốc Ngữ vì dễ học, học cách đọc và cách viết nhanh, nên sẽ dễ truyền bá được sâu rộng và nhanh chóng trong dân chúng. Mở những lớp học chữ Quốc Ngữ cho cả con trai và con gái.

Chữ Quốc Ngữ dùng ký tự Latin – Ai Cập như của những nước Âu Mỹ thật sự đã được các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha sáng tạo qua hình thức dùng mẫu tự Latin – Ai Cập của họ từ thế kỷ thứ 16 để ghi lại những cách phát âm của người Việt và giúp cho chính những người thừa sai Catholic dễ dàng học hỏi ngôn ngữ tiếng Việt trước khi qua đây truyền đạo.

9 Dong kinh 4Sau này chính quyền thuốc địa Pháp vì rất muốn loại bỏ ảnh hưởng của Trung Hoa trên nền văn hóa Việt Nam với tiêu chuẩn Quân – Sư – Phụ để không còn Văn Thân, không còn Cần Vương nữa nên cũng đã cổ võ và khuyến khích việc học chữ Quốc Ngữ từ lâu. Một số các nhà tân học Việt Nam nhận thấy ưu điểm của cách viết tiếng Việt này nên đã bổ túc và phát triển thêm chữ Quốc Ngữ như của các ông Trương Vĩnh Ký với Gia Định Báo viết bằng chữ Quốc Ngữ, Huỳnh Tịnh Của với Việt Nam Quốc Âm Tự Vị (ấn bản 1885-1886) do người Pháp tài trợ; Và những báo bằng chữ Quốc Ngữ như Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhựt Báo Tỉnh (1905), Đại Việt Tân Báo (1905) đã được tuần tự xuất bản. Những sách như Chuyện Đời Xưa (1876), Chuyện Giải Buồn (1880) cũng đã được xuất bản bằng chữ Quốc Ngữ. Nhưng những cố gắng này đã không đạt được những ủng hộ mong muốn, vì số người biết đọc và biết viết chữ Quốc Ngữ trong giai đoạn này đã không có được nhiều !

Học sinh có đủ mọi lứa tuổi, từ đứa trẻ còn để chỏm đến anh thanh niên đã có gia đình, và nhiều khi mấy bố con cùng học chung một lớp.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã từng làm thông ngôn cho Pháp, và có được cơ hội tham dự Hội Chợ Marseilles (1906). Ông may mắn có cơ hội và đã học hỏi được cách thức điều hành, và cách làm việc của một tờ báo địa phương là tờ Le Petit Marseillais. Khi về trở lại Việt Nam, ông đã cố gắng áp dụng những điều học hỏi được vào việc điều hành cho các báo viết bằng chữ Quốc Ngữ. Ông hợp tác chặt chẽ với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục để dạy và phổ biến chữ Quốc Ngữ bằng các bài viết qua chủ trương của các báo như Đại Việt Tân Báo, Đăng Cổ Tùng Báo, và sau này là tờ Đông Dương Tạp Chí.

Đông Kinh Nghĩa Thục phổ biến các tài liệu giáo khoa, dịch thuật những truyện cũ, trước tác và chủ yếu dùng chữ Quốc Ngữ. Tuy nhiên cũng có một số được dùng chữ Hán Nôm, hay Pháp ngữ để dành thêm cho những người cựu học trong chiều hướng chuyển tiếp, hay tân học sau này. 9 Dong kinh 5Lợi dụng chính sách chủ trương loại bỏ văn hóa Hán Văn tại Việt Nam của chính quyền thuộc địa Pháp, các nhà chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục đã cho xuất bản các báo Đăng Cổ Tùng Báo, và Đại Việt Tân Báo. Dùng chữ Quốc Ngữ để phổ biến những bài thơ, những bài ca văn vần, và có thêm phần chữ Hán Nôm để hấp dẫn cho những người thuộc thế hệ văn hóa chữ Hán.

Tổ chức các buổi diễn thuyết, và bình văn về nhiều đề tài đã được trích dẫn trong các báo Đăng Cổ Tùng Văn và Đại Việt Tân Báo. Cổ võ và áp dụng thực nghiệp, mở các tiệm buôn để phát triển công thương, và làm tăng nguồn tài chánh cho phong trào.

Cụ Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng (Hiệu trưởng), và cụ Nguyễn Quyền làm giám học. Về tài chánh, khởi sự với các hội viên đã tự ý đóng góp bao nhiêu cũng được, và còn quyên góp thêm trong những chỗ quen biết có lòng hảo tâm.

4/- Tổ chức: Trường được chia làm bốn ban hoạt động:

a/- Ban giáo dục Khai trí: Trường được mở ra theo mẫu mực trường Keio-Gijuku của Fukuzawa Yukichi bên Nhật, chủ trương thực hành và không coi trọng về việc thi cử. Sau này trường chia các lớp thành ba ban: tiểu, trung và đại học. Tuy nhiên, mặc dù trường được chia ra như vậy nhưng trên thực sự thì chương trình học không được phân chia ra rõ ràng. Tiêu chuẩn thì ban tiểu học để dạy những người mới học quốc ngữ, ban trung học và đại học để dạy cho những người lớn đã thông hiểu chữ Hán hoặc muốn học thêm chữ Pháp. Trường chưa có một hệ thống hay chương trình rõ ràng, hay những sách giáo khoa căn bản dùng để giảng dạy. Tùy theo trình độ hiểu biết của học sinh mà sắp thành từng lớp, vì vậy trong một lớp tuổi của các học sinh cũng không đồng đều. Lối dạy của trường là cốt dạy những điều thực dụng cho học sinh để đào tạo họ thành những người có đầu óc thực tiễn ngược hẳn với lối học từ chương và bảo thủ của Nho học. Lối học từ chương cho văn khoa thi cử đã được loại bỏ hẳn. Tứ thư, Ngũ kinh vẫn còn được dùng để giảng dạy, nhưng đã được giảng theo một tinh thần mới. Những sách duy tân của các ông Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu được đem ra bàn thảo nhiều nhất.

9 Dong kinh 6Phần Việt văn và Pháp văn do các nhà tân học đảm nhận như các ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Trần Đình Đức, Bùi Đình Tá, Phạm Đình Đối, Hoàng Trọng Phu…

Phần Hán văn có các cụ Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí…

Tài liệu giáo khoa, về Hán học, thì học tân thư của Trung Hoa và của Nhật Bản. Sách học Quốc ngữ được tự soạn bởi các giáo viên về cách thức tập đọc, tập viết chữ Quốc Ngữ, và những kiến thức cơ bản về đất nước, về địa lý, về lịch sử Việt Nam.

b/- Ban tài chính: Phụ trách phần tài chính do cụ Lê Đại đảm nhiệm. Ban đầu, nguồn kinh phí của trường được dựa vào các khoản ủng hộ, đóng góp của các hội viên, và những người hảo tâm yêu nước, cũng như các khoản đóng góp tự nguyện của học sinh. Sau có thêm nguồn tài lực từ các tiệm buôn của phong trào. Mấy tháng đầu tiên, các giáo sư tự nguyện dạy không ăn lương, nhưng mấy tháng sau khi tình hình tài chánh đã tương đối được dồi dào, thì có lương.

c/- Ban cổ động diễn thuyết và bình văn: Ban này chịu trách nhiệm điều hành và nội dung của hai tờ báo Đăng Cổ Tùng Báo, và Đại Việt Tân Báo. Đây là những cơ quan ngôn luận của trường, viết các bài viết tuyên truyền cho các cải cách về xã hội, bài trừ hủ tục, vận động nhớ đến ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 hàng năm, sử dụng chữ Quốc Ngữ làm căn bản.

Ban này cũng thường xuyên tổ chức các buổi diễn thuyết, và bình văn tại trường vào các tối mồng một và ngày rằm Âm Lịch hàng tháng. Trong các buổi diễn thuyết, diễn giả thường bình luận các bài đã được in trên Đăng cổ Tùng báo, và Đại Việt Tân báo; hoặc nói chuyện về các đề tài lịch sử, như về cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, về sự nghiệp của Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ Gearge Washinton v.v…

d/- Ban trước tác: Nhằm mục đích truyền bá tư tưởng mới cho dân chúng, trường đã tự soạn lấy sách giáo khoa bằng chữ Quốc Ngữ, và lập ra ban Tu thư chia làm hai ngành: ngành soạn thảo được giao cho các cụ Phạm Tư Trực (người làng Hành Thiện), Dương Bá Trạc, Lương Trúc Đàm, Phương Sơn; và ngành dịch thuật được giao cho các cụ: Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Hoàng Tích Phùng. Tuy nhiên, chương trình hoạt động và tổ chức phân công chưa được vạch ra rõ ràng. Giáo sư dạy môn nào thì thường phải tự soạn bài giảng dạy cho môn đó, mỗi bài dài khoảng độ vài trang, và thường trình bày về một chủ đề rõ ràng.

Nhưng nội dung chung thì bài nào cũng được hô hào về lòng ái quốc, chí tự cường, và tinh thần duy tân, đổi mới tư duy. Ngoài ra các cụ còn dịch những sách báo của ngoại quốc theo chủ trương của trường. Sách giáo khoa sau khi được soạn xong, giao cho một tiểu ban in ấn, 9 Ng Van Vinh 1và được in ra hằng trăm bản để phát không cho học sinh cùng các trung tâm Đông Kinh Nghĩa Thục ở các nơi khác. Nhưng số sách của trường hiện tại bị thất lạc và không còn nhiều di tích.

5/- Để truyền bá tư tưởng duy tân, nhà trường phát hành nhiều sách giáo khoa như là Luân Lý Giáo Khoa Thư bắt đầu với câu: “Các môn học phổ thông, không môn nào là không cần thiết. Môn lý luận lại càng quan trọng, bởi vì nó là tinh hoa của quốc thể, nguồn gốc của giáo dục. Con em thanh niên ngày sau vào đời, tất đảm đang việc nước, có trách nhiệm về thế cuộc, nếu không trau dồi phẩm hạnh, thì tất cả các loại sách giáo khoa đều trở nên vô dụng hết…”. Sách Văn minh Tân học, Quốc dân độc bản: “… mà làm rõ cái lý tương quan giữa nước với dân, làm sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội ở chỗ nào, chức phận như thế nào và làm như thế nào để gây ý thức ái quốc, ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập…”, Nam quốc địa dư, Cải lương mông học Quốc sử Giáo khoa thư…

Các sách giáo khoa chữ Hán được in bằng bản gỗ, trên giấy lĩnh làng Bưởi như Nam Quốc địa dư, Nam Quốc vĩ nhân truyện, Quốc dân độc bản. Sách Quốc ngữ thì in bằng thạch bản, chủ yếu là những bài ca dễ đọc, dễ nhớ, đại loại như Kêu hồn nước, Á Tế Á, Đề bỉnh quốc dân, Thiết diễn ca…

Tuy số sách của phong trào đã bị thất lạc. Nhưng những bài ca xuất phát từ phong trao đã được nhiều người cùng thời học thuộc lòng và được truyền lại tới ngày nay. Nổi bật là là Hải Ngoại Huyết Thư được cụ Lê Đại dịch ra từ bài của chí sĩ Phan Bội Châu. Nhờ vậy bài thơ này đã được lưu hành rộng rãi và truyền bá khắp nước Việt Nam, và là nguồn cổ vũ cho những phong trào yêu nước vào đầu thế kỷ 20.

Trích Hải Ngoại Huyết Thư, Phan Bội Châu, Lê Đại dịch :….

9 Dong kinh 8Tiện đây thưa cật mấy lời,

Lại xin tỏ giãi cùng người quốc nhân :

May người nước lâu dần hối ngộ,

Đem lời này khuyên nhủ cùng nhau:

Nước ta mất bởi vì đâu?

Tôi xin kể hết mấy điều tệ nhân:

Một là vua sự dân chẳng biết,

Hai là quan chẳng thiết gì dân,

9 Dong kinh 10Ba là dân chỉ biết dân,

Mặc quân với quốc, mặc thần với ai.

Nghìn, muôn, ức, triệu người chung góp,

Gây dựng nên cơ nghiệp nước nhà,

Người dân ta, của dân ta,

Dân là dân nước, nước là nước dân.

….

Không chỉ dịch thơ, các nhà nho trong phong trào còn sáng tác những bài thơ yêu nước như cụ Nguyễn Quyền có bài Cắt tóc, Chiêu hồn nước, … Ngoài những bài thơ do các nhà nho sáng tác, những bài thơ khuyết danh cũng là nguồn cảm hứng yêu nước cho nhân dân và cổ vũ duy tân. Ví dụ như Á Tế Á, Vợ khuyên chồng, Khuyên con,…

Tuy nhiên có bài thơ nổi bật nhất, và có tầm mức ảnh hưởng lớn đương thời là bài Thiết tiền ca của cụ Nguyễn Phan Lăng, biệt hiệu là Đoàn Xuyên. Bài này đã được dùng thể song thất lục bát, là một thể thơ rrất đặc thù của người Việt Nam, dễ đọc, dễ nhớ, và nội dung chua xót và đầy phẫn uất nhưng rất thực lòng :

9 Dong kinh 9Trời đất hỡi ! dân ta khốn khổ,

Đủ trăm đường thuế nọ thuế kia,

Lưới vây chài quét trăm bề

Róc xương, róc thịt còn gì nữa đâu

Chợt lại thấy bắt tiêu tiền sắt

Thoạt tai nghe bần bật khúc lòng!

Trời ơi có khổ hay không?

Khổ gì bằng khổ mắc trong cường quyền

Lấy mẹo lừa giết hết chúng ta

Bạc vào đem sắt đổ ra,

Bạc kia thu hết sắt mà làm chi ?:…

Bài thơ được truyền tụng rộng rãi, từ chốn thị thành đến vùng thôn quê, và không ai chịu dùng tiền sắt nữa. Chính phủ Pháp ra lệnh bắt giam một số người vi phạm, nhưng càng đàn áp, dân chúng lại càng nghi kỵ, và có nơi gần như bãi thị. Tiền phát cho quan lại, họ miễn cưỡng nhận, khi mang về giao lại cho vợ con; Vợ con họ đem ra chợ tiêu thì không được, tình hình hết sức nghiêm trọng, và chính quyền thực dân Pháp đã phải chịu thua, chịu thu hồi tiền sắt về.

6/- Qua gần 09 tháng hoạt động, Đông Kinh Nghĩa Thục đã nuôi dưỡng được một phong trào cách mạng công khai, hợp pháp và khá sôi nổi, nhưng quyết liệt trong lĩnh vực đổi thay về văn hoá và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ và tư bản thực tiễn trong dân chúng. Đó cũng là một cuộc chuẩn bị về tinh thần, về tư duy cho dân tộc, tư tưởng về dân chủ về tự do.

Đông Kinh Nghĩa Thục với các nhà nho có tinh thần duy tân, và các nhà tân học yêu nước đã chủ trương quảng bá chữ Quốc ngữ, sử dụng trong việc giảng dạy, biên soạn, dịch thuật, và sáng tác. Chữ Quốc ngữ đã nhanh chóng được sự chấp nhận và hưởng ứng của quần chúng, và do đó chữ Quốc Ngữ đã được thâm nhập và phổ biến vào nhiều lĩnh vực trong xã hội, và ngày càng được cải tiến để trở thành chữ viết của cả dân tộc Việt Nam ngày hôm nay. Hoạt động chấn hưng thương nghiệp và hành động kinh doanh thực tiễn của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục khởi xướng cũng đã góp một phần nào vào việc thúc đẩy cho một nền kinh tế tư bản cạnh tranh, để bước ra khỏi nền kinh tế “hàng sáo” và ngành nghề “gia truyền” của dân ta ngày nào.

Tr Vinh Ky 1Với phạm vi hoạt động ngày càng lan xa, ảnh hưởng rộng rãi trong dân chúng, Đông Kinh Nghĩa Thục đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, yêu nước, và có thể sẽ trở thành một nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp; Do đó, vào tháng 12 năm 1907 chính quyền thực dân Pháp chính thức thu hồi giấy phép hoạt động, và đóng cửa Trường.

Đông Kinh Nghĩa Thục tuy chỉ hoạt động được có gần 09 tháng (từ tháng 03 đến tháng 12 năm 1907), nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã đóng góp một phần lớn trong việc làm thay đổi tư tưởng từ Nho học qua Tân học để canh tân đất nước của giới sĩ phu trong nước vào đầu thế kỷ thứ 20. Sau vụ bãi công chống thuế tại Trung kỳ (vào tháng 3 năm 1908), và vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội (vào tháng 6 năm 1908), chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp đã quy trách nhiệm cho những sĩ phu duy tân có liên quan đến phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Họ đã thẳng tay đàn áp, và bắt bớ hầu hết những người cầm đầu hay giáo sư của Đông Kinh Nghĩa Thục; giải tán các hội buôn, đóng cửa Đăng Cổ Tùng Báo, cấm diễn thuyết, cấm tụ họp nói chuyện với đám đông, cấm lưu hành và tàng trữ các tác phẩm của nhà trường. Nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục đã gieo được mầm mống duy tân, và ảnh hưởng sâu rộng trong dân chúng, và những ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục không phải bị chấm dứt ở đó mà còn mãi được tiếp tục sau này.…

7/- Muốn thay đổi từ hệ tư tưởng thủ cựu sang duy tân, đổi mới là một việc làm rất khó khăn. Những suy nghĩ, những sinh hoạt hàng ngày của từng người, từng gia đình đã trở thành một nếp sống cứng ngắc đầy khuôn phép, cho đến phép vua cũng còn phải thua cả lệ làng! Người ta quen rồi và sợ thay đổi; bứt phá ra khỏi những thói quen, những nề nếp cũ là những điều thật ngại ngùng và rất đáng sợ hãi. Trong quyển Quốc Dân Độc Bản của Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đã nêu lên vấn đề này: Phép tắc cũ truyền đời nọ sang đời kia lâu ngày thành nếp. Mặt, mũi, tay, chân đã quen thuộc qúa rồi, nay thay đổi thì mọi cái đều lạ lẫm, tất nhiên không ai muốn như vậy.“

Tóm lại, Đông Kinh Nghĩa Thục tuy không tồn tại được bao lâu, nhưng những người chủ trương đã thành công trong việc thổi một luồng gió mới đến những nhà Nho cựu học ở khắp nơi, cũng như riêng tại làng Hành Thiện. Họ đã đẩy mạnh được con thuyền tư tưởng đổi mới của người Việt cũng như của những thanh niên Hành Thiện và nhất là gia đình của họ thời đó để vững bước tiến lên trên bước đường duy tân của cá nhân và của cả đất nước sau này.

9 Dong kinh 78/-  Chữ Quốc Ngữ: Xin trích một đoạn từ chương Những Người Đi Biển, trong tập bút ký “Đường Xa Nắng Mới” của BS Nguyễn Tường Bách :

“Đầu thế kỷ thứ 17 các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lại đến Việt Nam một lần nữa và lần này họ thành công. Dòng Tên chính thức được thành lập ở Đàng Trong năm 1615. Đàng Ngoài năm 1627. Trong giới giáo sĩ dòng Tên người Bồ có một nhân vật xuất sắc, đóng một vai trò lịch sử trong nền văn hóa Việt Nam, đó là Francisco de Pina. Pina sinh năm 1585, đến Macau năm 1613, đặc biệt rất giỏi tiếng Nhật. Năm 1617 ông đến Đàng Trong truyền giáo và bắt đầu dịch một số văn bản của Ki Tô giáo ra tiếng Nôm, một thứ chữ Hán được bản địa hóa. Thế nhưng Pina nhận thấy các nhà truyền giáo đồng nghiệp có một khó khăn trầm trọng, đó là họ không sao học được chữ Nôm. Chàng linh mục trẻ tuổi Pina thấy chữ Nôm không thể là phương tiện giao lưu với người bản xứ, ông nghĩ ra một cách đơn giản. Ông thử lắng nghe người Việt phát âm ra sao rồi dùng mẫu tự La Tinh để diễn tả âm tiết theo cách mà tiếng Bồ Đào Nha thường làm. Đó là thời điểm khai sinh của chữ quốc ngữ chúng ta ngày nay. Theo lời xác nhận của chính Pina, kể từ năm 1622, ông đã xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự La Tinh cho hợp với thanh điệu và lối phát âm của tiếng nói Viet Nam. Pina cũng soạn cả một tập văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới mẻ này. Có lẽ trên thế giới không có nơi nào có một thứ chữ viết được hình thành trong điều kiện như thế.

Năm 1624 Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác. Trong số người đến học với ông có hai vị quan trọng, một người đã lớn tuổi là António de Fontes (1569 -?), sinh tại Lisboa. Vị kia chính là Alexandre de Rhodes (1591-1660), sinh tại Avignon, Pháp. Hai vị này lãnh hai trọng trách, de Fontes là trụ cột cho giáo xứ truyền giáo ở Đàng Trong, còn de Rhodes sẽ ra Đàng Ngoài vào năm 1626, lúc đó trong thời kỳ của Chúa Trịnh Tráng. Một ngày nọ trong tháng 12 năm 1625, một chiếc tàu của Bồ Đào Nha bỏ neo ở vịnh Đà Nẵng, Pina lên tàu để mang hàng hóa vào bờ. Khi đến bờ chẳng may thuyền chìm, Pina chết tại đó, ông chỉ sống được 40 tuổi.

Sau cái chết bi thảm của Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục xây dựng chữ quốc ngữ mà hai nhân vật có công nhất chính là hai người Bồ, Gaspar de Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647). Còn Alexandre de Rhodes thì bị chúa Trịnh Tráng trục xuất năm 1630, phải đi Macau. Mười năm sau, năm 1640 de Rhodes trở lại Đàng Trong và đến năm 1645 bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. De Rhodes trở về La Mã và năm 1651 ông cho xuất bản tập tự điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh (Dictionarium annamiticum seu tunquinense lusitanum et latinum).

Trong các đời sau, nhiều người tôn Alexandre de Rhodes là người sáng tạo chữ quốc ngữ nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.

Một tình cờ của lịch sử đã đưa các vị giáo sĩ Bồ Đào Nha phát minh ra một loại chữ viết cho cả một dân tộc xa lạ, trong đó họ buộc phải dùng mẫu tự và âm tiết của ngôn ngữ mình để diễn tả một tiếng nói khác, vốn mang đầy thanh âm trầm bổng như tiếng chim. Mục đích ban đầu của chữ quốc ngữ là để cho các nhà truyền giáo nói được tiếng Việt và giao tiếp với cộng đồng tôn giáo của mình bằng chữ viết. Về sau, khi các nhà cai trị người Pháp đến Việt Nam, họ cũng không kham nổi chữ Hán lẫn chữ Nôm. HNg Ng Van De 2Giải pháp thuận tiện của người Pháp là buộc mọi người Việt Nam phải sử dụng chữ quốc ngữ và có lẽ đó cũng là lý do tại sao vai trò của Alexandre de Rhodes được nêu bật.

Từ 1930 chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của người Việt.“

Nguyễn Văn Đệ

Những sách tham khảo:

1/- Làng Hành Thiện thời Tây học, tác gỉa Đặng Hữu Thụ tự xuất bản, 1999 Menlo, France.

2/- Wikipedia mở

3/- Văn Thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1997

4/- Đường Xa Nắng Mới, Nguyễn Tường Bách, Hội Nhà Văn VN

Logo thu gian 2

Tr Tre con 12Liều mình

Một học sinh đi chơi về tuyên bố với cả phòng :

– Cuối cùng rồi cũng có người con gái dám liều mình vì tao.

Cả phòng nhao nhao :

– Ai vậy mày, nhỏ nào nói nghe coi ?

– Nhỏ Hồng bên lớp sử chứ ai !

– Nhỏ nói gì với mày ?

– Nhỏ nói “Yêu ông ư ? Tui thà nhảy lầu còn hơn”.

Tại sao Ế

– Ế đang là một xu thế của quốc tế trong khi nền kinh tế rất chi lề mề và trì trệ, còn lạm phát thì cao hơn điện thế.

– Ế là phong cách sống của các con người tinh tế và các bậc vai vế, chỉ thích ngồi trên ghế, nhâm nhi cafe, chơi đế chế hoặc nghịch dế.

Lan caysu chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (7)

Logo tai lieu

9 Giao duc 1NHÌN LẠI TIẾN TRÌNH

GIÁO DỤC Ở MIỀN NAM

Từ năm 1917, chính quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc, và cả Lào cùng Campuchia. Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc : tiểu học, trung học, và đại học. Chương trình học là chương trình của Pháp, với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáo dục ở Việt Nam, dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính, tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ phụ. Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945, chương trình học của Việt Nam – còn gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời chính phủ Trần Trọng Kim – được đem ra áp dụng ở miền Trung và miền Bắc.

Riêng ở miền Nam, vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950. Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa thì chương trình Việt mới được áp dụng ở miền Nam để thay thế cho chương trình Pháp. Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo thực sự của mình.

Ngay từ những ngày đầu hình thành nền đệ nhất Cộng Hòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đã xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu trả lời cho những vấn đề giáo dục cốt yếu. Những vấn đề đó là : triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập, và tổ chức quản trị.

Nhìn chung, người ta thấy mô hình giáo dục ở Miền Nam Việt Nam trong những năm 1955 – 1975 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng của Pháp vốn chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội và có khuynh hướng thiên về lý thuyết,9 Giao duc 2 để chấp nhận mô hình giáo dục Hoa Kỳ có tính cách đại chúng và thực tiễn.

Năm học 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa có một phần năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học trong các cơ sở giáo dục. Con số này bao gồm 3.101.560 học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trunghọc, và 101.454 sinh viên đại học; số người biết đọc biết viết ước tính khoảng 70% dân số. Đến năm 1975, tổng số sinh viên trong các viện đại học ở miền Nam là khoảng 150.000 người (không tính các sinh viên theo học ở Học viện HCQG và ở các trường đại học cộng đồng).

Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm (từ 1955 đến 1975), bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh và những bất ổn chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7-7,5% cho giáo dục), nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng góp vào việc xây dựng quốc gia 9 Giao duc 3và tạo được sự nghiệp vững chắc ngay cả ở các quốc gia phát triển.

Kết quả này có được là nhờ các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có ý thức trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, đã sống cuộc sống khiêm nhường để đóng góp trọn vẹn cho nghề nghiệp, nhờ nhiều bậc phụ huynh đã đóng góp công sức cho việc xây dựng nền giáo dục quốc gia, và nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở Miền Nam Việt Nam.

GIÁO DỤC TIỂU HỌC :

Bậc tiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thời Đệ Nhất Cộng Hòa gọi là lớp Năm đến lớp Nhất). Theo quy định của hiến pháp, giáo dục tiểu học là giáo dục phổ cập (bắt buộc). Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đã có luật quy định trẻ em phải đi học ít nhất ba năm tiểu học. Mỗi năm học sinh phải thi để lên lớp. Ai thi trượt phải học “đúp”, tức học lại lớp đó. Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Học sinh tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần. Theo quy định, một ngày được chia ra 2 lớp học; lớp buổi sáng và lớp học buổi chiều.

Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, chiếm hơn 80% tổng số thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi; 5.208 trường tiểu học (chưa kể các cơ sở ở Phú Bổn, Vĩnh Long và Sa Đéc).

9 Giao duc 4Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để bắt đầu bậc tiểu học. Phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại các trường tiểu học tư thục.

Lớp 1 (trước năm 1967 gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong đó 9,5 giờ môn Quốc văn; 2 giờ Bổn phận công dân và Đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục). Lớp 2 (trước năm 1967 gọi là lớp Tư), Quốc văn giảm còn 8 tiếng nhưng thêm 2 giờ Sử ký và Địa lý. Lớp 3 trở lên thì ba môn Quốc văn, Công dân và Sử Địa chiếm 12-13 tiếng mỗi tuần.

Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba tháng hè. Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ (thông thường vào những ngày áp Tết).

GIÁO DỤC TRUNG HỌC :

Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng Hòa có hơn 550.000 học sinh trung học, tức hơn 20% tổng số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18; có 534 trường trung học (chưa kể các cơ sở ở Vĩnh Long và Sa Đéc).

9 Giao duc 5

Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học sinh ở các trường trung học công lập. Các trường trung học công lập nổi tiếng thời đó có Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trưng Vương, Gia Long, Trần Lục, Mạc Đỉnh Chi (Sài Gòn – Chợ Lớn) Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ trường kỹ thuật vừa học chữ vừa học nghề. Hồ Ngọc Cẩn, Lê Văn Duyệt (Gia Định). Quốc Học (Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Thanh Giản (Cần Thơ)…

Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác.

Tên gọi năm lớp bậc tiểu học (trước và sau 1975) : lớp năm (lớp 1), lớp tư (lớp 2), lớp ba (lớp 3), lớp nhì (lớp 4), lớp nhất (lớp 5)

Tên các lớp bậc trung học đệ nhất cấp (trước và sau 1975) : lớp đệ thất (lớp 6), lớp đệ lục (lớp 7), lớp đệ ngũ (lớp 8), lớp đệ tứ (lớp 9) thi trung học Đệ nhất cấp. Nếu đậu…

Tr Thay tro 3Tiếp tục học đệ nhị cấp (trước và sau 1975) : lớp đệ tam (lớp 10), lớp đệ nhị (lớp 11) thi Tú Tài I, nếu đậu tiếp tục học lớp đệ nhất (lớp 12) thi Tú Tài II. Sau 1970 chỉ còn một khoa thi Tú Tài toàn phần cho các lớp Đệ nhị cấp. Nếu đậu Tú Tài II hay Tú Tài Toàn phần mới thi vào các phân khoa Đại học

Tỷ lệ đậu Tú tài I (15-30%) và Tú tài II (30-45%), tại các trường công lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vào lớp 6 rồi. Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học là một chuyện khó. Thí sinh đậu được xếp thành: Hạng “tối ưu” hay “ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinh đậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn miền Nam chỉ một vài em đậu hạng này, có năm không có; hạng “ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”(14/20); “bình thứ” (12/20), và “thứ” (10/20).

Một số trường trung học chia theo phái tính như ở Sài Gòn thì có trường Petrús Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định) và các trường Quốc học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Võ Tánh (Nha Trang), Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) dành cho nam sinh và các trường Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), Trường Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) chỉ dành cho nữ sinh.

Học sinh trung học lúc bấy giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thì áo dài trắng, quần trắng hay đen; còn nam sinh thì mặc áo sơ mi trắng, quần màu xanh dương.

Trung học tổng hợp:

Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh: comprehensive high school) là một chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewey,sau này được nhà giáo dục người Mỹ là James B. Connant hệ thống hóa và9 Giao duc 6 đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ Giáo dục trung học tổng hợp chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa chính phủ cho thử nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất và đệ nhị cấp lại với nhau. Học trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức (khai giảng niên khóa đầu tiên vào tháng 10 năm 1965) ,sau đó mở rộng cho một số trường như Nguyễn An Ninh (cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, Quận 10) và Sương Nguyệt Ánh (cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và Vĩnh Viễn, gần chùa Ấn Quang) ở Sài Gòn, và Chưởng Binh Lễ ở Long Xuyên.

CÁC VIỆN ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

Viện Đại Học Sài Gòn : Tiền thân là Viện Đại Học Đông Dương (1906), rồi Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam (1955)– còn có tên là Viện Đại học Quốc gia Sài Gòn. Năm 1957, Viện Đại học Quốc Gia Việt Nam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn. Đây là viện đại học lớn nhất nước.

Trước năm 1964, tiếng Việt lẫn tiếng Pháp được dùng để giảng dạy ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếng Việt mà thôi theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm 1955. Riêng Trường Đại Học Y Khoa dùng cả tiếng Anh.

9 Giao duc 7

Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinh viên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở Viện Đại học Sài Gòn.

Viện Đại Học Huế : Thành lập vào tháng 3 năm 1957 với 5 phân khoa đại học : Khoa học, Luật, Sư phạm, Văn khoa, và Y khoa.

Viện Đại Học Cần Thơ : Thành lập năm 1966 với 4 phân khoa đại học : Khoa học, Luật khoa & Khoa học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa.

Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức : Thành lập năm 1974. Tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957), Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972).

9 Giao duc 8Hệ thống giáo dục thời VNCH gồm tiểu học, trung học, và đại học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công lập, dân lập, và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ chức quản trị từ trung ương cho tới địa phương.

Chú thích ảnh :

Hình1: Một buổi lễ khánh thành tượng Petrus Ký trong khuôn viên (công viên 30/4 hiện tại), nằm trên đường Boulevard Norodom – (Đại Lộ Thống Nhất trước Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà). Hình 2: Hàng đầu bên trái ông Nguyễn Đăng Trình Bộ trưởng Bộ QG Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Huế đầu tiên (tháng 3/1957-7/1957). Giữa Tổng thống Ngô Đình Diệm, bên phải Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế từ 7/1957-1965.

Hình 3: Thầy cô giáo (Giáo sư) thời VNCH

Hình 4: Cảnh giờ rước học sinh tan trường. Hình 5: Mặt tiền của Viện Đại Học Sài Gòn (Số 3 Công Trường Chiến Sĩ – Hồ con rùa)

Tr Thay tro 2Hình 6: Sinh viên đại học Dược Khoa Sài Gòn gói bánh chưng để đem giúp đồng bào miền Trung bị bão lụt năm Thìn 1964. Hình 7: Bích chương của Sở Giáo Dục – Bộ Y Tế VNCH. Hình 8: Thanh nữ Việt Nam Cộng Hòa

Hình 9: Một lớp tiểu học ở miền Nam vào năm 1961. Hình 10: Học sinh lớp Nhất, lớp Nhì hồi xưa – ( Lớp Bốn lớp Năm bây giờ ).

Hình 11: Giờ sinh hoạt của toàn trường thời bấy giờ.

Hình 12: Các vị Giáo Sư trường Hồ Ngọc Cẩn. Hình 13: Thầy trò trường nữ Gia Long

Hình 14: Nữ sinh Lê Văn Duyệt. Hình 15: Một lớp thử nghiệm hoá chất tại trường Petrus Ký. Hình 16: Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn.

Hình 17: Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (cầm đàn) trong một buổi sinh hoạt của nhóm Du Ca với các học sinh trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức vào cuối thập niên 1960

Logo tam su 2

Tr thay tro 1NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY

MÀ ĐAU ĐỚN LÒNG

Như quý độc giả đã biết : Suốt trong thời gian qua, hàng năm, cứ mỗi lến đến  tháng Tư, người viết lại viết về những tang thương và nước mắt kể từ sau ngày 30/4/1975. Nhưng năm nay, người viết lại thấy những điều khác, mà có thể nhiều người cũng thấy không kém phần đau lòng.

Đó là, những thảm cảnh của xã hội hiện nay. Một xã hội đã băng hoại. Băng hoại ngay từ căn cội trong gia đình, trường học, rồi từ đó, đã lan rộng thành một xã hội thiếu vắng đạo đức, thương luân, bại lý !

Gia đình và học đường là nơi tôi luyện những trẻ em ngay từ lúc mới bước vào lớp vỡ lòng, cho đến cuối năm lớp nhất của bậc Tiểu học, mà mọi người đã thấy qua một số hình ảnh về chương trình Giáo Dục của VNCH; nhất là vào thời Đệ nhất Cộng Hòa, dẫu không được đầy đủ.

Ngày ấy, tất cả học sinh từ lớp Tư, lớp Ba (lớp Hai, lớp Ba), đều đã được học bài Đức Dục – Công Dân Giáo Dục… Riêng những bài Đức Dục, là chính sách của nền giáo dục ngày xưa. Những bài Đức Dục ấy, đã giáo dục những trẻ thơ, như “uốn” những cây măng, trước khi trở thành những cây tre tươi tốt.

9 Tam su 1Tiên học lễ hậu học văn. Là câu Cách Ngôn luôn luôn được trân trọng để trên cao ngay trước mặt lớp học. Ngoài ra, còn có những câu khác cũng được sơn, hoặc dán hai bên tường của lớp học như :  Kính trên nhường dưới – Kính thầy, quý bạn – Học thầy không tầy học bạn… Đức Dục, là bài học đã rèn luyện cho trẻ em những điều cần phải làm như lúc ở trường, mỗi khi đứng trước cô thầy, các học sinh đều đứng nghiêm chỉnh, vòng tay trước ngực, thưa trình; đối với bạn, luôn luôn quý mến và giúp đỡ nhau…

Còn lúc ở nhà, thì Đức Dục dạy các học sinh đối với Cha Mẹ, anh chị phải “Đi thưa về trình”. Mỗi lần đi ngang trước mặt người lớn phải cúi đầu, khi Cha Mẹ tiếp khách không được ngồi nghe, nếu ngồi xa chỗ khách ngồi, thì không được ngồi quay lưng lại, không được hỏi chuyện với khách của Cha Mẹ mình ; khi ra ngoài đường thấy đám tang phải lập tức dừng chân ngả nón, mũ đứng trong tư thế trang nghiêm, kính cẩn, cúi đầu cho đến khi đám tang đã đi qua. Không bao giờ được phép đứng trước cửa nhà người khác nhìn vào. Không được nói những lời lẽ thô tục, không được vô lễ với bất cứ ai. Khi gặp người lớn, học sinh đều phải lễ phép chào kính. Khi nhặt được của rơi, phải đem trình thầy cô, để thầy cô tìm cách trả lại cho người bị đánh rơi…

Ngoài những giờ học, mỗi khi đi ra đường, thấy các cụ già yếu, người tàn tật phải dìu dắt băng qua đường, hay tránh những chỗ khó đi, gặp người bị nạn phải lập tức giúp đỡ… Những học sinh nào thực hành đúng như những điều đã học, sẽ được các thầy cô cho điểm tốt, hoặc ngược lại, sẽ bị ghi điểm xấu. (Điểm tốt được ghi bằng dấu cộng (+), điểm xấu bị ghi bằng dấu trừ (-). Những điểm tốt hoặc xấu này, mỗi Lục Cá Nguyệt sẽ được tính cứ mười điểm tốt được cộng thêm một (01) điểm trung bình, còn ngược lại, thì mười điểm xấu sẽ bị trừ mất một (01) điểm trung bình.

Hàng ngày các cô, các thầy luôn luôn nhắc nhở học sinh : “Có học phải có hành”. Và mỗi học sinh đều được phát cho một Thông Tín Bạ, là một cuốn sổ để ghi điểm của các môn học theo từng Lục Cá Nguyệt. Sau mỗi Lục Cá Nguyệt sẽ được xếp thứ hạng. Và ba học sinh đứng đầu lớp, sẽ nhận được một “Bảng Danh Dự”; ngoài những điểm của các môn học, trong Thông Tín Bạ còn có một cột :Tr thay tro 6 “Hạnh Kiểm của học sinh”. Ở cột này, các cô thầy sẽ phê vào: “Hạnh kiểm tốt” hay “Hạnh kiểm xấu”. Sau đó, bắt buộc học sinh phải đem Thông Tín Bạ về nhà cho Phụ Huynh ký vào, rồi đem trình cho các thầy cô biết.

Chính vì thế, những bài học Đức Dục, là môn học căn bản và cần thiết đối với học sinh ở bậc Tiểu Học, và là hành trang mang theo khi đã trưởng thành, dù đi vào các ngành nghề khác nhau, nhưng họ là những công dân hữu dụng, biết giữ đạo làm người, biết giữ liêm sỉ, lòng tự trọng…

Riêng với đời học sinh, cũng như vào một thời trẻ tuổi, người viết vẫn không bao giờ quên được những kỷ niệm của ba tháng Hè. Những dòng “Lưu Bút”, của bạn bè viết cho nhau, và những đôi mắt rưng rưng lệ, những đôi tay quyến luyến chào nhau trước giờ tạm biệt, để về quê với gia đình… Đặc biệt, vào mùa Hè cuối của bậc Trung học, là mùa Hè buồn nhất, vì sau kỳ thi Tú Tài, thì mỗi học sinh sẽ khó có thể gặp lại nhau; bởi có người sẽ đi theo tiếng gọi Non Sông, “xếp bút nghiên” lên đường tòng chinh, để rồi sau đó, họ sẽ dấn thân nơi sa trường, đối mặt với tử sinh trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật; có người sẽ theo học các ngành nghề khác nhau, mà ngày nay, chúng ta có thể tìm lại qua dư âm của những bài hát như: Ngày tạm biệt, Lưu bút ngày xanh, Nỗi buồn hoa phượng, Ba tháng tạ từ, Trường cũ tình xưa…

Thời ấy, học sinh không bao giờ dùng những lời thô lỗ, tục tằn với bất cứ ai, nên không có những chuyện đánh nhau, chửi nhau như hiện nay tại Việt Nam !

9 Tam su 2Và cũng chính những bài học Đức Dục này, đã rèn luyện cho các nam sinh sau khi trưởng thành, thì đa số, họ là những thanh niên, những  Quân Nhân, Công Chức… gương mẫu, lịch lãm… Còn phái nữ, dẫu học tới đâu chăng nữa, thì gần hết họ đều thùy mỵ, nhã nhặn, dễ thương, không bao giờ buông những lời nói thiếu lịch sự.

Về mặt tình cảm, thời ấy, các học sinh nam cũng như nữ, họ không bao giờ dám nói thẳng với nhau những lời yêu đương; nhất là đối với con gái, mà nói đến chữ “yêu”  lại là điều “khó nói” nhất cho đến khi vào các trường Đại học, thì họ mới có những chuyện tình lãng mạn hơn… Mà kể ra cũng thấy vui và nhớ, vì các “đấng mày râu nhí” này, cũng chẳng có gì gọi là “can đảm” đâu. Người viết vẫn còn nhớ, khi các “đấng” mà để ý một cô nào, thì họ chỉ biết viết thư “tỏ tình”, mà cũng chỉ dám viết bóng gió, xa gần, chứ có dám viết thẳng  ra “anh yêu em” bao giờ.

Song chưa hết, viết thư rồi, nhưng đa số các “đấng” cũng không dám trao tận tay các nàng, mà phải nhờ qua một bạn gái hay em gái nhỏ (chứ không dám nhờ em gái đã lớn) của nàng, được gọi là “chim xanh”, hoặc lén bỏ vào cặp, vào sách của các nàng. Và cả hai bên, đều nhờ qua cách này, để thư qua thư lại với nhau sau thời gian dài, cho đến một ngày cả hai thấy đủ “can đảm” để giáp mặt nhau, thì mới lén Cha Mẹ mời đi ăn kem, uống nước giải khát; nhưng họ vẫn chưa dám cầm tay nhau đâu; như quý độc giả đã thấy qua những hình ảnh cũ, mỗi lần ngồi ở phía sau xe, thì các cô đều ngồi nghiêng hẳn về một bên, và giữ một khoảng cách, để không va chạm vào lưng của “bạn trai”. Những hình ảnh ấy, là những hình ảnh đẹp nhất, của một thời vang bóng !

Trên đây, là một số ít về những kỷ niệm xa xưa. Đó là những thành quả của môn học Đức Dục. Vì chính những bài học Đức Dục đã “uốn” những “cây măng non” từ các lớp Tiểu Học, để sau này sẽ trở thành những cây tre tươi tốt, có thể đứng thẳng giữa đất trời, vượt qua những thử thách, khó gục ngã trước những cơn phong ba, bão tố…

9 Tam su 3Nay sau 39 năm, kể từ 30/4/1975; như mọi người đã thấy, là những hình ảnh của các nữ sinh ở lứa tuổi 15- 16-17, học chưa hết chương trình Trung học; nhưng đã dám ngồi “nhậu” chung với cả đám “bạn trai”, rồi say sưa, dẫn đến những chuyện đáng tiếc… Còn ngoài “bàn nhậu” nhiều học sinh đã dùng đến những lời lẽ thô lỗ, tục tằn để chửi nhau, có khi đánh nhau ngay trong sân trường. Thậm chí, có nhiều nữ sinh còn “yêu” những đàn ông đã có vợ con, để rồi trở thành tội phạm giết người, họ còn hạ nhục nhau, hãm hại nhau bằng nhiều cách, kể cả việc giết bạn bè nữa. Nhưng những điều đau lòng ấy, không phải chỉ xảy ra ở các em học sinh, mà ngay cả những ông “thầy giáo” còn tìm cách để hãm hại các em nữ sinh, trong số đó, có cả những nữ sinh ngây thơ, lại có “thầy giáo” đã đánh học sinh như đánh “nô lệ”, và ngược lại, cũng có những học sinh chửi mắng, hoặc  đánh cả thầy giáo. Những tệ nạn này, đã biến trường học trở thành “trường đời”, thầy trò đánh nhau như một băng đảng du côn !

Nói tóm lại, bởi không được Đức Dục căn bản từ thuở ấu thơ, nên khi lớn lên khó có thể trở thành những con người hữu dụng cho đất nước, mà đưa đến thảm trạng rất đau lòng cho gia đình và cả xã hội.

Dưới đây, là những tóm lược về nền Giáo Dục của miền Nam trước đây ;:

“Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng nền 9 Tam su 4giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.

– Nhân Bản: Giáo dục coi con người là cứu cánh, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người.

– Dân Tộc: Giáo dục tôn trọng giá trị của gia đình, quốc gia, phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, đạo đức Việt Nam.

– Khai Phóng: Giáo dục theo phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng giá trị các quốc gia khác.

Giáo dục thời VNCH có ba cấp như các nước trên thế giới là : Tiểu học, Trung học và Đại học.

Tiểu học bắt đầu từ lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì và lớp Nhất (lớp 1-2-3-4-5). Trẻ em từ 6 tuổi được cha mẹ ghi tên vào lớp, học miễn phí. Tuy lúc đó không có chủ trương cưỡng bách giáo dục, nhưng do phụ huynh có ý thức cao, vì thế, cho nên tất cả trẻ em hầu như đều học qua bậc tiểu học.

Chương trình học gồm các môn Việt Văn, Đức Dục, Công Dân, Việt Sử, Địa Lý, Khoa học thường thức, Toán, Vẽ, Thể dục, nữ công, gia chánh…

Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.

Kh giang hoThời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp”.

Những sách giáo khoa như đã nêu trên, giờ đây không còn nữa, nhưng giới trẻ có thể tìm lại một phần qua những bìa sách đã được các vị đưa lên hệ thống toàn cầu, để hiểu biết về một nền giáo dục, mà Đức Dục là môn học căn bản và cần thiết. (theoTrần Lệ Tuyền Paris, 30/4/2014)

Khách Giang Hồ (hiệu đính và chuyển tiếp)

Tr loi hay

TÌNH CA XỨ HUẾ

Logo que huong 1

2 O hue 1TÌNH CA XỨ HUẾ

Tinh Ca Xu Hue 

http://www.youtube.com/watch?v=JniZs79KdjM

Để hoàn chỉnh bộ ảnh về sông Hương, lão Trương Kongkong thuê đò đi ngược dòng từ bến thuyền du lịch, đằng sau khách sạn số 5 Lê Lợi, đi đến tận ngã ba Bằng Lẵng.

H1: Công viên bờ sông Trần Hưng Đạo. Vườn hoa trải dài từ cầu Trường Tiền đến cầu Dã Viên. Một bạn từ phương xa lần đầu đến Huế nhìn vườn hoa này đã thốt lên “Ồ, Huế rất xanh !”. H2: Xa xa là Nghinh Lương Đình và một chiếc thuyền cổ phục chế.” Nghinh Lương” là đón gió mát từ sông Hương. Đây cũng là bến cho các thuyền ngự – thuyền vua và các bà phi tần. Và những con thuyền có hai tầng gọi là”lâu thuyền”.

9 Xu Hue 1H3:Cầu Dã Viên mới (chưa đặt tên chính thức và đang trong giai đoạn hoàn thiện). Cầu có các nhà thủy tạ để khách du ngắm cảnh núi sông. H4:Cồn Dã Viên là một trong những yếu tố phong thủy quan trọng khi vua Gia Long chọn địa điểm xây dựng kinh đô. Cồn Dã Viên đóng vai trò ”hữu bạch hổ” trong khi cồn Hến đóng vai trò “tả thanh long” tượng trưng cho quần thần, dân chúng phò trợ cho triều đình. Trước đây trên cồn có vườn ngự, với đình, tạ, miếu, v.v. Ngày nay vườn xưa không còn dấu vết nhưng còn đó bài thơ Dữ Dã Viên ký của vua Tự Đức, ca ngợi thú điền viên.

Năm 1908 cây cầu bắc qua đây được đặt tên là cầu Dã Viên, nhưng dân gian thì căn cứ trên thuật phong thủy, gọi là cầu Bạch Hổ, mặc dầu tên Bạch Hổ được đặt cho cây cầu gần đó, bắc qua sông đào Kẻ Vạn, mà ngày nay được gọi là cầu Kim Long. Năm 1909 một nhà máy nước với tháp nước được xây dựng trên cồn Dã Viên. Có điều lạ là đoạn cầu phía bên phải tháp nước, thông ra quốc lộ 1 có biển ghi là cầu Bạch Hổ. Còn phần cầu bên trái tháp nước đổ xuống đường Bùi Thị Xuân thì một biển khác ghi là cầu Giã Viên !

H5:Cầu Kim Long bắc qua sông Kẻ Vạn, tức là Tây Hộ Thành Hà.

9 Xu Hue 2

H6:Kim Long, nơi có Đại Chủng Viện Huế, Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đan viện Carmel Huế, v.v. H7: Chùa Thiên Mụ là ngôi chùa cổ nhất ở Huế, được xây vào năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng.

Chùa nằm trên đồi Hà Khê, trên bờ bắc sông Hương. Tháp Phước Duyên 7 tầng, 21m, được xây vào năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị. Chùa còn có các công trình như điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm xây song song theo hình chữ NHẤT. Về sau các công trình trong đại nội như cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa cũng xây cùng một hướng với cá công trình chùa Thiên Mụ. Chùa được vua Thiệu Trị làm thơ ca tụng là một trong 20 thắng cảnh của đất kinh kỳ. Ngày nay tháp Phước Duyên được xem là biểu tượng của xứ Huế.

9 Xu Hue 3

H8: Ít người biết đây là dấu tích còn lại của Võ Thánh Miếu ở làng An Ninh Thượng, phía bắc của chùa Thiên Mụ, do vua Minh Mạng xây dựng năm 1835 để thờ các danh tướng như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Văn Trương. Ngoài ra còn thờ các danh tướng của Trung Quốc như Quản Trọng, Trương Lương, Hàn Tín, Khổng Minh, Quách Tử Nghi. Miếu bao gồm Chính Điện, hai nhà Tả Vu và Hữu Vu.

Năm 1836 vua cho dựng 3 tấm bia võ công, ghi chức tước, hành trạng của 10 võ tướng dưới triều Gia Long và Minh Mạng như Trương Minh Giảng, Phạm Hữu Tâm, Tạ Quang Cự, Nguyễn Xuân, v.v. Sau đó, vua Tự Đức cho dựng 2 tấm bia khắc tên những người đậu tiến sĩ võ các khoa thi năm 1865, 1868 và 1869.

9 Xu Hue 4

H9: Văn Thánh Miếu, gọi tắt là Văn Thánh, được xây trước Võ Thánh Miếu, cũng tại thôn An Bình, làng An Ninh Thượng, vào năm 1808, dưới thời vua Gia Long để thờ Khổng Tử và các học trò là những bậc thánh hiền của Nho giáo.H9: Linh Tinh Môn là phường môn hay cổng chào ở trước mặt Văn Thánh Miếu.

Đây là một công trình vừa được tôn tạo vào năm 2011, với nghệ thuật pháp lam độc đáo được phục hồi. Có hai câu đối, một mặt ghi Đạo Tại Lưỡng Gian và mặt kia ghi Trác Việt Thiên Cổ, ca tụng đạo Nho.

H10: Văn Miếu Môn, cổng vào Văn Miếu. H11:Đại Thành Môn, cổng vào Đại Thành Điện là điện thờ nhưng ngày nay không còn.

9 Xu Hue 5

H12:Hai dãy bia tiến sĩ, tổng cộng có 32 bia ghi tên 293 vị đỗ tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1822 dưới thời vua Minh Mạng cho đến năm 1919 dưới thời vua Khải Định. H13: Linh Tinh Môn, Văn Miếu Môn và Đại thành Môn nhìn từ sông Hương. H14: Đến địa phận làng Lương Quán, sông Hương “ôm cua” gần như 90 độ, khiến bên Lương Quán bờ sông được bồi một đoạn gần cả 100m – tha hồ để trồng trọt, nhất là bắp. Còn bên kia sông là làng Long Hồ thì bị lở.

9 Xu Hue 6

H15: Bãi bồi Lương Quán. H16: Bờ sông làng Long Hồ

Kế đến là làng Ngọc Hồ. Qua một khúc quanh nữa thuộc làng Hải Cát, thuyền bắt đầu đi vào vùng linh địa của xứ Huế (theo thuật phong thủy). Cũng phía bên phải bắt đầu xuất hiện núi Ngọc Trản với Ngọc Trản Sơn Tự mà sau này vua Đồng Khánh đổi tên thành Huệ Nam điện, còn dân gian thì gọi là điện Hòn Chén. Đây là nơi người Chàm đã dựng đền thờ nữ thần Po Nagar (mẹ xứ sở), là vị thần đã sinh ra đất cho chúng ta ở.

Người Việt sau khi tiếp nhận đất đai cũng tiếp tục thờ cúng thần của người Chàm. Đồng thời họ cũng lập miếu thờ hàng trăm vị thần khác, mà người ta tin tưởng là những vị cai quản rừng, núi, sông, đất đai, và rồi cả “quan binh” hầu cận các vị thần ấy.9 Xu Hue 7 Họ xin triều đình “công nhận” và sắc phong cho nữ thần có tên là Thiên Y A Na Ngọc Diễn Tôn Thần, gọi tắt là bà chúa Ngọc.

Cả vua Đồng Khánh cũng tin tưởng và nhận làm em bà chúa. Sau khi vua băng hà, nhà vua cũng được thờ ở đây.

Năm 1954, người ta phối tự Thánh mẫu Liễu Hạnh còn gọi là Vân Hương thánh mẫu từ ngoài Bắc vào thờ, cùng với Các Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thủy Phủ, v.v. và hình thành một tín ngưỡng mới gọi là Thiên Tiên Thánh Giáo. Hằng năm dân chúng, nhất là những người sinh sống, làm nghề trên sông nước và trong rừng, tụ hội về đây cúng tế. Lễ hội được tiến hành trên sông lẫn cả trên bộ (đưa ngài đến đình làng Hải Cát rồi rước về) vào tháng ba và tháng bảy âm lịch.

H17: Điện Hòn Chén ở lưng chừng ngọn núi Ngọc Trản (tức là chén ngọc) H18: Một miếu thờ ở điện Hòn Chén

H19: Minh Kính Đài. H20: Minh Kinh Đài thờ nhiều vị thần thánh theo tín ngưỡng dân gian, Đức Phật và cả Quan Công, 9 Xu Hue 8vị thần của người Hoa.

Bờ bên trái là đồi Vọng Cảnh. Cách đồi Vọng Cảnh không xa là lăng vua Tự Đức, Đồng Khánh, Thiệu Trị, lăng các bà hoàng hậu như lăng Hiếu Đông (Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, vợ vua Minh Mạng), lăng bà Từ Dụ (chính cung của vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức), lăng Khải Định.

H21: Đồi vọng Cảnh nhìn từ sông Hương

Cả khu vực này được gọi là Vạn Niên Cát Cục, nghĩa là khu đất tốt lành trong cả vạn năm. Đây là vùng đất để an táng các bậc vua chúa, quan lại hay dân thường không được phép chôn ở đây. Nhưng trên thực tế thì “cát cục” cũng không hề tốt lắm hay tốt tới vạn năm. Các vua chúa cũng đều nếm mùi thăng trầm, đau khổ chẳng kém lũ dân đen.

9 Xu Hue 9

Lăng Tự Đức do vậy được gọi là Vạn Niên Cơ, nhưng do những người xây lăng bị thúc ép làm việc vất vả đã nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Hữu Trục, đã đột nhập cung điện toan giết vua. Trong sách sử, vụ nổi dậy này được gọi là “giặc chày vôi” do những người này trang bị vũ khí bằng nhiều chày giã vôi, một loại vật liệu xây dựng. Vua Tự Đức sau này đã tự “kiểm điểm” và đổi tên lăng thành Khiêm Cung hay Khiêm Lăng.

9 Cau Hue 1H22: Nhà máy bơm nước Vạn Niên do người Pháp đã xây vào năm 1909 dưới chân đồi Vọng Cảnh.

Kiến trúc sư Bossard đã tham khảo các công trình xung quanh để thiết kế nhà máy giống như một lăng tẩm để hài hòa với vạn niên cát địa.

Từ trên sông có thể nhìn thấy lăng Cơ Thánh thuộc làng Cư Chánh, phường Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Lăng này còn gọi là lăng Cao Hoàng hay lăng Sọ, là lăng của Nguyễn Phúc Luân (còn gọi là Nguyễn Phúc Côn, cha của Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia Long). Ngài là con của chúa Nguyễn Phúc Khoát, được chọn để nối ngôi chúa, nhưng ông cậu là Trương Phúc Loan âm mưu giả chiếu chỉ để đưa Nguyễn Phúc Thuần, lúc ấy mới 12 tuổi lên làm chúa. Nguyễn Phúc Côn buồn rầu sinh bệnh mất vào năm 1765. Năm 1790 lăng mộ của Nguyễn Phúc Côn bị nhà Tây Sơn (Quang Trung) đào lên và vứt hài cốt xuống sông Hương. Có một người địa phương lén vớt được sọ và chôn lại. Sau khi vua Gia Long lên ngôi, người này trình báo và vua đã cho vớt cát sỏi một đoạn sông đắp lên bờ và lập lăng cho ngôi mộ sọ ấy. Đoạn bờ sông này ngày trước không ai trồng trọt, nhưng vài năm gần đây đã có trồng hoa màu.

H23: Lăng Cơ Thánh.

9 Xu Hue 10

H24: Nhà thờ giáo xứ Ngọc Hồ ở bờ sông bên phải. H25: Đình làng Hải Cát. H26: Cầu Tuần. Đò đi dưới cầu Tuần và rẽ phải sẽ gặp bến đò lăng Minh Mạng.

9 Xu Hue 11

H27: Hiển Đức Môn, cổng vào Sùng Ân Điện là ngôi điện thờ vua. H28: Bi đình, nơi có tấm bia Thánh Đức Thần Công ghi hành trạng, công lao của vua Minh Mạng. H29: Minh Lâu, nơi nhà vua ngắm trời đất để chiêm nghiệm lẽ đời

H30: Bửu Thành, mộ phần của vua Minh Mạng. H31: Ngã ba Bằng Lãng, còn gọi là ngã ba Tuần, nơi hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lại để thành dòng sông Hương.

Vùng đất giữa hai dòng dòng sông đó cũng là đất thiêng thuộc làng La Khê Trẹm, Kim Ngọc, Định Môn thuộc thị xã Hương Thủy. Nơi đây có lăng mộ của tất cả chín chúa Nguyễn và các bà hậu. Nhưng vào năm 1790 tất cả các lăng mộ ấy đều bị nhà Tây Sơn đào lên và vứt xác. Sau này vua Gia Long phải dùng gỗ dâu đẽo thành hình người 9 Xu Hue 12và chôn thay cho thi thể (về sau các vua Tây Sơn cũng bị đối xử tàn nhẫn tương tự)

Nhưng tính chất thiêng liêng của vùng đất có lẽ được thể hiện trong sự nghiệp của các chúa trong vòng 200 năm đã mở mang bờ cõi từ Qui Nhơn ở miền Trung cho đến trọn miền đất Nam bộ. Ngày nay, ngoài lăng Trường Cơ của chúa Nguyễn Hoàng, các lăng còn lại đã bị lãng quên và ở trong tình trạng hoang phế.

Lăng vua Gia Long cũng ở làng Kim Ngọc, nơi đó còn có mộ của hai bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu và nhiều bà hậu của các chúa. Triều Nguyễn truyền ngôi được cho 13 vua trong vòng gần 150 năm (1802-1945). Cho dù được chôn nơi cát địa và sống trong sự chúc tụng vạn tuế hoặc muôn năm, các vua cũng không sống lâu và đạt được mọi điều ước mong.

HNg Huynh V. Yen 3Vùng đất linh địa này biểu hiện rõ tính chất vô thường và khổ đau của cuộc đời – ai ai cũng chịu nhiều đổi thay, đau khổ mặc cho những nỗ lực coi ngày giờ để kết hôn, an táng, chọn đất đai để xây dựng lăng tẩm nguy nga tráng lệ, mặc cho tài sản lớn lao, mặc cho bao lời cầu nguyện, chúc tụng, lễ bái thánh thần. Vô thường và khổ đau mới thật là những điều linh thiêng, ứng nghiệm đối với tất cả mọi người. (theo Trương Văn Thanh – Trần Ngọc Bảo)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo bay gio ke

SG Xuan MaiBÍ MẬT NHỮNG CUỘC TÌNH ĐỒNG TÍNH

TRONG ĐỜI CÁC BẬC ĐẾ VƯƠNG

Thời nay, tình đồng tính đã không còn quá xa lạ. Nhưng trong xã hội Trung Quốc cổ đại, ngay cả những vị hoàng đế với quyền lực che lấp cả thiên hạ cũng vướng vào tình yêu gây không ít lời bàn tán này.

Và điều đặc biệt là những vị hoàng đế này có biết bao cung tần mỹ nữ tấp nập xung quanh mình nhưng vẫn vướng vào những cuộc tình đồng tính gây xôn xao dư luận.

Tình yêu của vua nước Vệ với hai chàng trai tuấn tú

Nhắc đến tình yêu đồng tính của các bậc hoàng đế thì mối tình của Vệ Linh Công là một trong những mối tình nổi tiếng nhất Trung Hoa cổ đại. 9 Dong tinh 1AThời Xuân Thu, vua nước Vệ là Vệ Linh Công đã đem lòng sủng ái một người đàn ông tên Di Tử Hà. Di Tử Hà sở hữu vẻ đẹp khôi ngô tuấn tú, thông minh, ông là họ hàng thân thích của Tử Lộ – một học trò giỏi của Khổng Tử.

Sử sách kể lại một số dẫn chứng về tình cảm mà Vệ Linh Công đã dành cho Di Tử Hà. Một ngày, Di Tử Hà vô cùng lo lắng khi nhận được tin mẹ lâm trọng bệnh. Ông vội vã lấy xe của Vệ Linh Công về thăm mẹ. Theo luật lệ lúc bấy giờ, nếu lấy trộm xe của vua phải chịu hình phạt chặt chân. Nhưng trái lại, khi Vệ Linh Công biết rõ sự tình, vua không những không giận mà còn lớn tiếng ca ngợi chàng là người hiếu thuận, vì mẹ sẵn sàng chịu nguy hiểm.

Một dẫn chứng khác đó là lần Di Tử Hà theo Vệ Linh Công đi tản bộ trong vườn hoa. Khi thấy một quả đào trên cây đã chín, ông liền hái xuống ăn ngon lành ngay trước mặt vua. Sau đó, Di Tử Hà mới đưa trái đào đã cắn dở cho vua ăn. Vệ Linh Công vừa thưởng thức đào vừa khen người tình : “Khó mà có được tấm lòng trung như ái khanh”.

Chỉ một sự việc nhỏ trên nhưng sau đó rất lâu, hễ gặp ai Vệ Linh Công đều khoe rằng Di Tử Hà rất yêu quý mình, một quả đào ngon cũng chia cho vua ăn cùng.

Nhưng rồi thời gian qua đi, Vệ Linh Công sinh ra chán ghét đối với Di Tử Hà. Sau đó, vị vua nước Vệ này lại sủng ái một người đàn ông khác là đại phu Công Tử Triều. Cũng vì dung mạo khôi ngô xuất chúng mà Công Tử Triều được vua Vệ Linh Công sủng hạnh, tự do ra vào cung cấm, gây không ít lời bàn tán trong cung. Tuy nhiên, 9 Dong tinh 1BCông Tử Triều không dành tình yêu duy nhất cho vua mà còn đem lòng yêu một người con gái trọng hậu cung. Trớ trêu thay đó lại là vương hậu Nam Tử của Vệ Linh Công.

Suốt một thời gian dài, Công Tử Triều và nàng Nam Tử tư thông với gây động loạn cả cung cấm. Dẫu vậy, sau khi dẹp loạn, hai người kia thì đã trốn sang nước Tấn nhưng vua nước Vệ vẫn còn yêu mến Công Tử Triều. Ông mượn cớ là mẫu hậu tưởng nhớ nàng con dâu Nam Tử gọi Công Tử Triều về nước.

“Đại đế” cũng thích đàn ông

Nhắc tới hoàng đế Càn Long, người ta thường mệnh danh ông là “đại đế” – vị vua nổi tiếng nhất thời Mãn Thanh (triều đại cuối cùng của Trung Hoa). Trong hơn 60 năm trị vì, vị vua này sở hữu vô số mỹ nhân từ hoàng hậu, phi tần, quý nhân song ông cũng vướng phải tình yêu đồng tính với đại thần Hòa Thân.

Câu chuyện bắt đầu từ thời Ung Chính hoàng đế. Ung Chính có một phi tử, dung mạo vô cùng kiều diễm. Khi Càn Long 15 tuổi, vào cung lo việc, được ở bên cạnh bà phi này. Nhìn phi tử chải đầu, Càn Long  không cầm được lòng bèn bịt mắt từ phía sau để trêu đùa.

Phi tử không biết đó là thái tử nên đã vung lược ra sau, đập trúng vào mặt của Càn Long. Khi thái hậu thấy trên mặt Càn Long có một vết tấy đỏ và nghe được sự thật đã nghi ngờ phi tử định đùa bỡn với thái tử, lập tức ban cái chết cho phi tử. 9 Dong tinh 2Thấy vậy, Càn Long khóc lớn, lấy một ngón tay nhuộm đỏ bôi vào cổ phi tử nói : “Là do ta hại chết nàng, nếu như linh hồn nàng linh thiêng, hai mươi năm sau chúng ta sẽ gặp lại nhau”.

Dưới triều đại do Càn Long trị vì, Hòa Thân xuất thân từ một trường đào tạo quan chức của Mãn Thanh được vào cung giữ chức Loan Nghi Vệ, công việc là khiêng kiệu. Một hôm, Càn Long muốn ra ngoài. Trong lúc vội vã tìm không thấy cái lọng vàng, Càn Long mới hỏi : “Đây là lỗi của ai”. Hòa Thân vội vã nói : “Người giữ điển lễ không thể tránh khỏi trách nhiệm”. Nghe giọng nói và nhìn Hòa Thân, Càn Long cảm thấy rất quen như đã gặp ở đâu rồi.

Sau khi về cung, nhớ lại những sự việc khi còn nhỏ bất giác cảm thấy Hòa Thân và người phi tử vì mình bị chết năm xưa có ngoại hình rất giống nhau. 9 Dong tinh 3Vua bí mật gọi Hòa Thân vào cung, xem kĩ cổ của ông ta phát hiện một vết ngón tay. Càn Long cho rằng Hòa Thân chính là người phi tử thuở trước đầu thai, từ đó rất sủng hạnh Hòa Thân.

Được vua yêu mến nên con đường tiến thân của của Hòa Thân lên như diều gặp gió. Từ một người khiêng kiệu ông ta được thăng lên đến chức Tể tướng. Vốn là người gian xảo, tham lam, Hòa Thân nhanh chóng trở thành người giàu có nhất dưới triều Càn Long.

Hai vua lớn nhà Hán đều đồng tính

Lịch sử “tổng kết”, trong số 25 ông vua triều Hán, có đến 10 vị có các “sủng nam”. Bởi thế, nhiều người gọi nhà Hán là triều đại của những hoàng đế đồng tính. Nổi tiếng nhất là Hán Văn Đế Lưu Hằng và Hán Ai Đế Lưu Hân.

Hán Văn Đế được coi là một vị hoàng đế anh minh và hiếu thuận. Ông là người tiết kiệm, một cái áo bị rách cũng quyết không vứt đi nhưng đối với Đặng Thông, Văn Đế lại dành sự ưu ái vô cùng.

Người ta kể rằng trên thân của Đặng Thông không thể đếm nổi Hán Văn Đế đã tiêu phí bao nhiêu ngọc vàng châu báu. Hai người đi đâu cũng có nhau, đêm còn ngủ cùng nhau.
Ban đầu, Đặng Thông là phu thuyền và được triệu vào cung làm thủy thủ cho ngự thuyền của Hán Văn Đế. Một đêm, Hán Văn Đế mơ thấy mình đang lên trời nhưng dùng sức của 9 trâu và hai hổ mà vẫn không thể tiếp cận được Nam Thiên Môn nên cuối cùng vẫn không thể vào được cửa trời. Đúng lúc đó có một người đầu quấn khăn vàng đứng sau lưng đẩy ông vào. Hán Văn Đế quay đầu nhìn lại người đã đẩy mình, muốn gọi anh ta trở lại thì tỉnh giấc.

9 Dong tinh 4Hôm sau, Hán Văn Đế đi chơi nhìn thấy một người thủy thủ đầu quấn khăn vàng, đai áo được buộc ra phía sau lưng, giống hệt người trong mơ hôm trước. Ông gọi lại hỏi thì biết người đó tên là Đặng Thông. Văn Đế nghĩ người có khả năng đẩy mình lên trời hẳn là có kỳ tài. Mà cái tên Đặng Thông cũng có thể hiểu chệch đi chỉ việc lên trời trót lọt, nên vua tin chắc người đẩy mình lên trời chính là Đặng Thông. Từ đó, Văn Đế cực kỳ sủng ái ông ta. Rất nhiều lần Hán Văn Đế thưởng cho Đặng Thông vàng bạc và phong cho ông chức đại phu trong triều, mặc dù ngoài việc chèo thuyền ra ông không biết làm gì.

Một lần, Hứa Phụ – một người rất nổi tiếng về việc đoán số đến gặp Đặng Thông và phán sau này ông sẽ bị lạnh, bị đói mà chết. Nghe xong, Hán Văn Đế không vui vì nghĩ người duy nhất có thể giúp đỡ Đặng Thông chỉ có mình mình, chẳng lẽ chính mình lại để “người tình” khốn cùng như vậy ?

Ngay lập tức, Hán Văn Đế lấy một núi đồng ban cho Đặng Thông, cho phép ông ta tự mình đúc tiền đồng để tiêu. Từ đó Đặng Thông trở nên phát tài, tiền đồng do ông ta đúc được tiêu khắp thiên hạ.

Về phía Đặng Thông, được vua sủng ái, ông cũng rất lấy làm cảm kích. Có lần, trên lưng Văn Đế có một cái nhọt, máu mủ chảy ra không ngừng, Đặng Thông dùng miệng hút máu mủ ra ngoài cho vua khiến Văn Đế vô cùng cảm động. Một lần thái tử Lưu Khải vào thăm vua cha.9 Dong tinh 5Muốn thử lòng hiếu thuận của con, Văn Đế nhờ Lưu Khải hút mủ trong nhọt của mình. Thải tử nhìn thấy đã ghê sợ  nhưng không dám kháng mệnh, cắn răng mà hút nhưng vẻ mặt vô cùng khó coi. Thấy thế, Hán Văn Đế than rằng : “Đặng Thông còn yêu ta hơn cả thái tử”. Vì thế, Lưu Khải đem lòng hận Đặng Thông.

Sau khi Văn Đế chết, Lưu Khải lên ngôi vua, liền bãi miễn chức quan của Đặng Thông. Không lâu sau Đặng Thông bị tịch thu toàn bộ gia sản vì tội đúc tiền trộm. Cuối cùng, ông chết vì đói và rét.

Cũng trong thời nhà Hán, câu chuyện tình yêu cắt áo của Hán Ai Đế được rất nhiều người truyền tụng. Vì sủng ái người tình đồng giới là Đổng Hiền, vị hoàng đế này đã cam tâm bỏ đi không ít người đẹp trong cung, thậm chí ông còn muốn nhường lại giang sơn cho Đổng Hiền.

Đổng Hiền vốn là một người hầu của Ai Đế từ lúc còn là thái tử. Một hôm, khi đang làm việc trong cung , đúng lúc dừng lại thì nhìn thấy Ai Đế (lúc này đã lên ngôi hoàng đế). Sau mấy năm không gặp, Ai Đế thấy Đổng Hiền trưởng thành, tuấn tú hơn xưa. Quá vui mừng, Hán Ai Đế lệnh cho Đổng Hiền theo mình hầu hạ và ngày càng sủng ái ông ta hơn.

Hai người ngồi cùng xe, ngủ cùng giường, làm gì cũng không rời xa nhau. Bên cạnh đó, hoàng đế còn phong cho Đổng Hiền làm Hoàng Môn Lang, bắt Đổng Hiền lúc nào cũng phải ở bên cạnh mình.

Khat tinh 7Theo sử sách lại, Đổng Hiền có khuôn mặt giống mỹ nữ, ngôn ngữ, tính tình dịu dàng, giỏi quyến rũ. Có lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của Ai Đế ngủ. Ai Đế muốn quay người nhưng cũng không muốn làm tỉnh giấc của Đổng Hiền nên lấy kiếm cắt đứt cánh tay áo của mình. Bởi thế, người đời sau gọi tình yêu đồng tính này là mối tình cắt áo.

Với mong muốn người mình yêu thương có địa vị đứng đầu trong triều chính, Ai Đế còn định phong cho Đổng Hiền tước hầu nhưng mãi vẫn chưa tìm được cơ hội. Sau đó, lúc thừa tướng Vương Gia chết, trong triều giảm đi một thế lực phản đối Đổng Hiền, Ai Đế mới phong cho Đổng Hiền chức Đại tư mã.

Mới 22 tuổi mà Đổng Hiền đã đạt đến chức cao nhất trong triều đình. Tình yêu của Ai Đế dường như không còn biết làm thế nào để bày tỏ với Đổng Hiền.

Một ngày, Ai Đế mở yến tiệc cùng chư thần, sau khi uống vài cốc rượu, đột nhiên Ai Đế nhìn Đổng Hiền bằng đôi mắt đầy thâm tình rồi cười nói muốn học theo vua Nghiêu Thuấn nhường lại ngôi cho Đổng Hiền. Sự việc này đã khiến cả triều văn võ bá quan ngỡ ngàng.

Tiếp đó, Ai Đế còn ra lệnh cho xây dựng bên cạnh lăng mộ của mình một phần mộ khác để nếu Đổng Hiền chết thì sẽ an táng bên cạnh phần mộ của mình. Nhưng việc này đã không thực hiện được do Ai Đế mắc bệnh chết sớm.

Xuân Mai chuyển tiếp

%d bloggers like this: