CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (16)

Logo bay gio ke

9 Bokassa 11CÔ BÉ LỌ LEM

TRỞ THÀNH

CÔNG CHÚA CHÂU PHI

LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ : Bài của tác giả Trúc Giang được tổng hợp từ nhiều nguồn, Nhưng nguồn bài từ Nguyễn Việt là chính. Năm 2010 Nguyễn Việt đã post trên “Văn Nghệ người Sài gòn” (rất tiếc mạng xã hội my.opera.com này hiện nay đã không còn hoạt động).

Tuy nhiên cũng trong năm 2010 Nguyễn Việt cũng đã post trên trang “Một thời Sài Gòn” 2 bài liền kề vào ngày 9/8/2010 với tựa “Bokassa – chuyện bây giờ mới kể” (mời bấm vào xem theo đường dẫn : Bokassa – Chuyện bây giờ mới kể… (1/2)

Và ngày 11/1/2013 trên trang Hồ Ngọc Cẩn Group, Nguyễn Việt cũng đã chuyển tiếp 2 bài trên mang tựa “Đi tìm con gái TT Bokassa” (mời bấm vào xem theo đường dẫn : Đi tìm con gái TT Bokassa (1/2)

Mời các bạn vào đọc để tham khảo cùng bài viết của tác giả Trúc Giang đề ngày 15/7/2014 sau đây.

Cao Bồi Già

Cô bé lọ lem trở thành công chúa Châu Phi

– Trúc Giang

Năm 1972, dư luận xôn xao về câu chuyện “cô bé lọ lem” người Việt Nam bỗng nhiên trở thành công chúa vương quốc kim cương ở châu Phi. 9 Bokassa 9Đó là tổng thống nước Cộng Hòa Trung Phi, Bokassa, nhờ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tìm giùm đứa con của ông với một phụ nữ Việt Nam khi ông là trung sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp trước năm 1954 tại Sài Gòn.

Chánh phủ đã nhanh chóng tìm được cô gái con lai da đen tên Nguyễn Thị Bái, Baxí, con của bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia định là con của Bokassa. Cô Baxí nghèo khổ bỗng nhiên trở thành công chúa nên được xem như câu chuyện cổ tích trong đó cô bé lọ lem trở thành công chúa.

Dư luận vừa lắng xuống thì bỗng nhiên nhật báo Trắng Đen làm sôi động trở lại bằng những phóng sự về “công chúa giả, công chúa thật”, gây ồn ào như một quả bom nổ tung trong giới truyền thông Việt Nam. Những người hiếu kỳ, tò mò mua báo Trắng Đen để theo dõi xem kết cuộc câu chuyện ra sao. Nếu “công chúa bốc vác” là thật, thì số phận công chúa giả Baxí sẽ ra sao ? Vì bản thân cô Baxí và mẹ là bà Ba Thân biết được rằng họ không phải là con, là vợ của trung sĩ lê dương Bokassa.

Trước mắt là báo Trắng Đen hốt bạc. Câu chuyện không còn nằm trong việc thật, giả của hai phụ nữ Việt Nam với ông Tây da đen vì ảnh hưởng của nó rất to lớn, có liên quan đến việc làm “mất thể diện quốc gia” và nhật báo Trắng Đen có thể bị đóng cửa.

Báo Trắng Đen đã hành động cẩn thận, khôn khéo với kế hoạch bí mật nên cuối cùng mang “công chúa thật” tên Martine đến trao cho Bokassa ở Trung Phi.

9 Bokassa 6Tổng thống Trung Phi tìm con

Năm 1972, Tổng thống nước Cộng Hòa Trung Phi (Central African Republic), Jean-Bédel Bokassa, nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm đứa con thất lạc ở Sài Gòn. Bokassa là cựu quân nhân trong quân đội viễn chinh Pháp nên có quan hệ chặt chẽ với nước Pháp. Thế là Toà Đại sứ Pháp ở Sài Gòn nhờ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tìm giùm người con của Bokassa. Giới chức Việt Nam nhanh chóng tìm ra cô gái lai, da đen tên Nguyễn Thị Bái, thường gọi là Baxí, con của bà Ba Thân ở Xóm Gà, Cây Quéo, Gia Định.

Bộ Ngoại giao Pháp đứng trung gian đưa Baxí đến Trung Phi. Tổng thống Bokassa mở tiệc ăn mừng rất lớn để đón con gái trên 15 năm chưa biết mặt. Tin tức về Tổng thống Bokassa tìm lại con được truyền thông Việt Nam và ngoại quốc rầm rộ đưa tin, ca ngợi người cha có tình có nghĩa. Cô Baxí nghèo khổ ở Xóm Gà bỗng nhiên trở thành công chúa của vương quốc kim cương, cho nên được ví như cô bé lọ lem trong chuyện cổ tích.

Hình ảnh và tên tuổi Bokassa gặp lại con gái được báo chí đăng trên trang nhất, đưa đến một khiếu nại, cho rằng đó là “công chúa” giả, mà con ruột của người trung sĩ SG Ng Viet 1Bokassa hiện còn đang sống với mẹ ở Việt Nam.

Baxí là “công chúa giả”

1/. Bằng chứng con ruột của Bokassa : Năm 1972, vào buổi trưa, một người đàn ông khoảng 50 tuổi mang tập hồ sơ đến tòa soạn báo Trắng Đen, nhờ giúp đở nói lên sự thật về thân thế người con gái của tổng thống Bokassa với người phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Huệ.

Ông Sáu, tự nhận là em của bà Huệ, cho biết bà Huệ và con gái tên Nguyễn Thị Martine hiện đang sống ở Chợ Nhỏ, trước trường sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức. Hồ sơ gồm có tấm hình bà Huệ chụp chung với người lính lê dương, trung sĩ Bokassa, giấy khai sanh của Martine và tấm hình Martine, đúng là cô gái da đen, “đầu quăn môi trớt”.

Nhà báo Nguyễn Việt là người trực ở tòa soạn báo Trắng Đen vào buổi trưa hôm đó thuật lại nội dung như đã nói trên. Sự việc được lập tức thông báo cho chủ nhiệm kiêm chủ bút Việt Định Phương, và ông chủ nhiệm lái xe đến tòa soạn ngay sau đó. Kinh nghiệm làm báo cho biết đây là một sự việc nóng hổi, một tin tức giựt gân vô cùng hào hứng sau những ồn ào về cô bé lọ lem Ba Xí ở Xóm Gà, Gia Định, bỗng nhiên trở thành công chúa của vương quốc kim cương ở châu Phi.

2/. Sự việc không đơn giản : Đào sâu vấn đề thì thấy đây là sự việc không đơn giản, còn nhiều việc cần phải được làm sáng tỏ.

10 Bokassa 4a/. Nếu Ba Xí là “công chúa giả” thì vì sao mà người ta đưa cô ta đến Trung Phi và được tổng thống Bokassa công nhận làm con.

b/. Hiện tại, báo Trắng Đen chỉ nắm hồ sơ về phía bà Huệ và Martine, còn hồ sơ của Ba Xí thì chưa được biết.

c/. Việc làm sáng tỏ “công chúa thật” và “công chúa giả” là bứt mây động rừng, có liên quan đến chính quyền VNCH, tòa đại sứ Pháp, vụ việc có thể làm mất thể diện quốc gia, và không tránh khỏi áp lực của Bộ Thông tin, Thông Tấn Xã Việt Nam, là hai cơ quan kiểm soát báo chí, đưa đến việc tờ báo bị đóng cửa, nhất là Bộ Ngoại giao VNCH và báo chí đã nêu thành tích về vụ tìm ra đứa con của tổng thống Trung Phi.

d/. Hồ sơ hộ tịch của bà Huệ và Martine cần phải điều tra để xác nhận đó là sự thật.

e/. Cần phải có ý kiến của tổng thống Bokassa, nếu ông nầy tiếp tục công nhận Ba Xí là con ruột thì kế hoạch kể như phải hủy bỏ.

f/. Nếu như áp lực nào đó khiến cho bà Huệ “phản cung” thì việc cũng không thành.

Bà Nguyễn Thị Huệ chấp nhận những điều kiện do chủ nhiệm Việt Định Phương đưa ra. Trắng Đen quyết định nhập cuộc, làm sáng tỏ thân phận người con thật của tổng thống Bokassa. Buổi họp toàn thể nhân viên tòa báo được thực hiện ngay buổi chiều ngày hôm đó.

Một kế hoạch hành động gồm những điểm như sau:

1/. Giữ bí mật : Báo Trắng Đen giữ độc quyền khai thác việc nầy. Martine được đưa đến một nơi bí mật để tránh tiếp xúc với phóng viên các báo khác. Bà Huệ và thân nhân chỉ được cung cấp tin tức cho báo Trắng Đen mà thôi. Nhân viên báo Trắng Đen không được tiết lộ nơi ở bí mật của Martine, 9 Bokassa 7cũng không được để rò rĩ tin tức vụ việc ra ngoài, phòng hờ việc chính quyền can thiệp. Giữ hoàn toàn bí mật trong những bước điều tra xác minh sự thật.

2/. Bí mật gởi hồ sơ đến tổng thống Trung Phi bằng nhiều đường dây khác nhau để có được quyết định của Bokassa.

Trước hết cho người xuống một xã ở Rừng Sác, quận Nhà Bè để xác nhận khai sanh của Nguyễn Thị Martine. Việc nầy được ký giả Lam Hồng Cúc thực hiện thành công một cách tài tình. Nữ ký giả nầy mặc quần áo bà ba đen, đội nón lá, không phấn son trang điểm, đã khéo léo moi tin tức và nhận được khai sanh chánh gốc tên đứa trẻ là Nguyễn Thị Martine, sinh ngày 2/2/1955. Mẹ là Nguyễn Thị Huệ, cha là Bokassa.

3/. Nghiệp vụ báo chí :

a). Trước hết đặt “nghi vấn” về Ba Xí là “công chúa giả” : Bài báo đầu tiên không đi thẳng vào vấn đề thật giả về “công chúa lọ lem” mà đặt nghi vấn là con thật của Bokassa hiện đang sống ở Sài Gòn. Đó là tiếng chuông mở màn gióng lên khiến cho độc giả và những người tò mò mua báo theo dõi câu chuyện. Nhà báo chuyên nghiệp có khả năng tung ra những độc chiêu để câu người đọc. Kết quả là số lượng báo phát từ con số 80,000 mỗi ngày tăng lên gấp đôi là 160,000 rồi lên 200,000. Máy in phải chạy suốt ngày đêm mới cung cấp cho đủ số theo nhu cầu của độc giả.

“Nghi vấn” của bài báo đầu tiên khiến cho nhà cầm quyền nghĩ rằng báo Trắng Đen không có hồ sơ thật, mà đó có thể là cái mánh phao tin vịt mà các báo thỉnh thoảng đã có làm.

10 Bokassa 2Khi sự việc chính thức bùng nổ thì Bộ Thông Tin Chiêu Hồi gởi công văn đến báo Trắng Đen, cho thời hạn 3 ngày phải có sự xác nhận của tổng thống Trung Phi. Thời hạn ngắn ngủi nầy được xem như một bản án sắp đóng cửa tờ báo. Mọi người lo âu, hồi hộp đợi chờ.

2). Tổng thống Bokassa nhận con : Việc chuyển hồ sơ Martine đến tổng thống Trung Phi thì được đặc phái viên Trắng Đen ở Paris thực hiện. Hồ sơ, hình ảnh của bà Huệ và Martine được Bokassa công nhận, chính ông và bà Huệ là người trong hình. Thế là một công điện và công văn gởi cho chính phủ VNCH và báo Trắng Đen.

Một đại diện của tổng thống Trung Phi được gởi tới Sài Gòn để xúc tiến việc đưa Martine sang quê cha. Chính quyền và Bộ Ngoai giao VNCH bị kẹt cứng và báo Trắng Đen thành công.

Phái đoàn đưa Martine về Trung Phi

Một đại diện cao cấp của nước Trung Phi qua Việt Nam hướng dẫn phái đoàn đưa Martine về quê cha. Ông bà Việt Định Phương chủ nhiệm báo Trắng Đen, bà Nguyễn Thị Huệ và Martine, một tùy viên sứ quán Pháp vừa đại diện nước Pháp vừa làm thông dịch viên.

Tổng thống Trung Phi tiếp phái đoàn báo Trắng Đen như thượng khách. Ông rất vui mừng đón nhận Martine và bà Huệ. Martine ở lại làm công chúa. Bà Huệ trở về Việt Nam vì bà đã có chồng khác. Riêng “công chúa giả” Baxí cũng được nhận làm con nuôi.

Về sau bà Huệ được trợ cấp mỗi tháng là 200,000$ đồng từ Pháp Á ngân hàng. Số tiền nầy mua được 5 lượng vàng vào thời đó.

Mở hội kén rể và tổ chức đám cưới tập thể

Năm 1973, Bokassa công bố mở hội kén rể, chọn chồng cho con gái Martine Bokassa và con nuôi là Baxí. 9 Bokassa 10Buổi lễ được tổ chức long trọng tại dinh thự quốc gia, với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan chính phủ. Hàng trăm thanh niên Trung Phi ghi tên tham dự. Kết quả, hai thanh niên được chọn là bác sĩ quân y Jean-Bruno Dévéavode làm chồng Martine, đại úy Fidel Obrou làm chồng Baxí.

Sau đó một đám cưới được tổ chức linh đình tại dinh thự quốc gia. Martine Bokassa có 3 con: con trai tên Jean-Barthélémy Dévéavode Bokassa, (cũng được gọi là JBB). Con gái tên Marie Cathérine Yokovo Dévéavode-Bokassa. Con gái út tên Marie-Jeanne Bokassa. Baxí cũng sanh một con trai nhưng bị giết chết hai tuần lễ sau khi ra đời.

Số phận của hai công chúa Trung Phi

1/. Số phận hẩm hiu của Baxí: Người biết rõ Baxí không phải là con của Bokassa chính là bà Ba Thân ở Xóm Gà, Gia Định, vì bà không phải là vợ của Bokassa. Baxí là “công chúa giả”, là mạo nhận. Từ một đứa con lai nghèo khổ mà bỗng nhiên trở thành một công chúa sống trong cảnh giàu sang nhưng số phận hẩm hiu, bi đát.

9 Bokassa 8Năm 1976, chồng Baxí là đại úy Fidel Obrou, chỉ huy trưởng đội quân bảo vệ hoàng cung, bị xử tử vì một âm mưu lật đổ Bokassa bất thành. Ngày chồng chết thì Baxí sanh được một đứa con trai, nhưng hai tuần sau đó thì đứa bé bị bác sĩ quân y, chồng của Martine Bokassa, giết chết bằng chích một mủi thuốc độc.

Đúng một năm sau ngày chồng bị giết, Baxí được chính thức trở về Sài Gòn, nhưng bị hai thuộc hạ của Bokassa giết chết và dấu thi thể ở một nơi nào đó trên đường ra phi trường. Hưởng vinh hoa phú quý được 7 năm.

2/. Số phận của Martine Bokassa : Ngày 21/9/1979, Pháp tổ chức lật đổ Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất và buộc ông phải sống lưu vong tại Côte d’Ivoire. Chồng của Martine Bokassa bị xử tử về tội giết con của Baxí và là thuộc gia đình độc tài. Martine và 3 đứa con thoát được qua Pháp, sống trong lâu đài của họ là Hardricourt. Bà Huệ được đón sang Pháp sống với Martine.

Tên mới ở Pháp là Martine Kota, làm chủ hai nhà hàng, một ở Pháp, một ở đảo Corse.

Con trai tên Jean-Barthélémy Dévéavode, sinh ngày 30-8-1974 tại thủ đô Bangui, biết nói tiếng Việt với mẹ. Anh ta viết cuốn sách tựa đề The Diamonds of Treasons nói về ông ngoại Bokassa bị phản bội.

9 Bokassa 4Chuyện tình anh lính lê dương

Năm 1953, trung sĩ nhất Bokassa được tăng cường về Biên Hoà làm nhiệm vụ gác Cầu Gành ở Cù Lao Phố.

Hồi đó, ở chân Cầu Gành có một cái phông tên cung cấp nước công cộng để người dân gánh về dùng. Nguyễn Thị Huệ là một trong những cô gánh nước ở phông tên đó.

Sau giờ gác cầu, trung sĩ Bokassa lân la đến phông tên để tán gái. Phụ nữ Việt Nam thời đó rất sợ những tên lính lê dương, nhất là những tên lính đen thùi, mặt gạch Sénégalais vì bọn chúng thường hãm hiếp phụ nữ trong những cuộc đi ruồng bố. Khi anh lính lê dương đến phông tên thì các cô gái đều né tránh. Ban đầu cô Huệ cũng không dám đến phông tên nhưng vì phải gánh nước mới có tiền nên phải liều.

Bokassa tập nói tiếng Việt, phát âm lơ lớ làm cho cô Huệ phì cười. Anh lê dương cũng cười theo, để lộ hàm răng trắng phếu. Dần dà, những cử chỉ ngô nghê nhát gái của anh lính da đen làm cho cô Huệ có cảm tình hơn sợ sệt.

Tình cảm nẩy nở. Mỗi lần quảy đôi thùng ra phông tên, cô có ý trông chờ anh lính châu Phi. Bokassa càng tỏ ra thân mật hơn, chinh phục “người đẹp” bằng những quà tặng. Cái khăn, chai dầu thơm, xấp vải may quần áo, có khi cũng tặng tiền cho cô gái Việt gánh nước mướn. Một ngày cuối tuần, Bokassa đưa cô gái về Sài Gòn. Kết quả cuộc tình là cái bào thai trong bụng cô Huệ. Người cha không chịu nổi trước cái bụng ngày càng to của con gái, nên bỏ nhà ra đi. Bà mẹ chết lặng người nước mắt tuôn tràn.

Cô Huệ bật khóc, ôm lấy người yêu. Hai người dắt nhau về mướn nhà ở xã Tân Thuận Đông, thuộc quận Nhà Bè, nơi đơn vị của Bokassa đóng quân gần đó.

Tình cảm mặn nồng bỗng nhiên bị sụp đổ trước cảnh biệt ly: anh lính lê dương chia tay người vợ đang mang bầu, xuống tàu về nước sau khi Hiệp định Genève 1954 ra đời. Cô Huệ về Rừng Sác sanh ra đứa con gái, mình mẫy đen ngòm như lọ nồi, tóc quắn, môi dầy, đặt tên là Nguyễn Thị Martine. Tiền bạc Bokassa để lại không bao nhiêu cho nên mẹ con cô Huệ lâm vào cảnh túng quẫn. Cô phải làm đủ nghề, đi khắp nơi và sau cùng, vì sinh kế nên về sống với người chồng ở Chợ Nhỏ, quận Thủ Đức.

9 Bokassa 2Martine lớn lên giúp đỡ mẹ từ việc bán đậu phộng, bánh mì, trà đá…Năm 1972, vào làm phu khuân vác trong nhà máy xi măng Hà Tiên, nằm bên xa lộ Sài Gòn Biên Hoà thuộc quận Thủ Đức. Cuộc sống lam lủ, đem mồ hôi đổi lấy bát cơm qua ngày, không dám mơ ước có một sự “đổi đời” nào vì đã nằm trong số phận của những đứa con lai của lính viễn chinh Pháp.

Một ngày cuối năm 1972, đang bốc vác thì người cậu xuất hiện kêu: “Đi về thay đồ chuẩn bị đi gặp ba mầy làm tổng thống”.

Nước Cộng hòa Trung Phi

Cộng hòa Trung Phi (Tiếng Pháp-République Centrafricaine) là một quốc gia miền trung Phi Châu. Bắc giáp nước Chad và Sudan, đông giáp Nam Sudan, phía nam là Congo và Zair, tây giáp Cameroon.

Diện tích: 622,436km2. Bangui là thủ đô. Dân số 4,422,000. 11% dân số từ 15 đến 49 tuổi bị nhiễn HIV/AIDS. Dân cư gồm 80 sắc tộc khác nhau, có ngôn ngữ khác nhau. 80% dân số theo đạo Thiên Chúa, đa số là Tin Lành.

Kinh tế. Trung Phi là nước nghèo ở Phi Châu. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp. Công nghiệp kim cương chiếm 40% số hàng xuất cảng.

10 Bokassa 1Tổng thống Jean-Bédel Bokassa

1/. Tiểu sử L Jean-Bédel Bokassa (22/2/1921 – 3/11/1996), thuộc bộ lạc M’Baka, Trung Phi.

Ngày 13/11/1927, người cha tên Mindongon bị thực dân Pháp xử tử nơi công cộng về tội phá rối trật tự trị an. Người mẹ tên Yokowo Marie tự tử chết một tuần lễ sau đó. Cậu bé Bokassa mồ côi cha mẹ lúc 6 tuổi, được ông nội nuôi dưỡng. Học trường đạo Saint Jeane d’Arc, rồi lên trung học ở trường Saint Louis.

Năm 1939 (18 tuổi) xin đăng lính vào quân đội Pháp. Năm 1950 Bokassa có mặt trong đoàn quân viễn chính Pháp, đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn. Trung sĩ Bokassa có thời gian được cử đến giữ cầu ở Cù Lao Phố Biên Hòa. Người lính lê dương nầy sống như vợ chồng với một phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Huệ.

2/. Về gia đình Bokassa : Bokassa có 19 vợ, 13 vợ trong số đó là những người ở nhiều quốc gia khác nhau mà phần lớn mà ông lấy từ những chuyến công du ra nước ngoài. Mỗi bà vợ được gọi bằng tên quốc gia như: “bà Đức”, “bà Bỉ”, “bà Lebanese”, “bà Pháp”, “bà Angola”, “bà Gabon”, “bà Việt Nam”… Người vợ thứ sáu được tôn làm hoàng hậu tên là Cathérine Denguiadé.

Nổi tiếng nhất là “bà Roumanie”, tóc vàng. Ông gặp bà nầy ở một hộp đêm trong chuyến viếng thăm tổng thống Ceausescu. Bà nầy có cuộc sống tình dục ngoài lề rất mạnh, làm cho mất mạng những người đàn ông dính líu tới bà. Khi bị phát hiện, bà để đứa con gái lại cho Bokassa, bà về nước.

Trong hồi ký tại nước Pháp, Bokassa tiết lộ ông đã từng chia xẻ những bà vợ cho ông Valéry Giscard d’Estaing. (He shared women with President VGE)

3/. Sự nghiệp quân sự : Sau Hiệp định Genève, ngày 20/7/1954, quân đội Pháp rút ra khỏi Việt Nam. Trong khi bà Huệ mang thai thì Bokassa theo đoàn quân viễn chinh xuống tàu về nước.

Phục vụ 23 năm trong quân đội Pháp, cấp bậc sau cùng là đại úy. Được thưởng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Năm 1959, Bokassa được giao nhiệm vụ thành lập quân đội Trung Phi, và làm chỉ huy trưởng lực lượng nầy. Ngày 13/8/1960 Pháp trả độc lập lại cho Trung Phi. Nước Cộng Hòa Trung Phi ra đời và tổng thống đầu tiên là David Dacko.

Năm 1964, tổng thống David Dacko lập bang giao với Trung Cộng. Một phái đoàn Trung Cộng do Meng Yieng và các viên chức chính phủ thăm viếng Trung Phi. 7 BokassaHọ đi khắp nơi trình chiếu những phim tuyên truyền CNCS. Tiếp thao Trung Cộng hứa cho vay một tỷ đồng franc, không có lãi suất.

Năm 1965, Trung Phi khủng hoảng kinh tế và chính trị, tham nhũng hoành hành. Ảnh hưởng của Bokassa tăng lên trong quân đội làm cho Dacko nghi ngại. Tổng thống Dacko cử Bokassa cầm đầu một phái đoàn sang Pháp chúc mừng và dự lễ Quốc Khánh 14 tháng 7. Sau lễ Bokassa bị cấm, không cho trở về nước.

4/. Bokassa đảo chánh lật đổ tổng thống David Dacko : Bokassa vận động sự ủng hộ của Pháp và quân đội Trung Phi nên Dacko buộc phải cho về nước. Tình trạng căng thẳng hai bên gia tăng. Ngày 31/12-/1965, trong lúc Dacko đi thăm đồn điền của một bộ trưởng chính phủ thì Bokassa làm cuộc đảo chánh, bắt nhốt Dacko rồi sau đó buộc lưu vong qua Pháp.

Năm 1972, sửa đổi hiến pháp, lên làm tổng thống muôn năm. Ngày 4/12/1977 Bokassa tự xưng Hoàng đế Bokassa Đệ Nhất, đổi tên nước từ Cộng Hòa Trung Phi (Central African Republic) thành Đế Quốc Trung Phi (Central African Empire). Lễ xưng vương tốn 20 triệu đô la, chiếc vòng bằng vàng nạm kim cương 5 triệu USD, nặng 2kg.

5/. Bokassa bị truất phế và sống lưu vong : Ngày 21/9/1979 trong khi đang viếng thăm Tổng thống Muammar Gaddafi của Libya, thì Tổng thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing mở chiến dịch bí mật mang tên Barracuda lật đổ Bokassa. Ông bị buộc phải sống lưu vong ở nước Côte d’Ivoire (Ivory Coast) thời gian 4 năm, sau đó Pháp cho ông được đến tỵ nạn chính trị ở tại lâu đài của ông tên Château d’Hardricourt cách Paris 80km. 10 Bokassa 3Pháp đưa cựu tổng thống David Dacko trở lại làm tổng thống thứ ba sau khi Trung Phi được trả độc lập.

Trong thời gian 7 năm sống lưu vong, Bokassa viết cuốn hồi ký trong đó phàn nàn rằng chính phủ không trả đầy đủ tiền lương hưu 23 năm của ông là quân nhân trong quân đội Pháp. Đặc biệt hơn nữa, ông tiết lộ tổng thống Valéry Giscard d’Estaing, khi còn giữ chức bộ trưởng tài chánh trong chính phủ Georges Pompidou, đã thường xuyên đến Trung Phi để được chung chạ với những người vợ của mình. (He shared women with President VGE) Bokassa cũng tiết lộ đã trao cho ông nhiều tặng phẩm trong đó có một viên kim cương 30 carats trị giá ¼ triệu franc (250,000)

Chính quyền Pháp ra lịnh tịch thu và tiêu hủy 8,000 cuốn hồi ký đó. Vụ xì căng đan là một trong những lý do khiến cho ông Valéry Giscard d’Estaing bị thất bại trong cuộc tái tranh cử tổng thống cuối năm 1981.

Sự hiện diện của Bokassa ở Pháp làm cho những bộ trưởng trước kia đã từng ủng hộ ông, họ cảm thấy khó chịu. Đó có thể là lý do khiến ông trở về Trung Phi nơi đã tuyên án tử hình khiếm diện sau khi bị truất phế năm 1979.

6/. Bokassa trở về Trung Phi lãnh án tử hình : Ngày 24/10/1986 Bokassa tự ý trở về thủ đô Bangui, nơi mà ông bị kết án tử hình vắng mặt sau vụ lật đổ hồi năm 1979. Vừa bước chân xuống phi trường thì bị bắt giam.

Ngày 12/6/1987, Tòa kết án tử hình về 14 tội, gồm giết những người đối lập chính trị, xa hoa phung phí tài sản quốc gia, giết hàng trăm học sinh đã phản đối việc bắt buộc phải mua và mặc đồng phục đắt tiền do công ty của một người vợ ông làm chủ. Những học sinh đã ném đá vào chiếc xe Rolls Joyce khi ông đi ngang qua cuộc biểu tình. Tất cả có 180 học sinh bị bắt giam. Đêm đầu tiên ông đến nhà giam, la hét vào đám học sinh và dùng gậy cầm tay đánh vở sọ 5 thiếu niên. Ông ra lịnh cai tù giết bọn họ. Và cuối cùng chỉ có 27 người sống sót và ra tòa làm chứng.

Bokassa cũng bị buộc tội ăn thịt người (cannibalism). Các bộ lạc châu Phi có tục ăn thịt người và luật pháp Trung Phi cấm việc đó, nhưng Bokassa đã sáng chế thịt người thành một món ăn mà ông ta ưa thích. Đó là thịt của tù nhân.

Sau đó năm 1988 giảm án xuống còn tù chung thân, rồi được phóng thích ngày 1/9/1993. Tiếp tục sống ở Trung Phi và qua đời ngày 3/11/1996. (75 tuổi). Để lại 17 vợ và 54 con ruột và con nuôi.

Kết luận

Trung Phi hiện nay vẫn còn nằm trong tình trạng chung của lục địa đen nầy. Đó là độc tài, tham nhũng, nghèo đói, bịnh tật, thất học, là cái vòng lẩn quẩn khó thoát ra được. SG Dinh My ChonNghèo đói sinh ra thất học, thất học sinh ra nghèo đói, nghèo đói sinh ra tham nhũng, tham nhũng đưa đến độc tài, độc tài sinh ra tranh giành quyền lực, đảo chánh đưa đến nội chiến, bạo loạn, bất ổn lại sanh ra nghèo đói.

Martine Bokassa và Baxí xem như định mệnh đã an bày. Cuộc đời không biết được đâu là họa hay phúc, may hay rủi. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, mà xem con tạo xoay vần đến đâu” (theo Trúc Giang – Minnesota ngày 15-7-2014)

Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp

Advertisements

NHẠC SĨ LỮ LIÊN & BAN AVT

Logo vannghe A

9 Ban AVT 2NHẠC SĨ LỮ LIÊN

& BAN TAM CA AVT    

http://youtu.be/X7wfNADkFwQ

– Chúc Tết (hải ngoại)

http://youtu.be/8hUM7wPx88s

– Đánh cờ

https://www.youtube.com/watch?v=uPgSQa-Y0LE

– Ông Nội trợ :  http://youtu.be/11WhHPAr8PM

– Nghèo mà không ham & 3 bà mẹ chồng

Bam kích động Số dzách & ban AVT :  http://youtu.be/WbPEQ39kOfY

Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.

AVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.

Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã có dịp tiếp xúc gần đây. Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT.

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu. Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên.

Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác.

Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng.

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng.

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có 3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ.

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngoại quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu !

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700 ! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền ! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.

Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Thống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962. Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv… Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao

Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh. Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv…

Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOA tức Tiếng Nói Tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v…

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv… để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục. Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiếng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt. AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần ! Vãn hát, khán giả đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chấn động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv… Nơi nào họ cũng gặt hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn tận nước Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Bokassa.

Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này. Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4 năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ. Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình…

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.

Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv… đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngọai đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên. Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.

Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhạc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngọai có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:

14/2/77 : Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.

01/12/77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất đăng quang.

Năm 1987 : Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện 1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.

Năm 1988 : thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

Năm 1992 : AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế, mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.

Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn. Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007.

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh họat, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường. Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện. Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền. Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam… (theo TiVi Tuần San 1144 & 1145) 

NHẠC SĨ LỮ LIÊN

Trưa 8/7, một trong những cổ thụ âm nhạc Việt Nam – nhạc sĩ Lữ Liên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Garden Grove, Mỹ. Ông hưởng thọ 96 tuổi.

Nhạc sĩ Lữ Liên sinh năm 1917 ở Hải Phòng. Trong khai sinh ông ghi họ Lã, nhưng nghệ danh là Lữ Liên. Cha ông dù là nhân viên bưu điện nhưng lại đam mê nghệ thuật. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng kể : “Ông nội tôi mê cổ nhạc, chính vì đứng ra lập ban cổ nhạc mà cha tôi mới có cơ hội học hỏi, làm quen với các nhạc sĩ cổ nhạc”.

Nhạc sĩ Lữ Liên trước đây từng tham gia ban hợp ca Thăng Long, cùng với Thái Thanh, Hoài Bắc và Hoài Trung biểu diễn rất thành công những ca khúc mang âm hưởng dân ca ba miền và những ca khúc trữ tình. Ông lập gia đình và có những đứa con mà khi trưởng thành họ đều gắn bó với âm nhạc, được công chúng trong và ngoài nước yêu mến : Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích.

Tên tuổi nhạc sĩ Lữ Liên được biết đến với sự hình thành và phát triển của nhóm nhạc AVT – tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất mượn giai điệu ngũ cung, những ca khúc, bài lý, dân ca, bài chồi để viết lời mới châm biếm, mỉa mai những cảnh tượng gai mắt, chướng tai trong cuộc sống.

AVT nổi tiếng và được khán thính giả trên mọi miền đất nước yêu mến. Những lời ca dí dỏm trong nhạc phẩm do AVT trình bày mang lại niềm vui cho khán thính giả suốt nhiều thập niên. Chúng đã đóng góp khá nhiều những giá trị tinh thần trong kho tàng văn hóa dân gian dù ca khúc được AVT thể hiện sử dụng nhiều từ loại văn chương truyền khẩu rất phổ thông ở miền Bắc thời đó.

Ban đầu, tam ca AVT gồm: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên thể hiện những ca khúc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh. Nhạc sĩ Lữ Liên giai đoạn này là người sáng tác các ca khúc cho nhóm AVT. Ông đã trích một đoạn trong bản Thất nghiệp ca, đặt tên là Tam nghiệp, mô tả 3 anh thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT biểu diễn.

Lập tức tính hài hước pha với diễn xuất, lại có ưu thế vừa đàn, vừa ca, vừa châm biếm duyên dáng, AVT nổi bật từ ngày có bàn tay “phù phép” của nhạc sĩ Lữ Liên. Giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc : Chúc xuân, Vòng quanh chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Mảnh bằng, Ba ông bố vợ…

Soạn giả Viễn Châu kể : “Lệnh bắt quân dịch đã khiến nhóm AVT mất đi Anh Linh. Năm 1962 nhạc sĩ Lữ Liên chính thức gia nhập nhóm, sau một thời gian Hoàng Hải thay thế nhưng không trụ vững. Để thay đổi khẩu vị, nhạc phẩm Tam nghiệp của anh Lữ Liên được sửa đổi đôi chút với những nghề thợ sửa xe máy (do Lữ Liên ca), nghề giác hơi tẩm quất (do Vân Sơn ca) và nghề thợ mộc (do Tuấn Đăng ca). Nếu bài vọng cổ hài của tôi ứng biến với âm nhạc ngũ cung, thì âm điệu cổ truyền Bắc bộ với ca trù, hát khách, ả đào, chầu văn… đã được nhạc sĩ Lữ Liên đưa vào rất dí dỏm và mang tính trào phúng sống động”

Cũng theo nhạc sĩ Lữ Liên đã khái quát được hoàn cảnh xã hội thời đó. Những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội của AVT lên án mạnh mẽ những thói trăng hoa, dỏm đời, học đua đòi… Cách châm biếm đó nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại sáng tác cho AVT một số bài hát : Ông nội trợ, Trắng đen, Dậy thì, Trâu ơi ta bảo này, Ba bà mẹ chồng, Cờ người, Em tập vespa…. Tất cả những ca khúc này đã đưa tên tuổi AVT lên đỉnh cao nghệ thuật.

Từ năm 1960 – 1964, nhóm AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc. Nhóm đắt show diễn ở các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn của Sài Gòn như : Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai… Sau ngày miền Nam “đứt phim”, nhạc sĩ Lữ Liên sang Mỹ định cư cùng các con.

Lúc này ca sĩ Khánh Hà đã lập trung tâm sản xuất băng nhạc, nên nhạc sĩ Lữ Liên đã tái lập lại nhóm ATV để thực hiện việc ghi âm và thi thoảng biểu diễn tại Mỹ, Úc. Trải qua nhiều biến đổi, năm 1988 nhóm có thêm sự tham gia của nữ nghệ sĩ Thúy Liệu khi sang Úc biểu diễn, đến năm 1992, AVT có thêm nhạc sĩ Hoàng Long. Năm 1994, vào dịp hát tết nhóm AVT đã ra mắt một loạt ca khúc mà nhạc sĩ Lữ Liên dựa theo áng thơ của nữ sĩ Hồ Xuân hương để sáng tác, châm biếm thói thích ong bướm, trăng hoa của những kẻ háo sắc. Lúc này ông đã trình diễn cùng hai nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương, tạo dấu ấn cuối đời với nhạc phẩm Đánh đu.

Năm 2008, nhạc sĩ Lữ Liên về cư ngụ tại Orange County – miền Nam California – Mỹ. SG Lan HuongÔng sống trong một căn nhỏ và được các con thăm viếng mỗi tuần. “Sự ra đi của bố tôi là nỗi đau xót rất lớn đối với anh em trong gia đình. Cả cuộc đời bố tôi luôn dành cho việc sáng tác và xem những tình cảm của khán thính giả dành cho ông, cho chúng tôi là niềm hạnh phúc” – ca sĩ Tuấn Ngọc tâm sự trước khi anh bay về Mỹ cùng vợ là ca sĩ Thái Thảo để lo hậu sự cho cha mình. (theo Thoại Hà – NLĐ)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỮNG CA SĨ ĐÃ… QUÁ THỜI

THÁI THANH – DUY TRÁC – KHÁNH LY

Logo vannghe A

6 Khanh Ly 4BẦU “ĐỒNG DAO”

CHUNG QUY

CŨNG CHỈ VÌ TIỀN

Tháng 8 vừa qua sân khấu ca nhạc Việt chứng kiến sự xuất hiện của 2 “big name” (tên tuổi lớn). Đầu tháng là Khánh Ly tại Hà Nội và cuối tháng là Richard Clayderman cũng tại Hà Nội. Điểm chung cho cả hai là họ đã đi qua thời hoàng kim của mình, nhưng những hồi ức về họ chưa bao giờ dứt tại Việt Nam. Nhưng nghịch lý đã xảy ra, bởi một người được đón nhận nồng nhiệt, còn người kia lại khá âm thầm.

Ăn xổi mãi được không ?

Phải nói ngay rằng, vụ lùm xùm tiền tác quyền cho 2 đêm nhạc của Khánh Ly tại Hà Nội và Đà Nẵng đã được dân trong nghề “bắt mạch” thẳng, chung quy chỉ một chữ : Tiền. Bởi nếu thắng đậm, cỡ nào cũng “chơi” được. Nhưng lần này lại “thua”, và khi ấy các bên liên quan kè nhau từng dấu phẩy hợp đồng để hòng giảm chi đến mức tối thiểu.

Nghịch lý ở chỗ, cùng một địa điểm, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, cùng một khung thời gian gần kề nhau, một người với số vé bán ra cao nhất là 4 triệu đồng lại ế đến 70%. 9 Khanh Ly 1Trong khi người kia, giá vé cao nhất lên tới 6 triệu đồng, lại không dư cái nào. Nhìn từ bài toán kinh doanh, rõ ràng Clayderman đã “thắng” Khánh Ly. Nhìn vào tâm lý thị trường, có điều gì bất ổn ?

Ai cũng bảo rằng, bệnh cả thèm chóng chán giờ đã mãn tính. Vì rõ ràng 3 tháng trước, Khánh Ly thắng gần như tuyệt đối tại Hà Nội, cũng chỗ ấy và giá vé ấy. Ai, dù nổi danh cỡ nào, đến Việt Nam cũng chỉ thắng được lần đầu. Nhưng điều ấy chưa hẳn đã đúng. Bởi nghịch lý thêm ở chỗ này, cũng chính Richard Clayderman năm 1999 đã đến diễn tại Sài Gòn, sân Phan Đình Phùng và 2/3 số ghế tối hôm ấy, không có người ngồi. Đó là lần đầu tiên Clayderman đến Việt Nam, đó là thời kỳ mà thị trường biểu diễn âm nhạc Việt cực kỳ sôi động với hàng loạt tên tuổi lớn quốc tế… 15 năm qua, thị trường biểu diễn đã bão hòa thì trái lại, Clayderman trong lần trở lại thứ hai, đã được ủng hộ nồng nhiệt.

Đâu có gì khó hiểu

Để giải mã hiện tượng Clayderman có lẽ phải nhìn lại 15 năm trước. Thời điểm đó, Richard Clayderman vẫn ở đỉnh cao phong độ nhưng cái “chết” của đêm diễn ấy không nằm ở người nghệ sĩ, mà đơn giản ở địa điểm biểu diễn.

9 Khanh Ly 3Tại thời điểm đó, giá vé trung bình hơn 500 nghìn đồng là quá cao so với mặt bằng chung và lại tổ chức ở sân Phan Đình Phùng để lấy số đông hơn nghìn chỗ. Nhà tổ chức lúc ấy dường như đã đánh giá nhầm tính chất âm nhạc của Richard Clayderman. Với những người thích nghe và cho rằng đó là loại nhạc sang trọng thì chắc chắn không chấp nhận thưởng thức âm nhạc ở nơi không mang dáng dấp của một thánh đường âm nhạc như Nhà thi đấu Phan Đình Phùng. Còn những người mê cổ điển toàn tòng, tức chỉ quan tâm tới việc nghe nhạc (ở bất cứ địa điểm nào)  thì lại hoàn toàn không thích kiểu cổ điển phái sinh như Clayderman. Phân khúc bình dân, những người hàng ngày nghe nhạc Clayderman, thích âm nhạc của Clayderman, thì lại không có tiền mua vé !

Lần trở lại này, cũng na ná địa điểm như thế nhưng Clayderman lại “thắng”. Nhìn về chất lượng, rõ ràng Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội có hệ thống cách âm tiêu chuẩn, chỗ ngồi sang trọng và địa điểm lý tưởng. Thêm nữa, 15 năm là quá xa xôi và với khán giả Hà Nội, xem như đây là lần đầu tiên của Clayderman. Những thế hệ từng lớn lên với âm nhạc Clayderman giờ trưởng thành và dư dả, họ chẳng tiếc một số tiền lớn để gặp lại người đã làm nên những giai điệu nuôi nấng tuổi thơ mình.

9 Khanh Ly 2Nhưng điều này lại không xảy ra lần nữa với đêm nhạc Khánh Ly. Khán giả Khánh Ly chưa hẳn đồng “gout” với những người mê Clayderman nhưng hiện tại, đặc tính thị trường biểu diễn ở Việt Nam đang cho thấy những người đi xem âm nhạc nhưng không vì âm nhạc mà vì những lý do khác… Chẳng hạn như show Khánh Ly đợt đầu. Người ta nô nức đi xem Khánh Ly, nhiều người hãnh diện được đi xem giọng ca huyền thoại ấy, hãnh diện được khoe là fan của ca sĩ tên tuổi. Nhưng chỉ đi một lần mà thôi, không cần thêm nữa. Bản chất của cả thèm chóng chán, cuối cùng, hóa ra không phải vì âm nhạc. Nếu Khánh Ly diễn ở phòng trà vài trăm người thì sẽ là một câu chuyện khác. Nhưng ở một sân khấu lớn với giá vé cao thì lại là một câu chuyện khác quan trọng không kém. Thường người ta có xu hướng thích mình là số ít đẳng cấp chứ không phải là số nhiều. Đi xem Khánh Ly ở phòng trà 100 người sẽ thích hơn là lọt thỏm trong mấy nghìn người.

Có lẽ nhà tổ chức đã đo lường sai nồng độ thị trường bởi câu chuyện về cả thèm chóng chán ai mà chẳng biết nhưng không phải là không có những vụ thắng lớn, thắng đỉnh cao. Có thể Khánh Ly sẽ vẫn “thắng” nếu như đêm nhạc tổ chức trong một khuôn viên nhỏ hơn như Nhà hát Lớn Hà Nội. Giới làm nghề Hà Nội vẫn còn nhớ vụ Tuấn Vũ có thể xếp vào hàng “kinh điển” của showbiz. Năm 2010 live show Tuấn Vũ – 10 năm tái ngộ ban đầu chỉ định làm một đêm tại Nhà hát Lớn Hà Nội nhưng cuối cùng nhà tổ chức đã kéo dài thành 10 đêm và không đêm nào còn chỗ trống. Cơn khát, nếu rỏ nhỏ giọt sẽ uống nhiều hơn là tu một lần.

9 Khanh Ly 4Vụ Khánh Ly một lần nữa lặp lại ở Cung Tiên Sa với vài nghìn chỗ ngồi và giá vé cũng ngất ngưởng. Dân Đà Nẵng dạo này rất thoáng với những chương trình âm nhạc chất lượng cao nhưng thoáng đến cỡ nào ? Đồng tiền đi liền khúc ruột và nhiều người nói thẳng rằng họ không thích đi xem Khánh Ly tại Cung Tiên Sơn bởi không gian âm nhạc ở đó không sang trọng, âm thanh dội tiếng và khá xô bồ.

Tiếp đến, Đà Nẵng tuy phát triển nhưng chưa nhiều tiền đến mức để người dân bỏ tiền đi xem ca nhạc đỉnh cao với giá vé chóng mặt. Nhiều nhà tổ chức âm nhạc kể rằng có những chương trình bán vé rất chạy tại Đà Nẵng với mức giá 1,5 triệu đồng nhưng họ không dám tăng lên bởi chỉ cần lên tới 2 triệu là không ai mua vé. Tháng 4/2014, chương trình nhạc Trịnh tại Đà Nẵng với giá vé cao nhất 1 triệu, kết quả “cháy vé”. Có người khuyên Ban tổ chức nâng lên 2 triệu bảo đảm thắng nhưng nhà tổ chức từ chối vì họ thừa kinh nghiệm để biết cái ngưỡng tại đây chỉ đến vậy. Cao hơn là thua.

Cả thèm chóng chán là căn bệnh khó bắt mạch của thị trường biểu diễn Việt, bởi nó liên quan đến túi tiền người mua, đến địa điểm biểu diễn và nhiều khi nó chết bởi nhà tổ chức “nhắm sai đối tượng”. Mới đây nhất là chương trình Cầm tay mùa Hè của nhạc sĩ Quốc Trung định biểu diễn với Hương Lan, 5 Dòng Kẻ và Nguyễn Đình Thanh Tâm. Nhưng cuối cùng show diễn này đã phải hủy vì “không bán được vé”.

Có một câu hỏi rất dễ đặt ra : Ai sẽ đi xem Hương Lan trong dáng vẻ world music ? Hng Ng Toan NangNhững người thích dòng nhạc cấp tiến chưa bao giờ để trong đầu cái tên Hương Lan sẽ hát dòng nhạc ấy, còn những người mê Hương Lan sẽ chẳng nghĩ một ngày bà bứt mình ra hát kiểu nhạc của Quốc Trung. Nếu Hương Lan hát với khách mời là Quang Lê hay Chế Linh thì chắc chắn tình hình sẽ khác. Ở đây rõ ràng nhà tổ chức nhắm sai đối tượng dù người trong nghề thừa biết đây sẽ là một kiểu chơi lạ.

Chữa trị cho bệnh cả thèm chóng chán bằng cách nào ? 3 tháng, trở lại như Khánh Ly ? Thua, thực tế đã thấy. Vậy tốt nhất hãy cứ chờ 15 năm nữa, như Richard Clayderman chăng ? (theo Cung Tuy – Thể thao & Văn hóa Cuối tuần)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

SG Hiep si muLỜI BÀN CỦA HIỆP SĨ MÙ : Đọc xong bài viết trên, thấy rằng tác giả chỉ nhận định có một chiều. Nói rằng show Khánh Ly hồi tháng 5 ở Hà Nội đã thắng lớn (?!) là hoàn toàn sai sự thật. Chỉ cần “bắt mạch” câu chuyện tác quyền,và trong bài viết trên đây có câu : “Phải nói ngay rằng, vụ lùm xùm tiền tác quyền cho 2 đêm nhạc của Khánh Ly tại Hà Nội và Đà Nẵng đã được dân trong nghề “bắt mạch” thẳng, chung quy chỉ một chữ : Tiền. Bởi nếu thắng đậm, cỡ nào cũng “chơi” được. Nhưng lần này lại “thua”, và khi ấy các bên liên quan kè nhau từng dấu phẩy hợp đồng để hòng giảm chi đến mức tối thiểu”…

Pho Duc PhuongNói xin lổi, nếu show Khánh Ly tháng 5 thắng đậm thì mấy ông tổ chức (tức ông Đồng Dao gì đó) đã không xù tiền tác quyền đêm biểu diễn này, để rồi ông Phó Đức Phương phải ra mặt trong các show diễn thứ 2 và 3 của Khánh Ly ở Hà Nội và Đà Nẵng ? Hỏi tức đã trả lời !!!.

Có thể nói ông Đồng Dao tính “móc túi” dân Hà Nội và Đà Nẵng (có thể sau đó là Bình Dương) nhưng không thành. Trước nhất là túi tiền người hâm mộ không ai bỏ ra để nghe một bà già hát… hỏng bằng playback, thứ hai họ từng được “nhồi sọ” là “lão bà bà” này từng là một cây “chống Cộng” từ chân đến nách. Như vậy không lẽ lại đi tung hê người đã chửi họ ra rả gần 40 năm qua ? Dù rằng Khánh Ly từng được mệnh danh là Nữ hoàng nhổ đi liếm lại” ở khoảng thời gian gần đây !

9 Thai Thanh 2BIẾT NÓI GÌ VỀ

THÁI THANH ?

Không chỉ một người, tiếp cận “hiện tượng” Thái Thanh từ góc độ “tiểu sử” (một tiểu sử “trải dài” vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước, mà chủ yếu là “đất nước” VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ (năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, đến tâm ca, bi ca, hoan ca, hùng ca, đạo ca, …), đã gọi bà là tiếng “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi“. Cũng không chỉ một người, từ góc độ “thưởng thức ca nhạc”, mệnh danh bà là “tiếng hát vượt thời gian“, “giọng ca vàng không tuổi” – chính xác là “The Ageless Golden Voice“, như được in trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài Gòn: “Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng !)

Những danh xưng ấy dành cho Thái Thanh tất nhiên không thuyết phục tất cả mọi người (Việt Nam), mà chỉ đúng đối với những ai yêu mến bà. Vì sao ? Giọng hát của nữ danh ca này không dành cho những đôi tai không chuộng các “âm tần cao“, và/hay không chuộng các “cường độ biểu cảm – đặc biệt là bi cảm – quá lớn” (gọi nôm na là “quá mùi“). Tuy nhiên con số những kẻ yêu (giọng hát) Thái Thanh là không nhỏ, và trong số ấy cũng không hề thiếu những tên tuổi lớn các nhà làm văn học nghệ thuật (như nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Cung Tiến, danh cầm Nghiêm Phú Phi, nhà văn kiêm nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Du Tử Lê, nhà thơ Nguyên Sa, …), cho nên những lời xưng tụng 9 Thai Thanh 4dành cho người ca sĩ ấy không thể “hàm hồ” được; chúng tất yếu phải “chính xác” và “xứng đáng”.

Trong chủ quan hạn hẹp của người viết bài này, tiếng hát Thái Thanh có thể ví như một “đặc sản”, chỉ dành cho những kẻ “sành điệu”, đồng thời cũng từ chối quyết liệt những ai không là “đồng điệu”. Bạn sẽ nhăn mặt : “Làm gì có một đặc sản như thế“ ? Xin thưa rằng có : Quả sầu riêng ! Đúng vậy, mặc ai có thể “bịt mũi xua tay”, vẫn không hiếm người lõi đời “nghiện” nó, xem nó là “số Một“, và nó luôn là một trong những loại quả “quí và đắt nhất”. Vậy thì, vâng, có nhiều người tôi quen biết “nghiện” Thái Thanh (và nghiện cả sầu riêng) ! Thậm chí đối với họ chỉ có mỗi một mình Thái Thanh biết “hát”, còn những ca sĩ khác chỉ là “phát âm một cách khổ sở”. (Tôi nhớ đến truyện biếm “TIẾNG HÁT” khi nghe ai phát biểu về Thái Thanh tương tự như vậy.)

Nói về “ngôi vị” của Thái Thanh trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 75 có lẽ không ai chính xác bằng “người trong giới”, đặc biệt là một trong các danh ca hàng đầu thủa ấy – Lệ Thu. Năm 1970, nhân chuyến tham dự khai mạc Hội Chợ Osaka, Nhật Bản, Lệ Thu đã trả lời phỏng vấn của báo chí : “Nếu chị Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục !“. Cũng chính Lệ Thu, trong một ca khúc hải ngoại nhớ về Sài Gòn, đã “sửa đổi” một đôi chữ khi hát “Đâu rộn ràng tiếng hát Thái Thanh ?” Kiêu ngạo và đắt giá nhất trong giới ca sĩ ngày đó, Lệ Thu chỉ chấp nhận “nghiêng đầu” trước Thái Thanh.

Sự thật thì sao ? Mặc dầu Thái Thanh đi trước cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề so với hai diva Lệ Thu và Khánh Ly (cũng như với hầu hết các ca sĩ khác), giọng lẫn cách hát của bà vẫn “sung mãn” và “nồng nàn dữ dội” nhất, đặc biệt với những ca khúc như:

9 Thai Thanh 31) CHUYỆN TÌNH BUỒN

2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA

4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI

6) TẠ ƠN ĐỜI

7) TIẾNG HÁT TO

8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

Tôi vẫn tin là bạn không cần nhìn các ca sĩ (Việt Nam) “làm trò” khi họ hát, mà chỉ cần nghe cách phát âm cũng đủ để phân biệt và xếp hạng họ là loại ca sĩ nào. Nhưng đối với Thái Thanh thì khác, bạn nên ngắm “khẩu hình” của bà lúc bà hát – cái cách bà cấu âm (articulate) từng “âm”, từng “chữ” – chuyển động của má, môi, cơ miệng, lưỡi, hàm (răng) trên, hàm (răng) dưới, xương quai hàm (tất cả với ý thức duy nhất – và cũng cao nhất : sao cho mỗi “âm”, mỗi “chữ” được “phóng thích” chuẩn xác, sắc cạnh, mãnh liệt, và biểu cảm nhất có thể) [*]; điều đó tác động cả đến đôi mày, cũng như vầng trán, và tất nhiên rồi, cả đôi mắt của người hát nữa. Mà không chỉ thế, hãy nhìn thanh quản ở cổ, nhìn hai vai, và tay, … của bà. Có vẻ cách “phát âm” / “cấu âm” của Thái Thanh, bắt đầu từ “bộ máy phát âm”, đã tác động hoàn toàn tự nhiên đến các cơ trên mặt, rồi lan tỏa toàn thân. Khi hát, Thái Thanh như “đang bơi”, hay “đang bay”, (theo nghĩa đen) trong âm nhạc, và toàn bộ ngôn ngữ cơ thể của người ca sĩ ấy toát lên thông điệp này: Được cất tiếng hát, đối với bà, 9 Thai Thanh 1là Tất Cả – là Sự Sống, là Hạnh Phúc vô bờ.

Để thấy/hiểu phần nào niềm hạnh phúc của “Người Đàn Bà Hát” Thái Thanh, bạn có thể (click vào) xem các clip này (và đừng quên rằng lúc ấy bà đã U70):

1) TÌNH HOÀI HƯƠNG

2) CỎ HỒNG

3) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

4) DÒNG SÔNG XANH

5) TÌNH CA

6) HOÀI CẢM

Và nếu muốn nghe đầy đủ hơn các bài hát của Thái Thanh, mời bạn click vào đây. Trang này được mở ra không với mục đích nào khác hơn là để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Thái Thanh. (Rất tiếc là chúng tôi không thể gửi tặng nó cho người ca sĩ ấy, vì bà đã vào ở hẳn một Viện Dưỡng Lão, ở Hoa Kỳ, từ mấy năm nay rồi.) (the Âu Lăng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

9 Duy Trac 2TÂM SỰ NAM CA SĨ DUY TRÁC

TUỔI GIÀ CỦA TÔI

Khi sang Houston tôi mới biết gia đình anh chị Duy Trác mất tất cả mười mấy người thân trên biển cả. Nhìn và nghe anh chị và hai cháu trình bầy, yêu cầu đại chúng trong pháp hội góp lời cầu nguyện vãng sinh cho hương linh, vì chị Duy Trác và gia đình vẫn còn mơ thấy thân nhân, khó ai cầm được nước mắt. Đây là tâm sự của anh Duy Trác từ dạo ấy, xin mời đọc. Nhân-Yến.

Duy Trác là một ca sĩ thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1975. Tuy chỉ là một ca sĩ nghiệp dư, nhưng nhiều người xem Duy Trác như một trong những giọng ca nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.

Duy Trác tên thật là Khuất Duy Trác, quê ở Sơn Tây, xuất thân trong một gia đình Nho giáo truyền thống. Nghề nghiệp chính của ông là luật sư, trước đó là thẩm phán ngành Quân Pháp. Ngoài ra ông còn tham gia viết báo và cũng là một dịch giả. Duy Trác bắt đầu đi hát từ những năm còn là sinh viên, khoảnh cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960.
Tuy giọng ca của ông được rất nhiều người mến mộ, nhưng trước 1975 ở Sài Gòn, Duy Trác gần như không bao giờ trình diễn ở phòng trà hay các chương trình nhạc hội. Ông chỉ hát trên đài phát thanh và thu âm cho các hãng băng đĩa, vì vậy nhà văn Duyên Anh đã đặt cho ông biệt danh “chàng ca sĩ cấm cung”.

Duy Trác cũng có sáng tác một vài bài hát như Tiếng hát đêm Noel, Sài Gòn chỉ vui khi các anh về… Sau 1975, Duy Trác có đi cải tạo nhiều năm tới 1988. Năm 1992 ông rời Việt Nam định cư tại Houston, Hoa Kỳ. Tại đây ông có tham gia trình diễn ở một vài chường trình ca nhạc và phát hành hai CD riêng : Còn tiếng hát gửi người và Giã từ.

9 Duy Trac 1Trong CD Giã từ ông đã nói lời từ biệt với âm nhạc. Từ đó Duy Trác không còn hát và hiện nay ông hợp tác với đài phát thanh VOVN – Tiếng nói Việt Nam tại Houston phụ trách một vài chương trình.

Tâm sự của Duy Trác

Năm 1992 gia đình tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đã bị chính quyền cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được một trung tâm ca nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Các thính giả đã vào cả hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi chỉ còn nhớ, và nhớ mãi một câu chào, như mâu thuẫn và thật lòng: ‘Bác (hay chú) chẳng thay đổi gì cả, chỉ già đi nhiều thôi.’

Ồ ! Tôi đã già đi ! Chắc chắn rồi. Nhưng tôi đã không có thì giờ nghĩ đến. Làm sao có thì giờ nghĩ đến khi không biết ngày nào hết cảnh lao tù để về chung sức với vợ nuôi nấng 6 đứa con, 5 đứa cháu và một mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau mất 3 đứa con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ đã té ngã và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già. Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đình hành hạ; năm 12 tuổi tôi đã bỏ đi sống một mình.

Tôi còn nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào trường Sư Phạm; với học bổng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lãnh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Với đủ mọi hình thức “kiếm tiền lương thiện”, tôi đã phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do mình đặt ra: không hận thù những người đã hành hạ mình phải cố gắng học cho thành tài. Tr ca nhacCả hai châm ngôn này, tôi đã thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở về Hà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đã cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đình năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Đoàn được 2 năm và lập gia đình được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đình, bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù; thì hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đã mất hút tự bao giờ mà tôi cũng không còn nhớ được nữa.
Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 thì tôi đã ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là già đi nhiều thì cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đình nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lý, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng.

Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn đã gửi cho tôi một tấm thiệp giáng sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ “TUỔI TRẺ (YOUTH)” của Samuel Ullman. Lời lẽ bài thơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu nó được viết ra từ năm 1918, lúc tác giả đã 78 tuổi nhưng ý tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu : ‘Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi vì ruồng bỏ lý tưởng của mình. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt.’

9 Duy Trac 3Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ này và ông đã cho trưng bày bài thơ ngay tại phòng làm việc của ông ở Tokyo, khi ông đang là Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader’s Digest ấn bản tiếng Nhật đã phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật đã hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đã hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thế cường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn vì bệnh hoạn, đói khổ và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không còn sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡ v.v.., tôi đã phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của nhà nước bao nhiêu tiền của.

Tôi đã cố gắng tập thể dục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là tìm một môn luyện tập thân thể theo phương pháp đông phương thích hợp với tuổi già. Đấy là nguồn gốc cái duyên mà tôi tìm đến với môn Taichi.

Một lần trong một buổi phát thanh của đài VOVN, phỏng vấn các vị lãnh đạo TAEKWONDO thế giới, tôi đã hỏi ngắn gọn về môn Taichi thì nhận được những lời ngợi khen nồng nhiệt và có ý kiến rằng môn tập này mang ý nghiã sử dụng nguyên lý âm dương như một võ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi thì cần có ý niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giãn bản thân. Vì Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm, cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập một cách dễ dàng. Một lợi điểm phụ thuộc là có được khả năng tự vệ. Đấy cũng là quan điểm của võ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi :

9 Duy Trac 4– Một là chữa các dạng viêm khớp

– Hai là gia tăng sức đề kháng nơi những người lớn tuổi

1/ Taichi giúp chữa viêm khớp : Một công trình mới đây của viện nghiên cứu The George Institute International Health cho thấy Taichi có lợi rõ rệt đối với các chứng viêm khớp. Một số các nhà nghiên cứu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm để xem phương pháp thể dục đó có hiệu quả gì đối với chứng đau nhức ở phần dưới của lưng hay không.

2/ Taichi giúp gia tăng sức đề kháng ở người lớn tuổi : Tập thể dục theo Taichi đã được ít nhiều Tây hóa của một môn võ thuật Trung Hoa từ hơn 2000 năm trước với những nét đặc trưng như vận động chậm rãi trong tư thế trầm tư. Phương pháp này có khả năng tăng cường sức đề kháng nơi người cao niên chống các loại vi khuẩn gây nên các chứng nổi mần, nổi ngứa rất khó chiụ trên da, mà thuật ngữ y học tiếng Anh gọi là Shingles, theo như một nghiên cứu mới nhất của Đại học UCLA ở California .

Tôi không phải là một nhà nghiên cứu mà chỉ là một ông già nhiều bệnh, đi tìm một môn tập có thể giúp mình giải thoát được phần nào những tật bệnh đã hành hạ mình từ bao năm nay.

Do một cơ duyên tình cờ, tôi đã đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của hội đặt tại California, nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đã huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cư ngụ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH, phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. 9 Duy Trac 5Yoga cũng là một môn tập rất lâu đời cuả người Ấn Độ mà lợi ích to lớn cuả nó thì ai cũng đã biết rõ. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga đã khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi không những đã được đáp ứng mà còn được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đã được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đã hết hẳn, nhưng hình như đã nằm yên để cho những ngày già của tôi được an bình. Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đã hẹn 1 năm nữa mới phải trở lại. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói : ‘Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại thì kỳ quá !’

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao đều đã xuống. Hoạt động của tim cũng điều hòa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, thậm chí còn trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992 nữa.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quả như tôi, nhiều hay ít mà thôi. Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đã thấy mệt. Nay tôi có thể “múa” được 15, 20, thậm chí 25 lần mà vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập còn khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở lòng mình ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đã bỏ bao công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để tìm tòi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vật tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v…Bài tập Càn Khôn Thập Linh SG Xuan Maiquả đã mang lại sức khỏe, sự tươi vui … cho những người tìm đến nó. (theo tâm sự nam ca sĩ Duy Trác)

Video : Càn Khôn Thập Linh tập 1- 2 & 3

http://youtu.be/A4ttu71oJ70

http://youtu.be/MG0vR9jM9ro

http://youtu.be/Zi5rlAmnZ3Q

Xuân Mai chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (5)

Logo vannghe A

9 Le Thu 1NỮ CA SĨ LỆ THU

KHỜ KHẠO NÊN PHẢI

TRẢI QUA 3 ĐỜI CHỒNG

Bài hát đưa nữ danh ca lên đỉnh cao nghiệp diễn có tên “Dang dở”, như một điềm báo cho hạnh phúc không trọn vẹn với ba cuộc hôn nhân và mối tình đẹp, mà câu trả lời cuối cùng vẫn là không ai cùng đi trọn một con đường.

Tình duyên là thế, nhưng cuộc đời đã bù lại cho chị một sự nghiệp không phải ai cũng có được. Để rồi gần 50 năm qua, giọng ca Lệ Thu cất lên một niềm đồng cảm với những cuộc tình không trọn vẹn. Chị như người kể chuyện tình, đắm say qua nhiều thế hệ.

Lệ Thu chia sẻ, chị là người biết làm chủ cảm xúc và diễn tả nó một cách tỉnh táo, trong các ca khúc, chứ không bị chi phối bởi những đổ vỡ đớn đau của cuộc đời. Có thể tiếng hát Lệ Thu có trước những mất mát riêng tư của chị. Nhưng người nghe lại thấy trong giọng hát Lệ Thu có điều gì như uẩn ức, như muốn nói lời bí mật nào đó đã làm người hát đẩy nỗi đau lên đến tột cùng trong từng nốt nhạc.

Cô bé đi hia vạn dặm

– Chị là người nổi tiếng nhút nhát và khờ khạo, lại sinh ra trong một gia đình phong kiến. Tại sao một cô gái như thế lại chọn nghiệp ca sĩ ?

Tôi cho rằng đó là cái nghiệp. Gia đình tôi, chú bác, cậu đến người anh đều hát hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ, nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi. Tôi được học piano từ nhỏ, âm nhạc đã ngấm vào máu. Rồi mẹ đưa tôi từ Hải Phòng vào Sài Gòn sống. Gần nhà có người thầy dạy guitar, tôi theo học và thỉnh thoảng có hát. Hàng xóm khuyến khích đi thì, tôi chối đây đẩy: 9 Le Thu 2“Thôi thôi, hát tài tử thì được chứ đi thi thì không”. Lý do là trước khi đi thi, phải nhìn vào gương để tập hát, tôi nhìn thấy chính mình nên rất sợ.

Cho đến dịp sinh nhật người bạn vào năm 1960, đang ăn uống vui vẻ ở phòng trà Bồng Lai, một đứa bảo bạn : “Ê, Oanh, mày hát cho tụi tao nghe một bài”. Tôi từ chối, nhưng bạn bè đẩy quá nên hát bài Tà áo xanh (có tên khác là Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Đến giờ tôi cũng không hiểu tại sao có thể bài hát đó để mở đầu cho sự nghiệp ca hát của mình.

Ông chủ phòng trà Bồng Lai khen : “Em hát được lắm, em có muốn đi hát không ?”. Tôi trả lời : “Dạ thưa không, mẹ cháu không muốn cho cháu đi hát”. Ông ấy thuyết phục: “Em đi hát nhưng vẫn có thể đi học được. Em không phải thức khuya, vì đến đây hát lúc 9 giờ, 10 giờ đã về rồi. Một tiếng đó, em có thể nói với mẹ là đến nhà đứa bạn học bài”. Rồi ông đưa ra mức thù lao, tôi thực sự choáng vì ngoài sức tưởng tượng. Tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng đối với nữ sinh lúc đó là cả một vấn đề. Nghĩ tới nghĩ lui, bạn bè cũng nói vào nên tôi quyết định đi hát.

– Như chị nói, con đường ca hát của chị được trải thảm đỏ ngay từ đầu. Nhưng để một tên tuổi nổi lên đâu phải dễ, nhất là đang có những cái bóng quá lớn như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Bạch Yến…?

Đúng là thập niên đó, các bậc đàn anh đàn chị đình đám lắm. Nhưng hầu hết đều hát giọng mũi, còn tôi là giọng nữ trung, đầy, rõ nên xuất hiện như một nhân tố lạ. Tôi trở thành cô bé đi hia vạn dặm, nhưng cuộc sống vẫn không có nhiều thay đổi.

Tôi nhớ những ngày đầu trốn mẹ đi hát ở Bồng Lai, vừa hát vừa sợ. Rồi mẹ tôi cũng biết do một anh hàng xóm mách lại. Anh ấy vốn rất mê tôi nhưng không được đáp lại tình cảm nên tố cáo chuyện tôi đi hát với mẹ. Bà nỏi giận đùng đùng, nhưng vẫn gọi tôi đến hỏi : “Oanh, tại sao con lại làm thế ? Dòng họ nhà mình có ai thế đâu. Con không biết xướng ca là vô loài ?”. Tôi chỉ biết im lặng. Và mẹ cấm cửa, không cho tôi ra khỏi nhà vào ban đêm.

Bốn ngày sau, ông chủ phòng trà Bồng Lai tìm đến thuyết phục mẹ tôi : “Bác ạ, nghề ca hát không phải xướng ca vô loài như hồi xưa. Nếu không tin, bác cứ đi với em đây đến phòng trà của con. Nếu bác thấy không được thì con thôi không làm phiền nữa. Em đứng trên bục hát hay, người ta vỗ tay và hát xong em về. Không ai đụng được đến em đâu”.

9 Le Thu 3Mẹ tôi nghe hay nên cũng đi cho biết. Thấy con gái hát ca khúc Sayonara được vỗ tay nhiều quá và chẳng “vô loài” gì cả, bà dần đổi ý. Rồi mẹ hỏi : “Thế đi hát thế, là… hát chơi à”. Ông chủ bảo có thù lao, rồi nói mức lương, bà ngạc nhiên đến mức té ngửa.

– Nhân chị nói về mẹ, xin được hỏi khi vào Sài Gòn, sao lại chỉ là hai mẹ con?

Đó là một câu chuyện dài. Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền người vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng đổ lửa, mẹ phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa đến khi xế bóng. Không chỉ thế, còn đủ thứ việc trong nhà, chẳng bao giờ bà được nghỉ tay. Mẹ sinh 8 người con, cứ đến 3 tuổi là mất, chỉ có tôi là sống.

Năm 1953, khi mẹ con tôi vào đây, bố không đi vì tiếc gia tài. Một năm sau, ngày nọ tôi đi học về, mẹ chỉ ngắn gọn : “Thầy con mất rồi”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó tôi không biết tin tức gì ngoài đó nữa.

– Cuộc sống những ngày đó của mẹ con chị ở vùng đất mới như thế nào ?

Không đến nỗi nào, tuy chẳng khá giả nhưng không cơ cực. Tôi nhớ nhiều chuyện vui lắm. Năm 14 tuổi, đã có ngực mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực. Hàng xóm hàng phố đổ ra coi. Tôi không biết họ coi cái gì. Mãi sau mới biết họ nhìn mình, không biết là mình đang “triển lãm” trước mặt người ta.

– Từ chuyện đó nên anh hàng xóm mới thích chị ?

Tôi cũng không biết, nhưng hồi đó tôi xinh lắm. Anh hàng xóm nhà giàu, mỗi lần ăn xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Mỗi lần thấy tôi đi qua, không dám đưa tận tay, anh quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Anh ấy và tôi học khác trường. Bốn năm trời anh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi. Mặc dù chưa một lần nắm tay, chưa một lần đi cùng, cũng chưa bao giờ nói thương tôi nhưng đến bây giờ khi gặp lại, anh bảo vẫn còn nhớ tôi. 9 Le Thu 4Nghe nói, cuộc sống riêng của anh ấy cũng không hạnh phúc lắm.

Khờ khạo nên mất chồng

– Từ một cô bé hồn nhiên tắm mưa để rồi thành ca sĩ nổi tiếng, cuộc đời của chị hẳn thay đổi nhiều lắm?

Mẹ tôi bảo có con gái trong nhà như trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên sợ tôi ế và đặc biệt là lo sa ngã. Đi hát, gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề. Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ hôn nên trong cuộc sống gối chăn, tôi cứ như… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí đần độn của vợ. Chỉ được hai tháng, anh ấy không thể chịu đựng nữa nên quyết định bỏ.

Gia đình chồng người Huế, anh ấy là con cưng. Còn tôi lại không biết nấu ăn, không biết làm dâu, nên họ không hài lòng. Kết thúc hôn nhân không có con cái, tôi về với mẹ. Bà cũng chẳng buồn vì mỗi lần lên thăm con đều cảm nhận được cảnh cơm nguội canh nhạt.

Lạ lùng bị chồng bỏ, tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa, bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy tình yêu của mình. Chia tay khoảng 5 -7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ. Khi ấy tên tuổi của tôi đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng hát hay và đi hát như một niềm đam mê.

– Cuộc hôn nhân đầu tiên không thành do chưa có kinh nghiệm với đàn ông, chưa biết thế nào là yêu. Vậy với cuộc hôn nhân thứ hai thì sao ?

Tôi gặp một Việt kiều về nước chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê và bỏ luôn gia đình bên đó. Năm 1963, tôi đi bước nữa. Sau này tôi mới biết chuyện này chứ nếu biết anh ấy có vợ con rồi, chẳng bao giờ tôi tiến đến hôn nhân. Gọi là rung cảm thực sự cũng chưa hẳn, nhưng tôi nghĩ nên có một gia đình để yên thân yên phận. Rồi hỏi, rồi cưới, rồi dang dở. Có thể người nghệ sĩ được ông trời ban cho thanh sắc, thì hạnh phúc gia đình bị lấy đi chăng?

– Giữ được hay đánh mất hạnh phúc, một phần cũng do người đấy chứ ?

Tôi từng tính bỏ hát để yên phận. Nhưng anh ấy không phải là người đàn ông của gia đình, đúng hơn là không phải là người chung thủy. Anh ấy hào hoa có sẵn, lăng nhăng có thừa, lại ảnh hưởng lối sống Tây hóa, tôi không chịu nổi nên cuối cùng phải bỏ, dù không cãi vã to tiếng. 9 Le Thu 6Bảy năm cho cuộc hôn nhân đó, chúng tôi có hai đứa con gái. Nếu đủ bản lĩnh, tôi đã giữ được chồng vì tôi có tiền, có danh, nhưng tôi không biết cách và cũng chẳng muốn giữ.

Anh ấy nhảy giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhiều phụ nữ thích cũng là bình thường. Nhưng thấy họ mê mình, anh ấy cũng mê lại. Ca sĩ L. cùng thời với tôi và rất nổi tiếng, theo đuổi chồng tôi. Tôi ít biết ghen, nhưng đã không thể chịu đựng những gì diễn ra trước mắt, tôi gần như phát điên. Đang đêm tôi tung mền, xé quần áo lao ra đường. Hai người giúp việc phải chạy theo trùm mền đưa về nhà. Đó là một cuộc hôn nhân bi thảm.

Ngỡ đã ngọt ngào

– Sau những cay đắng, hạnh phúc mỉm cười với chị khi nên duyên với một nhà báo. Nhiều người nói chính chị đã bỏ hạnh phúc này để đi Mỹ ?

Không phải thế. Năm 1969, chúng tôi gặp nhau, đến năm 1974 mới tổ chức đám cưới. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, có với nhau một đứa con gái, anh ấy rất yêu thương, lo lắng cho tôi. Hạnh phúc được thử thách qua tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau bao nhiêu cay đắng. Nhưng khốn khổ cho tôi. Tôi vừa đi Mỹ, lập tức đã có người phụ nữ khác đến nhà sống với anh ấy. Và một lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

– Đổ vỡ trong hôn nhân cũng là điều bình thường trong cuộc sống. Nhưng xin lỗi chị, đổ vỡ nhiều mà vẫn khờ khạo, liệu có bình thường không?

Người ta đồn tôi rất đoan chính, không ai đụng đến được nhưng không phải vậy. Thật ra tôi là kẻ khờ khạo, không dám lăng nhăng. Chẳng phải vì tôi nổi tiếng nên sợ lăng nhăng, người ta bêu rếu mình đâu. Đến giờ, tôi vẫn chưa giải thích được sự khờ khạo đó.

9 Le Thu 5Tôi từng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988, gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình. Và từ đó, tôi chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát, không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù có thích hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

– Sau này chị gặp lại người những đàn ông đó, có thành bạn bè như người chồng đầu tiên? Họ bây giờ ra sao ?

Cả ba người đàn ông đó giờ đều còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người qua Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và thăm hỏi nhau nếu có dịp. Riêng người chồng thứ hai ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi có ghé thăm anh ấy. Và tôi đã hóa giải hết mọi chuyện trong quá khứ rồi. Những người làm tôi đau, thậm chí kẻ thù, tôi bỏ qua hết để làm bạn. Tính của tôi vốn vậy, vì hận thù chỉ làm khổ mình thôi. Những người đã đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi. (theo Mốt & Cuộc Sống)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Le Thu 1MỘT CHÚT VỀ LỆ THU

Lệ Thu là một ca sĩ nổi tiếng, một trong những giọng ca lớn của tân nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng là người trình bày rất thành công nhiều nhạc phẩm trữ tình từ tiền chiến đến hiện đại (1945-1975).

Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16/7/1943 (năm Quý Mùi) tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông.

Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất cả 8 người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.

Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy nghệ danh Lệ Thu, trong một cuộc phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu”. Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau cô quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

Le Thu 2Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored Thing… Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp về tên Sơn.

Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các ca vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee rồi Ritz. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát.

Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một năm sau.

Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam và thu âm cho nhiều băng nhạc. Cùng với Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn trước 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.

Le Thu 3Trong sự kiện tháng 4/1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù ngày 28/4 đã tới phi trường bước chân lên máy bay nhưng rồi quay về. Lệ Thu gia nhập đoàn Kim Cương đi trình diễn. Thời gian đó Lệ Thu hát những ca khúc nhạc mới và cũng có những thành công như bài Hà Nội niềm tin và hy vọng. Khoảng năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê mang tên con gái út là Thu Uyển trên đường Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của đồng nghiệp là ca sĩ Thanh Lan và nhạc sĩ Lê Văn Thiện.

Tháng 11/1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu cũng vượt biên và đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.

Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong một buổi trình diễn đặc biệt do Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills. Sau đó cô cộng tác cùng các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim’s. Năm 1981 Lệ Thu thực hiên băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên Hát trên đường tử sinh. Tiếp theo là những băng Thu hát cho người gồm nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của cô.

Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát. Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ 9 Le Thu 7Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley (trích từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

NGHE TIẾNG HÁT CỦA LỆ THU

– Mùa Thu Chết – Phạm Duy

http://youtu.be/YJRH0abYJ5E

– Sang ngang – Đỗ Lễ

http://youtu.be/xMeIvdzFxdk

– Xin còn gọi tên nhau – Trường Sa

http://youtu.be/ni3S84VF45M

Lan Hương (hiệu đính và trích dẫn)

9-bach-yen-1NỮ DANH CA BẠCH YẾN

Vũ Hoàng

Là một trong 10 người được mệnh danh là “nữ ca sĩ có sức ảnh hưởng nhất Việt Nam”, danh ca Bạch Yến sau hơn 50 năm đứng trên ánh đèn sân khấu, vẫn với chất giọng trầm thuở nào, bà đã đang và sẽ còn làm mê hoặc nhiều thế hệ người nghe nhạc.

Một tuổi thơ đầy cơ cực

Âm nhạc đã đến với bà từ rất sớm, năm 7 tuổi, bà bắt đầu hát tại rạp Norodome Phnom Penh của Campuchia, đến khi 11 tuổi bà được giải nhất, huy chương vàng của đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Và bà chính thức bước vào con đường ca hát năm 14 tuổi.

“Có một lần ngang qua phòng trà, liều nhảy lên xin hát đại, lúc đó 14 tuổi, người ta thấy mình hát được vì mình cũng dạn dĩ, chắc mình cũng có duyên gì đó với âm nhạc, thành ra, anh Mạnh Phát và Ngọc Bích thấy mình hát như vậy cũng đồng ý, nói ngày mai quay trở lại và cho hát và như vậy là có chỗ hát là phòng trà Trúc Lâm.”

Thế nhưng ít ai biết được bà đã trải qua một tuổi thơ đầy cơ cực, khi cha bà muốn đưa gia đình về sống ở Nam Vang trong khi mẹ của bà lại muốn ở lại Việt Nam để các con không bị mất gốc. Cha mẹ chia tay, bà phải gồng vai phụ giúp mẹ bằng việc gia nhập một gánh xiếc với vai trò người lái mô tô bay.

“Hồi mà đi mô tô bay cũng là định mệnh khiến cho mình phải đổi nghề vì lúc đó nhà cửa bị cháy hết, người cha thì đi xa, mẹ thì không muốn trở lại, sống rất eo hẹp, khi mình bị đói, mình làm bất cứ một điều gì để sống. Rất may mắn là có một người cậu dạy cho đi moto bay, điều này chỉ cần can đảm và chịu khó luyện tập là mình có thể trở thành một nghệ nhân làm xiếc mô tô bay. 9-bach-yen-2Nhưng rồi sau khi trình diễn mô tô bay hơn 2 năm, gần 3 năm, lần chót cùng biểu diễn ở Hội chợ Thị Nghè bị té xuống, bầm bên màng tang, rồi dập vài cái xương sườn, không ngờ ngày nay, khi mình có tuổi, mắt mình có vết nứt, nên hơi khó khăn một chút, không được thấy rõ một bên.” 

Thành công

Sau nhiều thăng trầm của cuộc sống, cộng với niềm đam mê ca hát và sự học hỏi trong nghề cầm ca, bà đã có những bước tiến dài trên con đường nghệ thuật. Bà cùng mẹ sang Pháp năm 1961 để học phương pháp hát nhạc Tây Phương, sau khi trở về nước, đến năm 1965, bà được chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ mời để góp mặt khi muốn giới thiệu tiếng hát đặc biệt của bà đến khán giả Hoa Kỳ.

Thế nhưng chuyến đi 12 ngày ấy của bà đã biến thành một quãng đời dài 12 năm mà bà gắn liền với xứ sở Cờ Hoa sau đó. Trong suốt quãng thời gian từ 1965 đến 1978, bà là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên và cũng là duy nhất có cơ hội đứng chung cùng sân khấu với nhiều nghệ sĩ tên tuổi Hoa Kỳ như Bob Hope, Bing Crosby, Joey Bishop, Mike Douglas… bà cũng hát được 5 thứ tiếng khác nhau: Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái cùng với những điệu twist vô cùng độc đáo.

Khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, năm 1978, cơ duyên đến với bà, khi bà gặp giáo sư nghiên cứu âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải, chỉ vẻn vẹn trong một thời gian ngắn, hai người đã nên nghĩa vợ chồng. Sau bao hào quang của một nghệ sĩ lừng danh tên tuổi, bà đã đánh đổi dòng tân nhạc để chuyển sang hát dòng nhạc dân ca :

9-bach-yen-4“Điều thứ nhất là cô rất thích được hát nhạc dân ca từ xưa tới nay, mà chưa có cơ hội và kế đó, khi đi diễn với chú thì có vợ, có chồng, chứ nếu cô tiếp tục hát tân nhạc, thì 3 tháng mới được gặp chú một lần, bởi cô làm việc bên Mỹ, còn chú Hải làm việc bên Pháp, dường như lúc nào người phụ nữ cũng phải hi sinh. Ngoài chuyện hi sinh, thì cũng có một phần sở thích trong đó. Nếu nói về tài chính, cô hi sinh rất nhiều, vì đi làm tân nhạc kiếm được nhiều tiền hơn, nhưng cô nghĩ rằng, làm tân nhạc chỉ vui một thời, còn làm nhạc dân ca thì sẽ sống mãi, cuộc sống của tân nhạc rất phù du, không phải tồn tại hoài.” 

Bà kể rằng, để thay đổi cả một dòng nhạc mà bà vốn theo đuổi bao năm, giờ bắt đầu lại từ đầu, có quá nhiều thách thức :

“Rất là khó, rất là khó, cô chỉ hát được những bài thường thôi vì cô quen với tân nhạc rồi, thành ra muốn trở qua làm nhạc dân ca rất khó bởi cách trình bày cũng như cách dùng giọng của mình, rồi những luyến láy đòi hỏi mình phải hát rất Việt Nam, mà cô lại đi từ Tây phương quay trở về, thành ra khó hơn người nào chưa từng hát, nếu ai chưa từng hát, mà đi hát thẳng nhạc dân ca, thì sẽ dễ hơn nhiều lắm.

Cô đi với chú tính đến nay cũng đã hơn 30 năm rồi. Cô không hát những tác phẩm của chú vì khi làm nhạc dân ca là hát nhạc dân gian, bây giờ cô chuyên hát những bài hát ru, 9-bach-yen-3thí dụ như hát bài ầu ơ ví dầu, một điệu hát ru miền Nam thì như thế này…”

Ngao du vòng quanh thế giới

Sau hơn 30 năm ngao du, biểu diễn trên hơn 70 quốc gia, cùng hàng ngàn xuất diễn, ông đàn bà hát, hai nghệ sĩ đã mang âm nhạc dân tộc Việt Nam đến giới thiệu với bạn bè khắp năm châu bốn bể:

“Khi biểu diễn, trình bày nhạc dân ca cho người ngoại quốc nghe, thì (sự góp mặt của cô) cũng là thêm một bóng hồng trong chương trình, cho nó có màu sắc hơn. Khi chú trình bày và biểu diễn những cây đàn, nghe một lúc cũng sẽ hơi nhàm, khi cô xuất hiện, trình bày những bài hát ru xen kẽ, điểm đặc biệt đó là những bài hát không đệm đàn, kiểu acapella nên khán giả rất thích, để trình bày những bài hát ru đúng theo truyền thống, rất mộc mạc.”

Giờ đây, khi đã “thất thập cổ lai hi” nhưng nghệ sĩ Bạch Yến vẫn giữ cho mình một thần thái và sắc vóc không tuổi. Bà gìn giữ sức khỏe bằng cách đi bộ 4 cây số mỗi ngày, uống nhiều nước và dù bận thế nào thì bà cũng bỏ ra 30 phút mỗi ngày để tập thanh nhạc. Bà có một niềm đam mê nho nhỏ là hết mực yêu thương chiếc áo dài Việt Nam và đó là trang phục biểu diễn mà bà thường sử dụng khi giới thiệu về văn hóa và âm nhạc dân tộc Việt.

9-bach-yen-6Trước khi chia tay, danh ca Bạch Yến muốn được một lần nữa gửi tới những khán thính giả đã luôn sát cánh bên bà trong hơn nửa thế kỷ qua:

“Lúc nào cũng thích gần gũi khán giả và luôn luôn kính trọng khán giả, mỗi lần ra diễn là diễn bằng cả con tim với tất cả hình dáng, vẻ người, vì khi diễn tả một bài hát là mình diễn tả cả tâm hồn, mình muốn khán giả đừng thất vọng. Nhất là bây giờ, khi mình đã đi hát trên 50 năm rồi, lúc nào khán giả đi coi mình cũng chờ đợi lắm, thành ra lúc nào mình cũng muốn để những người tới nghe mình vui lòng. Cô nghĩ rằng, khán giả đã bỏ thì giờ đến, mua vé đi vô coi mà mình không đáp ứng được sự chờ đợi của khán giả thì điều đó rất bậy, nếu có lỡ đau ốm, cô cũng ra hát đàng hoàng, rồi sau đó, ngã ra chết cũng được, mình yêu nghề, mình thích làm cho khán giả được thỏa mãn, được vui, đó là điều mình rất chú trọng…” (bài phỏng vấn của Vũ Hoàng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Đọc thêm :xin bấm vào đường link sau đây : NS Phạm Duy – CS Bạch Yến   Trên “Một thời Sài Gòn” ngày 4/1/2013.

9-bach-yen-7– Bản nhạc làm nên thần tượng : Đêm Đông

http://youtu.be/aeL7tX7TIN4

http://youtu.be/JS7Jbv_rZzo

– Ca sĩ Bạch Yến hát tiếng Tây Ban Nha – TS Trần Quang Hải đệm ghita

http://youtu.be/IzuMQLKvQIQ

Danh ca Bạch Yến hát 1 bài tiếng Tây Ban Nha theo yêu cầu khán giả vào đêm 7/1/2011 tại tư gia GS Trần Văn Khê Q. Bình Thạnh), TS Trần Quang Hải đệm đàn ghita cho vợ. Chương trình Hội ngộ cuối năm gia đình văn nghệ: GS Trần Văn Khê – con trai cả TS Trần Quang Hải – con dâu ca sĩ Bạch Yến – con trai thứ KTS Trần Quang Minh

9:24MC Trần Quốc Bảo phỏng vấn nũ danh ca Bạch Yến tháng 11/2010 (part 1)

8:40MC Trần Quốc Bảo phỏng vấn nữ danh ca Bạch Yến tháng 11/2010 (part 2)

6:14MC Trần Quốc Bảo phỏng vấn nữ danh ca Bạch Yến tháng 11/2010 (part 3)

3:01Bach Yen chante LA VIE EN ROSE musique Louiguy, paroles Edith Piaf

6:04NE ME QUITTE PAS – Jacques Brel – Ca sĩ Bạch Yến

Quế Phượng chuyển tiếp

Tr Thu thuat

 

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (23)

Logo nhan vat

9 Chua Huong 1CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT

TUỔI THƠ

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

Hai tuổi mồ côi mẹ, hưởng dương tròn hai Giáp (24 năm), người con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh thật là điển hình của sự bất công tạo hóa.

Thế nhưng tạo hóa đã bù lại, ban cho con người những thiên bẩm, tài hoa đặc biệt. Đó là một trang nam nhi tuấn tú, đa tài, gắn trên bầu trời thi ca nước Việt những ánh sao lung linh – nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp là kết quả mối tình sét đánh giữa học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một người đa tài, đa tình đất Hà thành và cô gái Lạng Sơn, Phan Thị Lựu.

Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm – Hà Nội… Cô Lựu thường qua lại trọ ở khách sạn, nên quen biết ông Vĩnh. Rồi do duyên số, họ nên vợ nên chồng.

Khách sạn Trung Bắc nằm trong khuôn viên rộng mấy nghìn mét vuông. Mặt trước quay chính phố Hàng Trống, mặt sau quay ra phố Lý Quốc Sư. Cả hai mặt đều có cổng lớn, bên trong xung quanh có vườn, cây cối xanh tươi và cổ thụ. Giữa khuôn viên này là một biệt thự ba tầng, trang bị hiện đại để làm nhà khách sạn. Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai. Tại mảnh đất thơ mộng này, ngày 12/12/1914, Nguyễn Nhược Pháp ra đời, sau này tên tuổi in đậm trong “Thi nhân Việt Nam”.

Ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì nghỉ lại khách sạn với người vợ hai, tối mới về phố Mã Mây với vợ cả và các con. Tưởng thế cũng là yên ổn, nhưng số phận con người đa tài, đa tình lại vướng bận thêm nhiều và không thể dừng ở đó.

Ng Van Vinh 2Vừa tuổi lên 2 (năm 1916), Nguyễn Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm một người đàn bà khác, mà là một cô đầm lai đẹp như thiên thần, thì Phan Thị Lựu không làm chủ được tình cảm của mình. Nỗi ghen tuông đã trào lên và bà đã tìm cái chết để giải thoát.

Chập chững những bước chân trên đường đời, Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh Thị Tính – vợ cả ông Vĩnh – mẹ cả đón về nuôi như con đẻ, với một câu thở than : Cái bà Lựu ghen ngược. Người ghen phải là tôi…

Từ đó cho đến lúc lìa đời, suốt 22 năm (1916- 1938), Nguyễn Nhược Pháp đều sống với những người anh em cùng cha khác mẹ, trong một đại gia đình, thật vui vẻ và nhiều kỷ niệm sâu sắc.

Đọc những trang hồi ức của những người thân trong gia đình phần nói về tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, mới thấy rằng đây là một con người có nhiều phẩm chất cao quý, khi còn ấu thơ.

Năm 1923, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê, trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần hồ Tây. Đây là một trong những tài sản lớn của ông F.H Schneider – một người Pháp, vốn là đồng nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố quốc. Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái.

Gia sản đất đai của Schneider là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp, nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…

9 Chua Huong 3Bấy giờ hai người con lớn của bà Vĩnh là Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đang đi học ở nước ngoài. Còn ba người con gái: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân đã lớn, được ở khu biệt thự với bà Vĩnh và một người cô ruột là bà Nguyễn Thị Tý, làm dược sỹ ở nhà thương Phủ Doãn… Nguyễn Nhược Pháp được ở chung với 7 anh chị em còn nhỏ tuổi ở khu nhà ngang.

Trong đó có Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Dực, Nguyễn Hồ còn quá nhỏ, không tự lực được trong sinh hoạt, nên có một u già trông nom… Họ sống rất thoải mái, tự do và khép kín, tự quản, dường như người lớn không ai để ý đến…

Buổi sáng hằng ngày, Nhược Pháp cùng anh chị em học chữ nho khoảng nửa giờ do ông tú tài Phùng Năng Tĩnh người Bát Tràng làm gia sư, dạy dỗ. Rồi họ đạp xe đi học trường tư. Mọi sinh hoạt khác như giặt quần áo, cơm nước đã có người lo hết.

Trong số 7 anh em, Nhược Pháp là con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương (con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh không hành xử theo lối ấy.

Theo kể lại, Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức, nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt động, sinh hoạt thể thao, vui chơi rất văn hóa.

Nhược Pháp có sáng kiến làm một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người cần tránh, ví như những từ ngữ : đếch, bỏ mẹ, bỏ xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói… Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.

9 Ng Nhuoc Phap 1Nhược Pháp bày trò tập bơi. Khi thì hồ Tây, khi thì ra ao đình làng Thụy Khuê, lúc đến hồ Trúc Bạch. Bảy anh em đều biết bơi kể cả con gái. Nhược Pháp yêu môn bơi lội nhất. Cho tới những ngày mới bị bệnh, anh vẫn chưa chịu bỏ bơi.

Ngày chủ nhật, Nhược Pháp tổ chức đua xe quanh Hồ Tây, có giải thưởng, thu hút các bạn học cùng tham gia. Lại tổ chức trượt pa-tanh. Ban đầu chơi trên đường Hoàng Hoa Thám, sau đường đua dài đến Quần Ngựa, vòng trở về lối Thụy Khuê… Rồi tổ chức tham quan du lịch bằng xe đạp, quanh Hồ Tây, rồi quanh Hà Nội và đi xa hơn.

Mỗi tuần, cha thường cho các con tiền đi xem chiếu bóng, Nhược Pháp rủ rê mấy anh chị lớn hơn, để dành tiền ấy, làm vốn in báo Tuổi Cười. Nhược Pháp làm chủ nhiệm, Nguyễn Phổ làm chủ bút, Nguyễn Kỳ quản lý nhà in. Báo in thạch, hai màu đỏ và tím.

Mỗi tháng một số, có 16 trang, khổ 15×20 cm. Nội dung tờ báo là thông báo những tin tức gia đình, nêu tên ai học giỏi, phê phán những việc xấu. Lại có trang thể thao, biểu dương kỷ lục mới (trong gia đình), có quảng cáo các buổi diễn kịch, diễn xiếc do anh chị em tổ chức trong nhà. Trang cuối có in thơ của Nhược Pháp sáng tác.

Mỗi số ra 10 tờ, bán 5 xu cho người lớn và các anh chị lớn. Báo phát hành được mấy năm. Sau này lớn lên, Nhược Pháp đã chọn những bài thơ trong báo Tuổi Cười, thành tập thơ Ngày Xanh. Nhược Pháp còn tổ chức một đội kịch gia đình, mà chính anh viết kịch bản và đạo diễn… Các anh chị em làm diễn viên.

9 Ng Nhuoc Phap 2Nhà có xưởng in rộng, họ kê bàn ghế thành sân khấu, tạm dùng câu đối nhà thờ trang trí, lại làm phông màn, chăng điện… nghĩa là như sân khấu thật. Giá vé 5 xu một chỗ ngồi.

Những người lớn trong nhà cũng mua vé và ngồi xem cổ vũ con em mình… Có buổi ông Vĩnh cũng ngồi xem các con diễn, ông thấy lòng tràn ngập niềm vui… Nhược Pháp còn hướng dẫn thành lập đội xiếc, phân vai diễn : Người diễn xiếc xe đạp, người làm ảo thuật,, người dậy thú, người thổi kèn.

Nguyễn Nhược Pháp có những thú vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một truyện ngắn, vở kịch…khi có tiền nhuận bút thì rủ một hai em, hay vài bạn bè đi ăn phở xách Nghi Xuân bang thất ở phố Hàng Đàn, giá 5 xu một bát…

Nhược Pháp đã viết được một số vở kịch, và có một ước mơ, là cùng với Phạm Huy Thông, bạn học thời ở Trung học Albert Saraut, tri kỷ văn chương, cùng nhau tổ chức một Đoàn kịch không chuyên, đưa lên sân khấu vở kịch Người học vẽ của mình.

Nhược Pháp như một trang giấy trắng thơm, một bông hoa thanh khiết. Vào những năm cuối đời, trái tim chàng thi sỹ, tác giả bài thơ Chùa Hương đã xôn xang trước một cô gái áo đen, phố Hàng Đẫy, như một lời tỏ tình.

Đó là một tiểu thư, một trong tứ mỹ Hà thành bấy giờ. Hằng ngày đạp xe qua nhà, đứng bên này đường nhìn vào vườn nhà em, ngắm nhìn bóng em thấp thoáng. Rồi hình ảnh cô gái áo đen trong vườn của nhà họ Đỗ ở phố Hàng Đẫy, cứ sống mãi trong tim Nhược Pháp…

Nhược Pháp chưa tường mặt thân mẫu của mình, nhưng được mẹ cả hết lòng yêu thương, như con đẻ. 6 Di chua huong 1Trước khi nhắm mắt ra đi về cõi vĩnh hằng, bà dặn lại Hãy đặt mộ của tôi nằm bên cạnh Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ra là hoạt động, cả đến khi nhuốm bệnh vẫn không ngừng ý chí vươn lên vượt qua số mệnh.

Từ 2 tuổi Nhược pháp sống với mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. 6 năm tiếp theo học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung Bắc học hiệu – phố Lý Quốc Sư). 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần nhất, 1935 đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật. Nhược Pháp luôn học giỏi, xứng đáng cho các em noi theo.

Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia đình Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình cho mình…

Từ sau khi chị Nội đang đi học Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất( 1936), chị Vân mất (1938), và tin anh Hải mất trong Nam… Nhược Pháp buồn đau, nhuốm bệnh lao hạch… Hng Ng Van DanhNgày 19/11/1938 ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24 tuổi.

Ông để lại ba bức thư. Một bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và gia đình (khi ấy ông Vĩnh mất được hai năm). Một bức gửi cho người anh là nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện, hãy chăm sóc mẹ cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.

Ban đầu, thi hài Nhược Pháp được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha. (theo Khúc Hà Linh)

Bài viết lấy tư liệu từ gia đình nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

9 Ut bach Lan 1ÚT BẠCH LAN :

TIẾNG CA NỨC NỞ

TỰ ĐÁY LÒNG      

Lê Phước

Trong lịch sử cải lương gần 100 năm nay, người mộ điệu đã nhiều giọng ca nữ mùi mẫn, điêu luyện. Thế nhưng, nếu phải xếp thứ hạn, thì đứng hàng số một phải là nữ nghệ sỹ Út Bạch Lan, một giọng ca đã thành danh hơn 60 năm, một giọng ca điêu luyện và như tiếng nức nở tự đáy lòng, một giọng ca được mệnh danh là “Nữ vương sầu nữ”.

Đời sương gió

Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sanh năm 1935, tại Đức Hòa – Long An. Tuổi mới lên mười, bé Hai đã phải theo mẹ rời quê hương lên Sài Gòn sống cảnh tha phương cầu thực. Số phận đưa đẩy cho những người khốn khổ gặp nhau để đùm bọc lẫn nhau. Số là, trong cuộc sống lang thang ở đất Sài Thành, mẹ bé Hai đã kết nghĩa chị em với một người phụ nữ cùng cảnh ngộ. Người phụ nữ này có một đứa con trai lớn hơn bé Hai vài tuổi. Cậu con trai đờn ghi ta phím lõm rất giỏi, và cũng chẳng ai khác mà chính là danh cầm Văn Vĩ sau này. Bốn con người, hai già hai trẻ, chia sẻ cuộc sống “ngủ thớt thịt” giữa đất Sài Gòn đô hội.

Nếu Văn Vĩ giữ vị trí thống trị đến hiện tại trong tiếng đờn ghi ta phím lõm, thì bé Hai cũng thống trị làng cổ nhạc với giọng ca điêu luyện thần sầu được mệnh danh là “Nữ hoàng vọng cổ”. Văn Vĩ đã dạy cho bé Hai ca cổ nhạc. Và giữa giọng ca bé Hai và tiếng đờn Văn Vĩ có một sự tương đồng đặc biệt. Nếu tiếng đờn của Văn Vĩ thuộc loại nỉ non, mùi mẫn và điêu luyện nhất trong làng đờn cổ nhạc, thì giọng ca bé Hai cũng thuộc hàng số một trong độ mùi mẫn, nỉ non và điêu luyện.

9 Ut bach Lan 6Hai anh em, một đờn một ca, đã bắt chước những người hát rong để đi hát dạo ở các khu chợ sầm uất ở Sài Gòn để kiếm tiền nuôi mẹ. Một ngày kia, vào cuối những năm 1940, giọng ca Út Bạch Lan và tiếng đờn Văn Vĩ đã được nghệ sỹ Thành Công, trưởng ban cổ nhạc của Đài phát thanh Pháp-Á lúc bấy giờ phát hiện và mời về đài thu thanh. Khi ấy, giọng ca nhí đang ăn khách trên Đài phát thanh Sài Gòn là Bạch Huệ, nên nghệ sỹ Thành Công mới tính đối lại mà đặt cho bé Hai nghệ danh là Bạch Lan. Nhưng do bé Hai thường được mẹ gọi là “Út”, nên mới xin giữ lại chữ “Út”.

Mở đường cho nửa đời hương phấn

Từ sau khi được phát hiện, Út Bạch Lan đi ca cho đài phát thanh và cho quán Họa Mi của nữ danh ca Cô Năm Cần Thơ. Đến đầu những năm 1950, Út Bạch Lan mới chính thức đi theo đoàn hát chuyên nghiệp và bắt đầu cuộc đời gạo chợ nước sông.

Người đóng cặp ăn khách nhất hồi thời trẻ của Út Bạch Lan là nam nghệ sỹ Thành Được. Cả hai đều vừa có sắc vừa có giọng ca. Thành Được ca chân phương và sang trọng. Đôi đào kép chánh này từng một thời “làm mưa làm gió” trong làng sân khấu cải lương. Đến đầu năm 1962, hai người thành lập đoàn hát riêng mang tên Thành Được-Út Bạch Lan. Ngay cả sau này khi về đầu quân cho đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, thì cặp đào kép chánh Thành Được-Út Bạch Lan vẫn luôn ăn khách.

Hai người đã để lại nhiều vai diễn ấn tượng. Tuy nhiên, nhắc đến Thành Được-Út Bạch Lan, thì người mộ điệu trước tiên nhớ đến vở tuồng tình cảm xã hội “Nửa đời hương phấn” của liên danh soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng. Bàn riêng về Út Bạch Lan, khi trình diễn vở tuồng này vào giữa những năm 1960, tên tuổi Út Bạch Lan mới thật sự trở nên lừng lẫy. Và vai Hương trong Nửa đời hương phấn của Út Bạch Lan đã tạo một cái bóng quá lớn cho thế hệ sau.

9 Ut bach Lan 4Quả thật như vậy, vì trong vai cô đào chánh tên Hương, Út Bạch Lan đã thật sự đạt được trình độ “bước ra sân khấu thì phải diễn, nhưng đừng diễn”. Tức là, ở vai tuồng này, sân khấu cuộc đời và cuộc đời sân khấu ở Út Bạch Lan đã quyện vào nhau. Út Bạch Lan diễn rất tự nhiên, rất nhập vai và rất mùi mẫn.

Vở tuồng xoay quanh số phận của cô gái quê ở Lái Thiêu tên Hương, phải lên Sài Gòn làm ăn để kiếm tiền phụ giúp cho cha mẹ. Thế nhưng, cạm bẫy cuộc đời đã xô đẩy Hương vào con đường buôn hương bán phấn. Bị gia đình người yêu không chấp nhận vì chê Hương thân phận gái làng chơi. Rồi khi về quê, Hương bị cha đuổi ra khỏi nhà sau khi phát hiện việc cô làm ở Sài Gòn. Khi người yêu đi cưới vợ, thì người vợ đó lại chính là em gái ruột của Hương. Nỗi đau chồng chất nỗi đau như vậy, nhìn lại nửa cuộc đời hương phấn của mình thấy quá ư là bất hạnh, cuối cùng Hương đã vào chùa quy y thí phát.

Màn ca diễn mùi mẫn nhất của Út Bạch Lan trong tuồng này là màn chót, cảnh mẹ, em gái và chồng của em gái (tức người yêu cũ của Hương) cùng gặp Hương tại cổng chùa. Mọi chuyện được phơi bày, Hương quyết lòng theo tiếng mõ chuông.

Út Bạch Lan đã để đời khi ca ba câu vọng cổ từ biệt mẹ và dặn dò vợ chồng em gái quên đi chuyện cũ mà sống cho hạnh phúc. Lúc này, Hương phải ra sức dằn nén đau khổ trước mặt mẹ và em gái để cho mọi người an tâm về mình. Thế nhưng, trong tận cùng sâu thẳm tâm hồn, nỗi đau cuộc đời vẫn đang giằng xé. Út Bạch Lan đã xử lý giọng ca một cách tinh vi khi mà trong từng lời nói, lời ca, người nghe cảm nhận được những tiếng nấc, nhưng tiếng nức nở tự đáy lòng.

9 Ha trieuVà khi nói lối tới đoạn: “Má ơi! mái tóc dài óng ả, con đã từng ve vuốt ấp yêu. Rồi nơi phồn hoa trong một buổi chiều, người ta đã cắt đi của con phân nửa. Rồi trong một đêm vừa đau vừa tủi, con lại cắt đi mái tóc sau cùng. Con đau lòng ngất lịm. Khi tỉnh dậy, sờ lên đầu thì tóc đâu không còn nữa, con hoảng hốt la lên, trời ơi, ai đã cắt tóc của tôi rồi! Má ơi, chừng nhớ ra chính tay con đã cắt tóc của con rồi…”. Út Bạch Lan đang nói chợt thét lên “trời ơi, ai đã cắt tóc của tôi rồi», khiến cho người nghe chợt thấy con tim sao mà nhói đau đến thế. Cách diễn này cho thấy sự nhập vai phi thường của Út Bạch Lan. Ba câu vọng cổ đó, đến hiện tại dù đã nhiều ngôi sao cải lương diễn lại vai Hương, nhưng chưa có ai thể hiện đạt được trình độ bi thiết như vậy.

Bất tử trong Tuyệt tình ca

Một vai để đời nữa trong nhiều vai để đời của Út Bạch Lan là vai cô giáo Lê Thị Lan trong vở Tuyệt Tình Ca (Ông cò quận 9) cũng của liên danh soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng.

Cốt truyện xoay quanh cuộc tình dang dở của ông giáo Hương và cô giáo Lan. Số là ông giáo Hương từ Mỹ Tho được đổi về dạy học tại Vĩnh Long. Dù đã có vợ con ở tại nguyên quán, ông vẫn sống cùng với một bạn đồng nghiệp là cô giáo Lê Thị Lan và có hai con: Lê Thị Trường An và Lê Long Hồ. Sau đó vì việc nhà ông phải trở lại Mỹ Tho. Chiến tranh đã làm ông mất liên lạc với gia đình người vợ thứ. Hai mươi năm sau, ông Hương trở thành cảnh sát trưởng quận 9 tại Sài Gòn. Một hôm Ông Cò bắt được một cô gái mại dâm tên là Trường An, mà trớ trêu thay cô gái đó lại chính là đứa con gái của ông với cô giáo Lan ngày trước.

Thủ vai Ông Cò là nghệ sỹ Út Trà Ôn. Màn hay nhất là cảnh hai người gặp lại trong ngôi nhà nghèo túng của ba mẹ con. Út Trà Ôn – Út Bạch Lan đã ca diễn xuất thần đoạn hội ngộ đầy thống thiết này. Chỉ với ba câu vọng cổ 4, 5, 6, Út Trà Ôn và Út Bạch Lan đã đủ làm bất tử hai vai diễn. Hai người ca điêu luyện, trữ tình, làm quặn thắt con tim người mộ điệu.

Út Trà Ôn là bậc tiền bối của Út Bạch Lan. Khi Út Bạch Lan bước chân vào nghề, thì cái tên Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã vang dội. Nhưng có lẽ tổ nghiệp cố tình sắp đặt cho đôi nghệ sỹ có nghệ danh bắt đầu bằng chữ “Út”, nên mới tạo ra cặp liên danh Út Trà Ôn – Út Bạch Lan cho sân khấu cải lương. Và đến hiện tại, đối với người mộ điệu cải lương, hễ nhắc đến Út Trà Ôn là nhắc đến Út Bạch Lan và ngược lại. Có thể nói, đây là hai nghệ sỹ tương xứng về cách diễn và sự điêu luyện, mùi mẫn trong giọng ca.

9 Ut Tra On 1Ngoài hai vai kể trên, Út Bạch Lan còn để đời trong Sơn nữ Phà Ca, Con gái chị Hằng, và rất nhiều vở tuồng khác nữa, như: Chưa tắt lửa lòng, Bên đồi trăng cũ, Thuyền ra cửa biển, Nửa bản tình ca, Khi rừng mới sang thu, Khi hoa Anh Đào nở, Trăng sương cầu Trúc, Thần nữ dâng ngũ linh kỳ, Thanh Xà Bạch Xà.…

Tiếng ca nức nở tự đáy lòng

Nhìn lại sự nghiệp ca diễn của Út Bạch Lan, ta thấy Út Bạch Lan chuyên trị các vai đào thương có số phận đau khổ. Thế nhưng, hai chữ “Sầu nữ” có một phần lớn xuất phát từ giọng ca của Út Bạch Lan.

Nổi danh cùng thời với Út Bạch Lan là nữ danh ca Thanh Hương. Đây là hai giọng ca nữ « oanh liệt” của những năm 1960 và vẫn còn ngự trị đến hiện tại. Mỗi người có một nét riêng. Giọng của Thanh Hương là giọng đồng pha thổ nhưng thổ nhiều hơn đồng nên ca hơi trầm. Giọng Út Bạch Lan cũng là đồng pha thổ nhưng thổ ít hơn đồng nên ca trong trẻo hơn và lảnh lót hơn. Thanh Hương thì ca thuần túy mộc mạc chân phương, và mạnh mẽ. Còn Út Bạch Lan thì ca có chút hoa lá cành, giọng ca mềm hơn, lả lướt hơn, nữ tính hơn. Hai giọng ca, một nhu một cương, đã chinh phục không biết bao nhiêu con tim người mộ điệu. Tuy nhiên giữa hai người lại có một điểm chung, đó là có bộ nhịp thượng thừa. Cách sắp chữ của hai người cùng vô cùng tinh diệu.

Bàn riêng về giọng ca Út Bạch Lan, đây là một giọng ca chưa có người thay thế tính đến hiện tại. Út Bạch Lan có cách nhấn dấu sắc lửng rất hay, vút lên rồi nhẹ nhàng rơi xuống như chiếc lá mùa thu bay trong cơn gió nhẹ. Giọng ca Út Bạch Lan nghe “ngọt như mía lùi”. Bộ nhịp của Út Bạch Lan thì khỏi chê. Cách hành văn sắp chữ rất điêu luyện. 9 Ut bach Lan 5Út Bạch Lan ca luyến láy một cách thần tình : luyến láy đúng nơi đúng chỗ và vừa đủ, không bị thô, luyến láy theo kiểu «đứt dây đờn». Cách điều hơi của Út Bạch Lan cũng đáng nể : Nghe Út Bạch Lan ca, người nghe không thấy cô phải ráng hơi, cô ca như nói, ca rất tự nhiên.

Tuy nhiên, hai nét đặc trưng lớn nhất trong giọng ca Út Bạch Lan là cách xuống xề và độ sầu trong tiếng ca. Út Bạch Lan xuống xề ở câu 5 và câu 6 rất thấp, rất trầm, cô phát huy hết chất đồng trong giọng ca của mình và cô đã tạo ra cách xuống xề hay đến mức mà người nghe chữ cô xuống xề như hòa tan vào tiếng đàn. Nói chung là nghe là biết ngay đó là cách xuống xề thần sầu của Út Bạch Lan. Đến hiện tại, trong làng cải lương, đây vẫn là một cách xuống xề độc nhất vô nhị.

Còn về độ sầu, chất giọng của Út Bạch Lan có một độ sầu không thể tưởng. Út Bạch Lan ca nghe giống như tiếng đờn ghi ta phím lõm của danh cầm Văn Vĩ: nỉ non như tiếng lòng thổn thức, mang đến một cảm giác man mác chơi vơi. Giọng ca đó không ồn ào, mà nó rỉ rả, rồi dần len lõi vào mọi ngóc ngách của tâm hồn, làm quặn thắt con tim người mộ điệu. Từ đó, giọng ca Út Bạch Lan có độ thẩm thấu rất cao. Đến hiện tại, chưa thấy có giọng ca nữ nào trong làng sân khấu cải lương có độ “sầu” đến như vậy.

9 Ut bach Lan 3Út Bạch Lan đã thành công với rất nhiều bài vọng cổ. Út Bạch Lan được xem là người đã cùng với Út Trà Ôn mở đường đưa bản vọng cổ nhịp 32 lên tới đỉnh cao trong hệ thống bài bản cải lương. Trong vô số các bài ca cổ do Út Bạch Lan thể hiện thành công, có thể kể đến một số bài tiêu biểu: Lan và Điệp, Liễu rũ hoa sầu (Phàn Lê Huê), Xuân đất khách, Tiếng ve sầu, Đào Tam Xuân, Hoa Lan Trắng, Mẹ dạy con, Nước mắt nàng dâu, Đèn khuya, Trái tim cò trắng, Tình người cung nữ, Tâm sự Mai Đình…

Trong đó, nổi tiếng nhất có lẽ là bài Lan Và Điệp. Bài ca này đã gắn liền với tên tuổi Út Bạch Lan. Và đến hiện tại, có nhiều giọng ca nổi tiếng thể hiện, nhưng chưa ai qua được bà. Tuy nhiên, để thưởng thức được sự điêu luyện và cái chất “Sầu nữ” trong giọng ca Út Bạch Lan thì không thể nào bỏ qua hai bài Tiếng Ve Sầu và Đào Tam Xuân.

Thường khi dứt vọng cổ câu hai, từ nhịp Tư, nghệ sỹ canh chừa đủ 4 chữ để ca vô khuôn cho ngọt, nếu trên bốn chữ thì phải ca dồn chữ. Trong bài Đào Tam Xuân, Út Bạch Lan canh xuống chữ dấu huyền ở nhịp Tư câu Hai một cách rất tự nhiên, người nghe không thấy cô phải dừng lại để canh nhịp. Tức là Út Bạch Lan hành văn liên tục trên dây đờn một cách rất điêu luyện và rất tự nhiên, nghe mà “”đã cái lỗ tai”. Cách sắp nhịp này nói thì dễ chứ chưa thấy ai ca theo kiểu đó được tự nhiên và hay như Út Bạch Lan. Cách ca này được thể hiện rất rõ trong bài Đào Tam Xuân của soạn giả Viễn Châu.

9 Ut bach Lan 7Hay như trong bài Tiếng Ve Sầu, khi dứt vọng cổ câu Bốn, Út Bạch Lan ca chồng chữ ở năm chữ cuối một cách rất hay, rất ngọt, rất điêu luyện, thể hiện một trình độ ca thượng thừa chỉ có ở Út Bạch Lan. Còn bài Hoa Lan Trắng, đây là một bài hát đặc biệt với Út Bạch Lan. Đầu những năm 1960, soạn giả Viễn Châu đã viết bài này theo kiểu đo ni đóng giày, kể về chính cuộc đời ba chìm bảy nổi về tình duyên của Út Bạch Lan. Út Bạch Lan ca rất hay Hoa Lan trắng. Trong những năm gần đây, khi ở cái tuổi bát tuần, Út Bạch Lan vẫn ru hồn khán giả bằng bài Hoa Lan trắng.

Một điều đáng quý nữa là, dù đã là bậc thầy trong ca diễn, nhưng mỗi khi xuất hiện trên sân khấu ca mấy câu vọng cổ, mà là những bài vọng cổ « ruột », thì người xem vẫn thấy Út Bạch Lan ca rất tập trung, rất nghiêm túc, chứ không bao giờ uốn éo hay chạy nhảy quá đà như một số nghệ sỹ thành danh khác. Đây là một điều đáng quý ở một nghệ sỹ cải lương lão làng, thể hiện sự tôn trọng nghề và tôn trọng khán giả của người nghệ sỹ.

Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày Út Bạch Lan bước chân vào nghề, đến hiện tại, cái vương hiệu “Sầu nữ” vẫn thuộc về cô. Nếu như Thanh Hương được mệnh danh là “Đệ nhất danh ca”, thì Út Bạch Lan vẫn xứng đáng với danh hiệu “Nữ hoàng vọng cổ”. Cái bóng Sơn nữ Phà ca, Nửa đời hương phấn, Cô giáo Lan, Lan và Điệp của Út Bạch Lan hiện vẫn còn rất lớn.

Ở cái tuổi 80, Út Bạch Lan vẫn còn tham gia ca hát, giọng ca cô vẫn nỉ non, vẫn là tiếng ca nức nở tự đáy lòng, có thể làm tan chảy bất kì con tim sắt đá nào. SG Ph Tat DaiGiọng ca Út Bạch Lan là một chuẩn mực, một đỉnh cao chưa có người thay thế. Tên tuổi Út Bạch Lan gắn với nhiều mỹ danh nhất trong số các nữ nghệ sỹ cải lương: Vương nữ Sương chiều, Nữ hoàng Vọng cổ, Nữ vương Sầu nữ, Sầu nữ liêu trai, Đệ nhất đào thương…Đó là phần thưởng lớn nhất và quý giá nhất mà tổ nghiệp và người mộ điệu dành tặng cho một người nghệ sỹ.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Logo thu gian 2

Con ga 1Truyện Trạng Quỳnh : Chọi gà

Tên cầm đầu thị thần và bọn hoạn quan trong phủ Chúa rất ghét Quỳnh. Chúng bèn bàn nhau tìm cách hại Quỳnh. Chọi với Trạng thế nào nổi về mặt đối đáp nghĩa lý, văn chương, bọn chúng bày ra chọi gà. Chúng nuôi nhiều gà nòi nổi tiếng, có con ăn giải mấy năm liền, nức tiếng cả kinh kỳ, phố Hiến. Lúc đầu chúng đến gạ, Quỳnh từ chối. Sau thấy chúng nài nỉ năm lần, bảy lượt, Quỳnh chậc lưỡi : “Ừ thì chọi”. Bên kia mừng rơn, vội về phục thuốc, phục sâm cho gà đẫy lực trước khi ra sân đấu. Chúng còn dẻo miệng tán tỉnh mời được cả Chúa nhận lời đến ngự tọa cuộc vui.

Sới chọi mở giữa ban ngày vào một buổi sáng tại sân nhà Trạng. Không kể nhà Chúa và lũ lâu la hầu cận, hôm ấy nhiều quan văn, quan võ trong triều, cùng dân chúng kinh thành nghe tiếng, chen chúc chật như nêm.

Một hồi ba tiếng trống vừa dứt, cả hai đều tung gà ra sới. Gà của bọn quan thị, thoạt trông đủ biết là gà chiến lão luyện. Da nó trần trụi đỏ au, đôi mắt là hai hòn than lửa, mỏ thì quặp xuống, trông còn dễ sợ hơn mỏ đại bàng. Nó chưa rướn cổ, giang cánh, chỉ mới ướm cựa đặt những ngón chân xuống nền bằng mà bụi cát đã vẩn lên từng đám… Trong khi đó, trông đến gà của Trạng, ai cũng phải cười. Không những nó thiếu khí thế oai phong, ngay đến cốt cách bình thường của một con gà chọi cũng không có được. Tr DV con ga 2Nhìn kỹ, nó như loại gà sống thiến, nhưng ở đây, chưa có ai có thể bất ngờ tới điều đó. Biết đâu đấy “tâm ngẩm đá ngầm chết voi” thì sao ?

Hai “đấu thủ” gặp nhau ở vòng giao chiến thứ nhất. Người ta thấy gà của Trạng không thủ thế gì, đập cánh phành phạch nhảy chồm ngay lên mổ vào đầu đối phương. Số đông khán giả vốn có cảm tình với Trạng ghét lũ nịnh thần quan hoạn, đã vỗ tay reo hò. Vừa ngay đấy, con gà thiện chiến kia ra miếng. Chỉ một loáng, nó xỉa cựa chân trái vỡ ức con gà của Trạng… Kẻ “chiến bại” rũ lông cánh nằm giẫy đành đạch… Trên chòi cao, Chúa cả mừng cười khoái trá. Người đứng xem chán ngán bỏ về, còn bọn quan thị thì hò reo đắc thắng. Một tên đến trước mặt Trạng, nói khiêu khích :

– Thế mà có kẻ dám bảo gà của Trạng mấy lần chọi thắng gà của xứ Tàu. Té ra chỉ toàn đồn hão !

Quỳnh làm bộ buồn phiền đáp lại : Vâng, các ông nói phải. Trước kia gà của tôi cũng cứng cựa, nhưng từ khi nó bị thiến nó mới đâm ra đổ đốn thế này.

SG Lan caysuBây giờ  nhà Chúa và lũ tay chân mới biết Trạng chơi xỏ, đem gà thiến ra chọi với gà chính cống. Thầy tớ Chúa tôi bẽ mặt, nháy nhau rút quân cho nhanh. Trạng vẫn không tha, cứ lễ mễ ôm con gà chết, chạy theo đám quan gia, cờ, quạt… mà khóc:

– Khốn nạn thân mày, gà ơi ! Mày đã bị thiến thì còn đua đòi làm gì ? Tao đã bảo, mày không nghe, mày cứ ngứa nghề mà tranh chọi… Hu…hu… mày chết nhục nhã, hèn hạ cũng là đáng đời mày, chỉ thương tao tốn cơm, phí thóc, mất công toi nuôi mày, gà ơi là … con gà… bị thiến… kia ơi !

Tiếng Trạng khóc gà “đuổi” tận vào cung cấm. Bọn quan lại đóng chặt mấy lần cửa, vẫn còn nghe văng vẳng câu chửi mỉa đau như hoạn.

Lan caysu chuyển tiếp

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Logo vannghe A

Ng Nhuoc PhapCÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Qua thi phẩm đầy lãng mạn của :

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

(1914 – 1938)

– Bài NGUYỄN VIỆT

Nói đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp phải nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Chùa Hương” của ông và nhạc phẩm “Đi chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914, ở xã Phượng Dực, huyện Phú Xuân, Hà Nội. Là con trai của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn là một ông chủ nhà in mang tên Trung Bắc Tân Văn ở xứ Bắc thời kỳ bấy giờ; còn mẹ ông là bà vợ hai của cụ Vĩnh tên Hai Lựu. Đến giờ không ai rõ tên bà Hai Lựu, chỉ biết bà người cao ráo, trắng trẻo, giao du rộng, nói thạo tiếng Pháp và sử dụng súng ngắn rất thành thạo.

Trong gia đình, Nguyễn Nhược Pháp có các người anh cùng cha khác mẹ, thuộc dòng bà cả, gồm nhà thơ Nguyễn Giang (về sau ông này là bạn thân của họa sĩ Picasso) sinh ở Bắc Giang; người anh thứ tên Nguyễn Dực sinh ở Phượng Dực, Nguyễn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp – Phổ và Nguyễn Hồ anh út.

Khi đi học Nguyễn Nhược Pháp học tại trường Albert Sarraut và sau khi thi đậu tú tài, ông vào học tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương. 9 Chua Huong 2Nhưng sau đó như để nối nghiệp cha, lúc thành tài ông không vào làm bất kỳ ngạch quan lại hoặc công chức nào trong chính quyền, mà làm thơ viết văn làm báo.

Nguyễn Nhược Pháp làm thơ rất sớm ngay còn thuở còn mài đủng quần nơi ghế nhà trường; vì theo nghề cha nên ông từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Truyện ngắn và kịch của ông có lẽ không phổ biến nhiều và không nổi tiếng bằng thơ. Ngoài thi phẩm “Chùa Hương”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp còn có những bài thơ khá nổi tiếng khác như “Tay Ngà” và “Sơn Tinh Thủy Tinh” (bài thơ này ông viết tặng Nguyễn Giang con bà cả).

Năm 1936 lúc nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã hơn hai mươi hai tuổi, ông đang nổi tiếng với tập thơ “Ngày xưa”, gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử của thân sinh là cụ Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó gia cảnh đang thuộc hàng giàu có ở Hà Thành bỗng dưng sa sút, có thể từ hoàn cảnh đó đã khiến cuộc đời người thi sĩ tài hoa này đã bước sang hướng khác. Nên từ thời điểm đó cho đến khi Nguyễn Nhược Pháp qua đời chỉ vài năm sau, ông không có thêm tập thơ nào cũng như một bài thơ nào nổi bật, kể cả người gần gủi với ông về mặt tinh thần tức nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ cũng không đề cập đến thân thế của ông nhiều trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”.

Người tài thường đoản mệnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời lúc ông mới 24 tuổi vào ngày 19/11/1938, do bệnh thương hàn.

Tác phẩm Nguyễn Nhược Pháp đã in cóNgày xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935), Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội).

Trong thi phẩm “Ngày xưa”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sắp xếp thứ tự như sau : Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn; Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn; Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn; Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn; Mỵ Nương (Mai 1933), thất ngôn bát cú; Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn; Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932), 9 Chua Huong 3thất ngôn bát cú; Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn; Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn và Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoàn Chân đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” về ông :

– Nguyễn Nhược Pháp in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tý Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý : với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Bài thơ “Chùa Hương” nổi tiếng của ông đã được ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Đức và giáo sư  Trần Văn Khê phổ nhạc.

…Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó. Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân… nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ… có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.

Bài thơ “Cô gái chùa Hương” khi in vào tập “Ngày Xưa” thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát “Em đi chùa Hương”. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, nhạc phẩm này đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

9 Chua Huong 5Đến nay, bài thơChùa Hương” đã gần 80 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 76 năm, song “Chùa Hương” cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương cùng với thời gian…

Xuất xứ bài thơ “Chùa Hương”

Trong cuốn Văn sĩ thi sĩ tiền chiến” của nhà thơ Nguyễn Vỹ, (chủ nhiệm bán nguyệt san Phổ Thông; từng là bạn chơi thân với Nguyễn Nhược Pháp, vì Nguyễn Vỹ chỉ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh ở đất Quy Nhơn nhưng thành danh ở đất Hà thành, và sau khi vào sống ở Sài Gòn, nhà thơ này càng nổi tiếng với bài Gửi Trương Tửu); trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” chúng ta có thể xác định được thời điểm ra đời của thi phẩm “Chùa Hương” vào khoảng năm 1935.

Theo Xuân Ba kể về xuất xứ của bài thơ “Cô gái Chùa Hương” như sau :

– Chuyến đi chùa Hương vào tháng Giêng âm lịch năm ấy, gồm có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người yêu của hai chàng ?). Hai cô này thuộc dạng phụ nữ tân thời và có lẽ là con nhà khá giả, nên một trong hai cô có đem theo cả máy chụp hình. Mà máy chụp hình khi đó là của hiếm, nhà giàu có mới sắm nổi…

Qua đò suối Yến là cả nhóm bắt đầu đi xuyên qua rừng mơ. Trên lối mòn khúc khuỷu, cây đá gập ghềnh, cả bọn gặp một cô gái độ tuổi trăng tròn bận quần lĩnh áo the đang dắt tay một bà, không rõ là bà hay mẹ ? Khi hai người đi miệng luôn khe khẽ niệm Phật. Cả bọn liền vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược Pháp đứng sững lại bên hai người, tức thì cô gái bặt luôn tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp mới khẽ hỏi tại sao cô không niệm tiếp, giọng niệm Phật nghe hay lắm… Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói…

9 Chua Huong 8Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn của Nguyễn Vỹ và Nguyễn Nhược Pháp có máy chụp hình, quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy chụp ngay một “pô” ! Từ lúc đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ngủ lại trong chùa để sáng hôm sau ra về, cả bọn đều không gặp lại bà cụ với cô gái nọ. Dù là thế nhưng hai cô bạn gái lại có ý phiền trách, thậm chí lạnh nhạt với Nguyễn Nhược Pháp và cả Nguyễn Vỹ về động thái “người đâu gặp gỡ làm chi ấy…” Tuy có hờn giận nhưng khi về đến Hà Nội, cô gái vẫn đưa tấm ảnh chụp cảnh Nguyễn Nhược Pháp đang đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó ! (nay tấm ảnh này cũng đã thất lạc).

Nguyễn Nhược Pháp đâu có để tâm đến tấm hình chụp. Mà chàng đang bận tâm chuyện khác. Chàng đưa bài thơ “Cô gái Chùa Hương” viết chưa ráo mực cho Nguyễn Vỹ xem, nội dung tưởng tượng thêm nhiều sự kiện, từ cảnh gặp gỡ bất chợt đến khi rời chùa Hương Tích ra về… Bài thơ lúc đầu có tên là “Cô gái chùa Hương” sau đưa vào tập thơ “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp bỏ hai chữ đầu còn lại là “Chùa Hương”.

Ngày hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn Vỹ đưa bài thơ vào một cuốn thơ của mình mà lâu nay đang có ý xuất bản. Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nhà thơ Nguyễn Vỹ mới gợi ý là xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy ! Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy ? (tức bà cả ngôi thứ trên mẹ ruột của ông, nhưng thương ông như con dứt ruột sinh ra) Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra đời năm 1935.

Gai BacMột giai thoại khác cũng kể về xuất xứ bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp :

– Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi :

– “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, 9 Chua Huong 1hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Thân thế nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nói về thân thế của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, ở phần sơ lược tiểu sử trên chúng ta đã biết, mẹ ruột của ông tức bà Hai Lựu, vợ hai của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Và trong những giai thoại có kể đến mối tình này :

Thời gian ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh rất giàu có, khai thác một khách sạn ở phố Hàng Trống, làm chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn tại ngay trung tâm Hà Nội. Cả hai nơi là địa điểm gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và của những người có máu mặt của đất Hà thành. Người đẹp Hai Lựu cũng đã lọt vào mắt xanh ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh khi đến nơi đây.

Đến bây giờ chưa ai biết rõ họ tên thật của bà Hai Lựu tức thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, cũng như xuất xứ quê quán ở đâu. Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn, và có họ gần với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định (?). Sau này, do nhiều nguyên nhân, các con cháu của cụ Nguyễn Văn Vĩnh không có điều kiện để tìm hiểu gốc gác của bà Hai Lựu mẹ kế của họ như thế nào.

Đặc biệt là bà Hai Lựu biết sử dụng súng ngắn rất thành thạo, và luôn có súng trong người ! Khi bà đã thành thân với cụ Nguyễn VănVĩnh sinh được Nguyễn Nhược Pháp, bà từng có các mối giao du khá rộng nên khá thân với bà Suzanne, vì thế có lần bà Hai Lựu giới thiệu Suzanne với chồng người bạn thân của bà để tiện giao thiệp.

Với tính phong lưu đa tình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy, cụ làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne khả ái đó. Tr mong mo 3Cho nên mọi người phát hiện ra, rồi báo chí Hà Nội bấy giờ đã đăng mập mờ chuyện lén lút vụng trộm giữa cụ với người đẹp Suzanne. Làm bà Hai Lựu nổi cơn ghen, trong mình mang súng ngắn đáp xe đến trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm, định phải quấy một phen với chính người bạn thân của bà !

Khi bà Hai Lựu đến nơi, cơn ghen cũng đã hạ hỏa và có lẽ do giữ thanh danh cho chồng, phần chợt trỗi chút thiên lương nên bà hạ súng ! Trái lại bà đã chọn cho mình một cái chết tức tưởi, bỏ lại cậu con trai khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp.

Người xưa có câu : Chết cha ăn cơm với cá/ Chết mẹ liếm lá đầu đường…

Tuy mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp từ năm lên hai tuổi đó đã may mắn được lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến ngày ông qua đời.

Lễ Hội Chùa Hương (trích Wikipedia)

Chùa Hương và động Hương Tích là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên H Tay ch Huong 4Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật.

Hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, không chỉ trong mùa lễ hội, hằng ngày vẫn có hàng ngàn lượt người đến vãn cảnh chùa. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn : Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Nguyên tác bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp

9 Chua Huong 6Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo giải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao.

Me cười: «Thầy nó trông !

Chân đi đôi dép cong,

Con tôi xinh xinh quá!

Bao giờ cô lấy chồng?»

9 Chua Huong 7Em tuy mới mười lăm

Mà đã lắm người thăm,

Nhờ mối mai đưa tiếng,

Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,

Vì thầy bảo người mai

Rằng em còn bé lắm !

(Ý đợi người tài trai.)

Em đi cùng với me.

Me em ngồi cáng tre,

Thầy theo sau cưỡi ngựa,

Thắt lưng dài đỏ hoe.

9 Chua Huong 9Thầy me ra đi đò,

Thuyền mấp mênh bên bờ.

Em nhìn sông nước chảy

Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần,

Đời mấy kẻ tri âm?

Thuyền nan vừa lẹ bước,

Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ thường!

Tướng mạo trông phi thường.

Lưng cao dài, trán rộng.

Hỏi ai nhìn không thương ?

Chàng ngồi bên me em,

Me hỏi chuyện làm quen:

9 Chua Huong 10«Thưa thầy đi chùa ạ?

Thuyền đông, trời ôi, chen!»

Chàng thưa: «Vâng thuyền đông!»

Rồi ngắm trời mênh mông,

Xa xa mờ núi biếc,

Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.

Ngâm nga chàng đọc thơ.

Thầy khen: «Hay! Hay quá!»

Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, Bến Đục qua.

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói:

«Nam Mô A Di Đà!»

Réo rắt suối đưa quanh.

Ven bờ, ngọn núi xanh,

Cung 2Nhịp cầu xa nho nhỏ.

Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,

Bao nhiêu là khỉ ngồi.

Tới núi con Voi phục,

Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.

Tr gai bac 6(Thuyền ta đi một ngày.)

Lên cửa chùa em thấy

Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau.

Em không dám đi mau,

Ngại chàng chê hấp tấp,

Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ,

Trầm hương khói tỏa mờ.

Hương như là sao lạc,

H Tay ch Huong 6Lớp sóng người lô nhô.

Chen vào thật lắm công.

Thầy me em lễ xong,

Quay về nhà ngang bảo:

«Mai mới vào chùa trong.»

Chàng hai má đỏ hồng

Kêu với thằng tiểu đồng

Mang túi thơ bầu rượu:

«Mai ta vào chùa trong!»

Đêm hôm ấy em mừng.

Mùi trầm hương bay lừng.

Tr gai Bac 4Em nằm nghe tiếng mõ,

Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời!

Mơ nhiều… Viết thế thôi!

Kẻo ai mà xem thấy,

Nhìn em đến nực cười!

Em chưa tỉnh giấc nồng,

Mây núi đã pha hồng.

Thầy me em sắp sửa

Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo veo,

Hoa đỏ, tím, vàng leo.

Vì thương me quá mệt,

Cung 3Săn sóc chàng đi theo.

Me bảo: «Đường còn lâu,

Cứ vừa đi ta cầu

Quán Thế Âm Bồ Tát

Là tha hồ đi mau!»

Em ư ? Em không cầu,

Đường vẫn thấy đi mau.

Tr Ao daiChàng cũng cho như thế.

(Ra ta hợp tâm đầu.)

Khi qua chùa Giải Oan,

Trông thấy bức tường ngang,

Chàng đưa tay lẹ bút

Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen: «Hay!

Chữ đẹp như rồng bay.»

(Bài thơ này em nhớ,

Nên chả chép vào đây.)

Ô! Chùa trong đây rồi !

Tr gai Bac 1Động thắm bóng xanh ngời.

Gấm thêu trần thạch nhũ,

Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Me vui mừng hả hê:

«Tặc ! Con đường mà ghê !»

Thầy kêu: «Mau lên nhé!

Chiều hôm nay ta về.»

Em nghe bỗng rụng rời

Nhìn ai luống nghẹn lời!

Giờ vui đời có vậy,

Thoảng ngày vui qua rồi!

Tr ao sen 2Làn gió thổi hây hây,

Em nghe tà áo bay,

Em tìm hơi chàng thở.

Chàng ôi, chàng có hay?

Đường đây kia lên trời,

Ta bước tựa vai cười.

Yêu nhau, yêu nhau mãi!

Đi, ta đi, chàng ôi!

Ngun ngút khói hương vàng,

Say trong giấc mơ màng,

Em cầu xin Trời Phật

Sao cho em lấy chàng.

Nhạc phẩm “Em Đi Chùa Hương” của NS Trung Đức

Hôm nay em đi chùa Hương / Hoa cỏ còn mờ hơi sương / Cùng thầy me em vấn đầu soi gương / Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo giải yếm đào / Quần lãnh, áo the mới / Tay em cầm chiếc nón quai thao / Chân em di đôi guốc cao cao

9 Chua Huong 4Đường đi qua bến Dục / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Em bây giờ mới tuổi mười lăm / Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Nam mô A Di Đà / Nam mô A Di Đà

http://youtu.be/hNjCiEO9CeA

http://youtu.be/YiIWMvxCsX0

Thi phẩm “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ngoài nhạc sĩ Trung Đức phổ thành nhạc thành công nhất, còn trước đó giáo sư Trần Văn Khê cũng có phổ nhạc, sau này có nhạc sĩ Song Ngọc lấy ý thơ “Chùa Hương” mà soạn thành nhạc phẩm riêng…

Nguyễn Việt

(Trích trong cuốn : “Tác phẩm – tác giả Thơ Văn Nhạc Họa trữ tình” của tác giả, sắp xuất bản)

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (19)

CÁI HĨM KHOE HÀNG

Lưu ý : CẤM TRẺ EM DƯỚI 16 TUỔI

LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Chuyện cái hĩm khoe hàng thì hiện nay đang đầy rẫy trong làng showbiz Việt (mời các bạn xem một Album hình đính kèm sau đây – nhưng nhắc nhở quý vị chớ cho các cháu nhỏ dưới 16 tuổi Click vào, hoặc bà sếp nhà coi rồi sẽ nỗi cơn tam bành la lối “mấy cha yamaham… bộ mấy cha nội chưa từng thấy mấy thứ này hay sao ? Hay mấy ông chê “đồ nhà” như “ma vú dài” thích xem hàng bơm ? :  

ALBUM – Bộ ảnh NO Boundaries    Album – NGUOI MAU KHOE HANG )

Cái vụ lùm xùm của cô hoa hôi Mai Phương Thúi (theo cách xài chữ  i ngắn y dài) đã làm tốn hao nhiều giấy điện tử từ trước Tết đến giờ, có nên Stop chăng ?

Bởi vụ này chỉ là để làm PR, tạo scandal nhằm lấy lại tên tuổi đang mai một của một bông hoa đang tàn theo thời gian và những tranh chấp đời thường.

Trang báo điện tử này đành phải hy sinh một kỳ để post những ý kiến từ các đồng môn gửi đến, về chuyện cô hoa hôi Mai Phương Thúi ăn mặc bộ áo dài mang tiếng là quá khiêu dâm dưới mắt các fans đang “tung chưởng” nhằm xỏ mũi những ai không biết cô hoa hôi này… gián tiếp tung bộ ảnh “Áo dài khoe nét xuân thì” để làm gì !!!

1/- Mai Phương Thúy bị “ném đá” vì áo dài xuyên thấu

Dân mạng đang chuyền tay nhau xem bộ ảnh Hoa hậu Mai Phương Thúy mặc bộ áo dài trong suốt với cả lời khen tiếng chê, thậm chí có người cho rằng bộ ảnh này làm xấu hình ảnh quốc phục áo dài Việt Nam.

Được biết, bộ ảnh này của Hoa hậu Mai Phương Thúy được thực hiện mới đây với ý tưởng tôn vẻ đẹp ngọc ngà, xuân thì trong tà áo dài. Tuy nhiên, nhiều người bức xúc cho rằng, ở một số bức “quá đà” thành ra thái quá, dung tục và làm mất đi vẻ đẹp của tà áo dài Việt Nam.

Nick name trang… 2410 trên Webtretho cho rằng, nhiều góc chụp chỉ hợp với ảnh nude chứ mặc áo dài truyền thống thì không phù hợp.

“Mình nghĩ bản thân tà áo dài đã cao quý bởi vì giá trị truyền thống của nó. Nên việc Thúy sử dụng hình ảnh tà áo dài để chụp những bức ảnh khoe thân là khó có thể chấp nhận được. Khi HH Nhật Bản dự định mặc bộ Kimono siêu cách điệu và rất sexy để tham dự HH Hoàn Vũ thì đã bị dư luận phản đối kịch liệt vì sợ làm vấy bẩn trang phục truyền thống của họ. Thế nên dù Thúy có tự tin đến mấy, có đẹp đến mấy, nhưng ăn mặc và tạo hình phản cảm thế này thì không bị ném đá mới là lạ.”, nick name …Vy bày tỏ.

Cũng nhiều ý kiến cho rằng, do Thúy là Hoa hậu Việt Nam, tà áo dài lại là áo truyền thống của Việt Nam nên cần thận trọng khi tạo những góc ảnh nhạy cảm. Ý kiến cảm thông rằng, chùm ảnh chỉ có vài bức đi “quá đà” phản cảm nên mới khiến mọi người bức xúc.

Nghệ thuật, cái đẹp và sự dung tục quả thực có ranh giới quá mong manh, một cư dân mạng than thở.(theo Hải Phong– tổng hợp)

2/- Tranh cãi về bộ ảnh của Mai Phương Thúy

Bộ ảnh hoa hậu Việt Nam 2006 Mai Phương Thúy trong bộ áo dài được cho là “mỏng đến xuyên thấu” đã khiến cộng đồng mạng xôn xao suốt gần một tuần qua…

Kẻ khen đẹp, người chê tục

Bộ ảnh mang chủ đề Nét đẹp xuân thì do nhiếp ảnh gia Quốc Huy thực hiện cách đây 4 năm. Mới đây, vào ngày 3/2/2012, một tờ báo điện tử đã đăng lại “với mong muốn tôn vinh nét đẹp hình thể của người phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài”.

Sau khi được đăng tải, bộ ảnh đã gây ra làn sóng tranh luận trái chiều.

Cộng đồng mạng chia thành hai “phe” bình phẩm. Một bên chỉ trích nặng nề Mai Phương Thúy trong khi bên còn lại khen là “nghệ thuật” và lên tiếng bênh vực cựu hoa hậu.

Một cư dân mạng đại diện phía chỉ trích lập luận : “Tà áo dài phải được mặc và chụp trong những tư thế dịu dàng, hiền thục và đặc biệt phải toát lên được nét hồn Việt. Nhưng nhìn bộ ảnh của Mai Phương Thúy lại có vẻ rất gợi dục, từ cử chỉ đến những động tác uốn éo, không hợp chút nào. Nó chỉ phù hợp cho những bộ bikini mà thôi”.

Ngược lại, không ít người cho rằng bộ ảnh không đến mức quá đáng để bị phê phán gay gắt. Bởi với quốc phục như áo dài, “chẳng cần xuyên thấu vẫn gây cho người nhìn cảm giác xao xuyến, huống hồ đó lại là thân hình của hoa hậu…”.

Một “cư dân mạng” có nick Marquis tỏ ra ủng hộ luồng dư luận “khen” : “Bộ ảnh rất đẹp, chụp không hề “phô” như mấy bộ ảnh nude khác”.

“Mạo hiểm với con dao hai lưỡi”

Tối 7/2/2012, Mai Phương Thúy đã gửi thư đến tờ báo điện tử đã đăng bộ ảnh của cô. Thúy bày tỏ trong bức thư : “Vì đây là bộ hình nghệ thuật, lại thực hiện cách đây rất lâu; bản thân Thúy lúc đó mới 19-20 tuổi tuy đã lớn nhưng độ hiểu biết chưa cao, nếu không nói là có khi còn kém nên trong khi làm việc đã có sự sai sót. Thúy hiểu rằng mạo hiểm với những giá trị văn hóa hay nghệ thuật đôi khi có thể trở thành con dao hai lưỡi”.

Mai Phương Thúy thừa nhận rằng bản thân Thúy và ê kíp khi thực hiện cũng chỉ hướng tới những giá trị nghệ thuật.

Bạn đọc có nick MeLinh viết ngay dưới bức thư này : “Quốc phục cũng là bộ quần áo do con người may từ vải và tôn vinh nó lên. Trang phục phải phục vụ vì lợi ích con người. Trong trường hợp này, nó đã làm tốt nhiệm vụ tôn vinh nét đẹp con người Việt qua vẻ đẹp thân hình của Thúy. Hơn nữa nó ở trong môi trường nghệ thuật. Đúng, nghệ thuật thì đừng lấy lý lẽ thông thường mà soi chiếu nó”.

Thùy Dương, một cư dân mạng khác cho rằng, Mai Phương Thúy không nên buồn và lo lắng : “Những người bình thường và chân chính chẳng ai nói gì bạn đâu. Tôi xem bộ ảnh rồi, là một phụ nữ tôi cũng muốn có hình thể đẹp như bạn, chẳng có gì phải sợ cả. Nếu mặc như thế ra đường thì một nhẽ, đây là bạn chụp nghê thuật cơ mà. Vui lên đi!”.

Trong khi đó, Kiều Linh, một độc giả khác bày tỏ quan điểm: “Tôi thì nghĩ không nên chụp ảnh kiểu áo dài như vậy. Nó sẽ làm xấu hình ảnh tà áo dài của Việt Nam. Bạn muốn được nổi tiếng hơn nhờ scandal nữa à?”.

Những tranh luận này chưa biết khi nào mới kết thúc khi có cả ý kiến đòi tước vương miện hoa hậu của Mai Phương Thúy vì bộ ảnh trên quá phản cảm.

Xuất hiện vô tình hay hữu ý ?

Bộ ảnh trên thể hiện hình ảnh Mai Phương Thúy với trang phục áo dài trắng tinh khiết, sử dụng ánh sáng làm nổi bật những đường nét cơ thể của người mẫu.

Được biết, đây là bộ ảnh được Mai Phương Thúy cùng êkíp của “ông bầu” – nhà thiết kế Việt Hùng thực hiện cách đây 4 năm. Không biết do vô tình hay hữu ý mà những tấm ảnh nhạy cảm này lại xuất hiện trên mạng gần đây.

Trước những hình ảnh và ý kiến phản đối về bộ ảnh này, Mai Phương Thúy tỏ ra khá bình tĩnh đón nhận sự việc. Mai Phương Thúy chia sẻ : “Bản thân tôi và ê kíp khi thực hiện cũng chỉ hướng tới những giá trị nghệ thuật. Nếu như thông điệp đó truyền tải đi và thất bại thì đó là do hiểu biết và cách thể hiện của tôi còn non kém, cần phải nghiêm khắc kiểm điểm và chấn chỉnh; chứ tuyệt đối trong thâm tâm Thúy và ê kíp không muốn làm hủy hoại những giá trị cao quý và trường tồn của dân tộc như hình ảnh tà áo dài và người phụ nữ Việt Nam”.

Cô còn gửi lời xin lỗi đến khán giả hâm mộ : “Tôi thực sự xin lỗi những người đã phải khó chịu khi nhìn thấy những bức hình trên. Mong mọi người thông cảm và cho tôi cơ hội để có những đóng góp tốt đẹp hơn cho cộng đồng”.

Bên cạnh những nỗ lực đóng góp cho cộng đồng, hoạt động từ thiện… Mai Phương Thúy cũng gặp không ít ồn ào liên quan đến đời tư và công việc.

3/- Tước hay không tước danh hiệu Hoa hậu của Mai Phương Thúy?

Sau những luồng dư luận trái chiều về bộ ảnh Áo dài khoe nét xuân thì của Hoa hậu Mai Phương Thúy và thông tin Bộ VH-TT-DL đồng ý tước danh hiệu hoa hậu của cô, chiều 13/2, Bộ VH-TT-DL đã có ý kiến chính thức về vấn đề này.

Bộ VH-TT-DL khẳng định không có quan điểm chính thức về việc tước danh hiệu hoa hậu của Mai Phương Thúy. Bản thông cáo báo chí của Bộ có ghi : “Theo đánh giá của chúng tôi, việc đưa ra một bộ ảnh đã chụp cách đây 4 năm, chính Hoa hậu Mai Phương Thúy cũng thừa nhận ở thời điểm đó bản thân cô chưa có đủ sự trải nghiệm cần thiết để công bố rộng rãi đến công chúng là không nên. Về thông tin “Bộ VH-TT-DL đồng ý tước danh hiệu Hoa hậu Mai Phương Thúy”, chúng tôi khẳng định lại một lần nữa, đây không phải quan điểm chính thức của Bộ. Việc có hay không có quyết định tước danh hiệu của Hoa hậu Mai Phương Thúy, Bộ sẽ giao cho một cơ quan chuyên môn thẩm định, xem xét tất cả các điều kiện và sau đó mới có kết luận cuối cùng”.

Ngoài ra, Bộ VH-TT-DL cũng đưa ra quan điểm : “Những dư luận xung quanh bộ ảnh lần này cũng là một bài học quý cho các hoa hậu, người đẹp trong việc sử dụng tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam để sáng tạo các bộ ảnh nghệ thuật. Phải làm thế nào để khi nhìn vào những tác phẩm đó, công chúng thấy được người mặc đang tôn vinh những nét đẹp ý nhị, kín đáo của người phụ nữ Việt Nam chứ không nên lấy đó làm một phương tiện để “khoe” cơ thể”.

Những ngày qua, các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn trên mạng đã đăng tải nhiều ý kiến trái chiều xung quanh bộ ảnh với áo dài “trong suốt” của Hoa hậu Mai Phương Thúy. Không ít ý kiến cho rằng bộ ảnh khi được công bố rộng rãi trở nên phản cảm, nhất là khi những hình ảnh đó là của Hoa hậu Việt Nam (đăng quang năm 2006), tuy nhiên chưa nghiêm trọng đến mức phải tước danh hiệu hoa hậu.

Đáng nói là thời gian qua, xuất hiện không ít hình ảnh bị phê phán là gợi dục của nhiều người đẹp, hoa hậu, nhưng lại không thấy các cơ quan quản lý văn hóa vào cuộc. Gần đây nhất là sự việc bộ ảnh nude phản cảm của Hoa khôi Khánh Hòa, hay trước đó là nghi án ảnh sex của một hoa hậu, không hề được cơ quan quản lý thanh tra, thẩm định, hay xử lý. Trong khi đó, trong Quy chế tổ chức thi hoa hậu, hoa khôi, người đẹp đã quy định rõ:thí sinh đoạt danh hiệu tại các cuộc thi, nếu vi phạm quy định của quy chế, có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức gây ảnh hưởng xấu đến xã hội sẽ bị tước danh hiệu.

Hiện tại, các cơ quan quản lý văn hóa vẫn chưa thanh tra hay xử lý nghiêm khắc cả người được chụp lẫn đăng tải những hình ảnh thiếu văn hóa, dung tục, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chính những lỏng lẻo trong quản lý đã tiếp tay cho những bức ảnh phản cảm xuất hiện ngày càng tràn lan trên các phương tiện truyền thông. Không ít người đã thản nhiên lợi dụng điều đó biến thành chiêu trò đánh bóng bản thân.(theo Ngọc An)

4/- Khi dư luận bị xỏ mũi

Tước vương miện của Mai Phương Thuý vì cô làm “dâm hoá” áo dài. Sau lời hô hào đó, lồ lộ một mục đích câu khách. Tham gia lời hô hào trên, công chúng vô tình lại là những kẻ bị truyền thông bị xỏ mũi.

Nói như Hoa hậu VN 2010 thì : “Hân cũng rất bất ngờ trước thông tin trên. Đầu năm hai đứa xem sao thấy sao của Thúy năm nay xấu, không ngờ mọi chuyện diễn tiến nhanh đến vậy”.

Đến cả chính người trong cuộc như Mai Phương Thuý hẳn cũng không hiểu tại sao mình lại bị vướng vào một scandal khó lường đến độ có nguy cơ mất vương miện. Thậm chí ầm ĩ khắp hang cùng ngõ hẻm trên mạng cũng như đến tận Bộ VH, TT & DL.

Khi chụp bộ ảnh “Áo dài khoe nét xuân thì” 4 năm trước đây, Mai Phương Thúy có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng được nó sẽ di hoạ lại đến ngày hôm nay. Bởi Mai Phương Thúy không phải là người chủ động gửi bộ ảnh tới báo chí nhờ đăng.

Sự việc bắt nguồn từ nhiếp ảnh gia Quốc Huy, người thực hiện bộ ảnh đưa lên trang web cá nhân vài tấm và một nhà báo vào xem đã xin để đăng lại trọn bộ ảnh trên báo. Khi bộ ảnh được đăng tải, có nhiều luồng dư luận khen chê từ phía độc giả.

Người khen không thiếu, nhưng cũng bởi để câu khách người ta “đổ thêm dầu vào lửa” khi định hướng dư luận bằng những phản bác nặng nề nhất có thể về bộ ảnh. Thậm chí, người ta dựng lên cả một chuyên đề về vụ “tước vương miện” của Mai Phương Thuý.

Đầu tiên là sự tiếp tay cho những ý kiến phản hồi đầy tính quy chụp của những độc giả nóng mắt với bộ ảnh. Sau đó là ý kiến của các chuyên gia. Không rõ có chủ ý hay không mà hầu hết các ý kiến đều “ném đá” bộ ảnh này của Mai Phương Thuý và nâng tầm trầm trọng của vấn đề lên.

Một ông GS.TS cho rằng : “Nếu HHVN mặc áo dài mỏng tang như thế thì không thích hợp với tâm hồn người Việt, bởi khi tiến lên thì người Việt vẫn phải là người Việt, nếu không xác định được bản chất Việt thì chúng ta không định hướng được cho tương lai. Cái gì cứ đi bắt chước để rồi cải tiến một cách thiếu suy nghĩ thì nó chỉ làm cho tàn phai, mất đi cái truyền thống. Đồng thời, nó làm mầm mống cho đạo đức bị suy đồi”.

Hay kinh ngạc hơn là bài báo trích ý kiến của độc giả ký tên Đinh Huyền Sương, từng nhận tiền từ thiện của Hoa hậu Mai Phương Thúy trong vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ năm 2007 :

“Tôi xin hỏi cơ quan Nhà nước nếu hàng triệu cô gái Việt mới lớn, bắt chước hoa hậu đàn chị dâm tục hóa áo dài, bán đường cong và giải thích để lấy tiền từ thiện thì sẽ ra sao. Khi ấy xã hội có còn là xã hội nữa không ? Cái đẹp sẽ đi về đâu ? Lòng tự trọng và liêm sỉ của con người sẽ hạ xuống mức nào ?

Bằng những lời thỉnh cầu thống thiết, tôi mong các nhà chức trách, nhà quản lý văn hóa có biện pháp cụ thể, ngăn chặn kịp thời những con người đang làm méo mó giá trị truyền thống, cái đẹp  của cả dân tộc. Trước hết tôi thỉnh cầu là để cho con gái tôi sau này được sạch.”

Sự việc được đẩy lên cao trào sau khi có ý kiến của ông Tô Văn Động, nêu quan điểm “Bộ VH, TT & DL đồng ý tước vương miện của Mai Phương Thuý”. Dù sau đó, ông Động đã đính chính lại rằng đó chỉ là ý kiến cá nhân của ông, chứ không phải là ý kiến đại diện cho tiếng nói từ phía Bộ VH, TT & DL.

Thêm phần gay cấn khi người ta lấy cả ý kiến của hàng loạt luật sư cho vụ việc. Và giật mình khi Luật sư Quang đưa ra gợi ý : “Nếu như Bộ VHTTDL có những quy chế tước đi danh hiệu đó, thì những tiêu chí đó nên lấy  ý kiến của dư luận quần chúng nhân dân bởi quy chế đó không nằm ở quy định luật pháp một cách chặt chẽ, mà nó do quan niệm về vẻ đẹp và đạo đức.

Khi đã lấy ý kiến dân chủ, công khai như vậy thì BTC sẽ phải xem lại, Bộ VHTTDL phê chuẩn; tất cả những cuộc thi, những danh hiệu đều phải tuân theo những quy định đó “.

Có thể thấy, mọi căn nguyên của những lùm xùm trên cũng bởi Mai Phương Thuý là nhân vật hot đương thời. Chỉ cần cái tên của cô xuất hiện gắn với bất cứ cụm từ nhạy cảm nào, đảm bảo có sức ảnh hưởng lớn đến truyền thông và dư luận. Và vì thế cô cũng phải lãnh đủ mọi thứ tội mà người ta gán cho, trong một cuộc chiến truyền thông giữa các trang mạng.

Nhìn nhận ở góc độ trung dung thì Mai Phương Thuý tuy đã có những tư thế không đẹp với chiếc áo dài, quốc phục của dân tộc, nhưng hẳn nhiên chuyện không đáng thành một thảm hoạ trên truyền thông khi ầm ĩ trên khắp các diễn đàn cũng như trang mạng.

Những ý kiến “ném đá” bộ ảnh “Áo dài khoe nét xuân thì” thì đã quá rõ. Và không thể phủ nhận, sau những ý kiến mang đầy tính cực đoan và khích động này, có một sự thao túng quan điểm từ phía khởi xướng phong trào “tước vương miện” của Mai Phương Thuý.

Chỉ ái ngại cho dư luận, khi đã bị “xỏ mũi” theo những chiêu trò mà người ta đã dày công sắp đặt. Cốt chỉ là tạo ra hiệu ứng truyền thông nhằm câu views. Nhưng cũng chẳng thể trách được ai, khi đám đông lại là những người thích phán xét, và khi đã say phán xét, vô tình, họ quên mất mình đang phán xét đã công tâm hay chưa?

Bản chất sự việc không thể lớn đến vậy khi người ta không cố tình nhấn mạnh đến những cụm từ đắt giá và dễ làm người đọc “nóng mắt” như : Hoa hậu Việt Nam, người đại diện cho phụ nữ Việt Nam như mặc định của phần đông công chúng vẫn hiểu. Áo dài, quốc phục và cũng là một biểu tượng của đất nước. Khi người đại diện cho phụ nữ Việt Nam lại gắn với cụm từ “dâm hoá” quốc phục Việt Nam.

Tự dưng từ đâu, niềm tự hào dân tộc sôi lên. Và người ta phải nói, phải “ném đá”, phải đòi hạ bệ cho bằng được cô hoa hậu đã làm nhục quốc phục, làm nhục phụ nữ Việt Nam.

Và chỉ có mấy tấm ảnh áo dài thôi, nhưng người ta đã vẽ ra đủ thứ bài học đạo đức mà Mai Phương Thuý là mầm mống cho sự suy đồi về đạo đức xã hội. Đến nước này, vấn đề đã được đẩy đi quá xa, vượt tầm của một bộ ảnh và vượt trách nhiệm của một hoa hậu.

Chính bởi nắm chắc được, sự ăn khách trong cách nhấn vấn đề đấy, người ta đã đẩy được một sự việc rất thường thành một sự vụ phi thường. Sở dĩ nói phi thường là bởi nó làm kinh động cả đến Bộ VH, TT & DL.

Sự việc lên đến đỉnh điểm khi chiều 13/2 Bộ VH, TT & DL đã phải gửi công văn đến các cơ quan truyền thông để bày tỏ quan điểm của cơ quan này về vụ việc. Và cũng là để đính chính lại những gì, Người phát ngôn của Bộ này đã đưa ra vài ngày trước đó.

Sự “mất phương hướng” của công chúng, sự lúng túng của cơ quan quản lý văn hoá, Bộ VH, TT & DL, trong vụ ảnh “dâm hoá” áo dài của Mai Phương Thuý là một minh chứng nữa cho sự nhiễu loạn thông tin trong đời sống văn hoá hiện nay. Nó chỉ là một điển hình nhỏ cho những scandal từ trên trời rơi xuống được dựng lên bởi các thủ thuật của truyền thông nhằm câu khách.

Với scandal “dâm hoá áo dài”, Mai Phương Thúy chỉ là nạn nhân khi tên tuổi cô bị truyền thông lợi dụng để đẩy vụ việc đi quá xa khỏi bản chất thực vốn có của nó. Thế mới thấy, làm hoa hậu đã khó sống, làm hoa hậu hot lại càng dễ “chết” hơn. Khi tên tuổi của mình lúc nào cũng được đặt sẵn trên “thớt” của truyền thông.(theo Đàm Mộng Hoài)

Cao Bồi Già tổng hợp

Logo nhan vat

9 Dao hoa 1CHUYỆN ÍT KỂ VỀ

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐÀO HOA

CLARK GABLE

Nổi tiếng với vai Rhett Butler hào hoa, điển trai trong “Cuốn theo chiều gió” (1939), nam diễn viên Clark Gable là một trong những người đàn ông quyến rũ nhất màn ảnh Hollywood. Trải qua nhiều mối tình chớp nhoáng, nhưng cả đời Gable chỉ yêu một người…
 Trong sự nghiệp trải dài 4 thập kỷ, Clark Gable (1901-1960) từng nhận được 3 đề cử tại giải Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, trong đó có một lần rinh về tượng vàng với phim “It Happened One Night” (1934).

Tuổi thơ mất mẹ

Mẹ của Clark Gable vốn rất yếu, bác sĩ khuyên bà không nên có con, song với khát khao được làm mẹ, bà đã quyết định sinh ra cậu bé Clark Gable rồi qua đời khi con chưa tròn một tuổi.

9 Dao hoa 2Vì những xung đột do sự khác biệt tôn giáo giữa hai gia đình, nhà nội không nhận nuôi Clark Gable, cậu bé sống với nhà ngoại tới khi lên 3. Khi cha đi bước nữa, ông đã đón cậu con trai tội nghiệp về nuôi.

Cuộc sống đã bù đắp cho Gable bằng một người mẹ kế yêu thương Gable như con đẻ. Bà đã dạy Clark chơi nhiều loại nhạc cụ. Năm 17 tuổi, Gable nhận ra tình yêu dành cho diễn xuất, cậu xin vào một gánh hát rong học việc.

Bước đầu khởi nghiệp chật vật

Sự nghiệp của Gable lúc này lên xuống thất thường, rất chật vật, khó khăn, nhiều khi chàng trai trẻ muốn từ bỏ ước mơ nhưng cái duyên với nghề đã giữ lửa cho cậu. Tuy vậy, phải tới tận năm 26 tuổi, Gable mới được ghi nhận trên sân khấu kịch.

Ở tuổi 29, Gable nhận được vai diễn đầu tiên trên màn ảnh và bắt đầu gây dựng được danh tiếng. Kể từ sau tuổi “tam thập nhi lập”, sự nghiệp của Gable bắt đầu lên như diều gặp gió.

Đến khi nhận được vai nam chính trong “Cuốn theo chiều gió”, Clark Gable thực sự trở thành một ngôi sao điện ảnh danh tiếng. 9 Dao hoa 3Sau này, chính ông cũng không giải thích được lí do vì sao mình được nhận vai Rhett Butler : “Tôi thấy mình không giống nhân vật Rhett Butler. Tôi cũng không hiểu vì sao người ta lại giao vai đó cho tôi”.

Ban đầu, Gable đã từ chối vai diễn này vì lo rằng với một vai diễn lớn như Rhett Butler, nếu diễn không tốt và gây thất vọng cho công chúng, ông sẽ đánh mất hình ảnh đẹp mà mình đã chật vật xây dựng.</