NHỮNG LỄ HỘI THÁNG TÁM

Logo phong tuc

Tr cau hoi 3LỄ HỘI PHONG TỤC

TÍN NGƯỠNG THÁNG TÁM ÂL

– Ngày 10 : Hội chọi trâu Đồ Sơn, xã Kiến Thụy, Kiến An, Hải Phòng.

– Ngày 15 : TẾT TRUNG THU, tết Nhi đồng, chung cả nước – Hội Võ Giang, xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, Hà Nam

– Ngày 16 : Hội nghênh Ông, các tỉnh ven biển, Vũng Tàu, Bến Tre, huyện Cần Giờ Sài Gòn

– Ngày 18 : Hội đền Trần (Trần Hưng Đạo) các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình.

PHONG TỤC TRONG THÁNG TÁM ÂM LỊCH

HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN

Hội thi chọi trâu truyền thống ở Đồ Sơn. thành phố Hải Phòng, hàng năm đều có sự tham gia của ba làng Đồ Sơn, Đồ Hải và Ngọc Xuyên, gồm 14 giáp tham gia. (Đồ Sơn 6 giáp, Đồ Hải 6 giáp còn Ngọc Xuyên 2 giáp).

Hội chọi trâu được chính thức tổ chức vào ngày mùng 9/8 âm lịch, nhưng công việc chuẩn bị phải từ nửa năm trước, và để có cuộc đấu quyết định ngày mùng 9 là các trận đấu loại và hội chọi trâu chấm dứt vào ngày rằm tháng Tám.

Cho đến nay có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của hội chọi trâu Đồ Sơn, nhưng người ta chú ý đến truyền thuyết về Thần Điểm Thước.

Truyện kể rằng : Từ rất lâu, một số ngư dân ở biển Thần Hóa bị bão làm trôi dạt vào chân núi Tháp. Nhưng khi đó Đồ Sơn còn hoang vu, con người bất lực trước thiên nhiên, họ chỉ biết cầu xin thần linh phù hộ. Rồi một hôm vào đúng ngày rằm tháng Tám, họ ra bãi biển đón gió thưởng trăng, chợt nhìn thấy trên mặt biển có vòng hào quang lớn, giữa hào quang là một cụ già đầu tóc bạc phơ, đang ngắm nhìn một đôi trâu đang chọi nhau trên sóng. Trong chốc lát tất cả biến mất. Người Đồ Sơn thuở ấy cho rằng thần linh đã phù hộ, nên lập đền thờ phụng và đúng vào tháng Tám lại tổ chức hội chọi trâu để tưởng niệm.

Bước đầu tiên chuẩn bị hội chọi trâu, là mỗi giáp, vào đầu tháng Hai ta, làm lễ tế thần rồi chọn những người có kinh nghiệm tỏa đi các chợ trâu khắp nơi chọn mua trâu chọi. Mỗi con trâu để chọi phải có những tiêu chuẩn ngoại hình cần thiết mà kinh nghiệm họ chọn từ bộ sừng, độ dài ngắn của cổ, vị trí các khoáy cho đến cấu tạo của ngực, bụng…

Sau khi các giáp hoàn tất khâu luyện tập cho trâu, vào giữa tháng Năm, trong ba làng chỉ được chọn 6 trên 14 con để tham dự hội Chọi trâu, cụ thể : Đồ Sơn 3 con, Đồ Hải 2 con và Ngọc Xuyên 1 con. Số còn lại để làm thịt chia đều cho mọi thành viên. Sáu con trâu chọi được chăm sóc chu đáo về ăn uống cũng như mọi thứ kiêng kỵ, chẳng hạn phụ nữ không bao giờ được tiếp xúc với trâu chọi, dù trâu được nuôi trong nhà mình…

Đến ngày mùng 8/6 ta, giữa ba làng lại có lễ hội để xếp loại 6 trâu chọi theo thứ tự : nhất, nhì, ba, và làm thành 3 cặp đấu, gọi là ba “khắp”; trong đó trâu của Đồ Sơn là 3 con nhất, nhì, ba; trâu của Đồ Hải và Ngọc Xuyên cũng 3 con nhất, nhì, ba.

Vào trận đấu chính, trâu nhất, nhì, ba của Đồ Sơn sẽ đấu với trâu nhất, nhì, ba của hai làng kia. Trong lễ tuyển chọn này, sau khi thi đấu tuyển chọn, các giáp phải rước long đình, chiêng trống, cờ quạt ra đình làm lễ tế thần linh, trâu nhất, nhì, ba của Đồ Sơn sẽ đấu với trâu nhất, nhì, ba của hai làng kia. Trong lễ tuyển chọn này, sau khi thi đấu tuyển chọn, các giáp phải rước long đình, chiêng trống, cờ quạt ra đình làm lễ tế thần.

Đúng ngày hội thi chọi trâu mùng 9/8 âm lịch, trước hết là lễ tế thần, các làng phải lo đủ lễ để tế, chỉ tính số trâu, lợn thì mỗi giáp1 trâu và 1 lợn, chưa kể nếp và các thức khác phải góp vào.

Cả 6 con trâu chọi cũng được dẫn ra mắt thần trong cuộc rước khá nhộn nhịp. Đi đầu đoàn rước là một cỗ kiệu đại do 12 người khiêng, đi sau là kèn trống, tiếp đến là trâu chọi trên mình phủ nhiễu đỏ kết hoa với 12 chàng trai đi hai bên áo quần đỏ, tay cầm cờ đỏ vấn khăn đỏ. Tất cả tiến vào sân đình để tiến hành những nghi lễ truyền thống để cho trận đấu bắt đầu, các nghi lễ cử hành cho đến gần trưa mới xong, sau đó người ta cho trâu ra trường đấu, xới chọi trâu là một bãi đất phẳng trước đình làng rộng chừng 6 mẫu

Khi đấu trường đã chuẩn bị xong xuôi, một hồi trống hiệu vang lên từ hai cổng vào, mỗi bên 6 chàng trai, quần áo đỏ, từ hai phía phất cờ đỏ đi vào, đến giữa trường đấu, xếp thành hai hàng, đại diện cho hai phía thi đấu: Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyên. Lại trống hiệu nổi lên, 12 chàng trai, vung cờ đỏ diễn điệu “múa trận”, điệu múa theo nhịp trống, hàng nọ tiến ba bước thì hàng đối diện lùi ba bước, hết ba lượt, 12 chàng trai theo lối vào rút khỏi trường đấu.

Tiếp đó ban tổ chức nhắc nhở các bên thi đấu. Theo thể thức truyền thống: ba khắp đầu là các trâu nhất, nhì, ba của hai bên đấu để chọn 3 con thắng, hai khắp cuối để xếp loại nhất, nhì, ba cho hội chọi trâu hàng năm. Sau khi nói hết thể lệ thi đấu, cuộc đấu bắt đầu: theo thứ tự trâu nhất chọi trước, lại hai chàng trai  y phục đỏ, từ hai phía cổng dẫn trâu chọi vào, đứng đối diện cách nhau chừng 20 mét, người dẫn trâu nhanh chóng rút sẹo trâu rồi ra ngoài vòng đấu, chỉ còn lại hai con trâu chọi vẫn đứng nguyên vị trí ban đầu.

Thề rồi trong nháy mắt, chúng lao vào nhau trổ hết tài và những miếng hiểm hóc. Khi một con núng thế tháo chạy, con thắng cũng không tha mà rượt theo hạ địch thủ, trong trường hợp đó những người dẫn trâu chọi nhảy ra thu trâu về.

Cuộc đấu phân loại trâu nhất -nhì – ba kết thúc thường vào chiều tối, các làng giáp ra nhận giải thưởng

Hôm sau ngày mùng Mười, các giáp thịt toàn bộ các con trâu tham dự giải, để tế tạ tại đình, sau đó chia đều cho nhân đinh. Hội làng còn kéo dài thêm 5 ngày, cho đến rằm tháng Tám mới dứt.

TẾT TRUNG THU

Tết vào ngày rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ em. Người Việt thường làm cỗ cúng, làm nhiều thứ bành trong đó có bánh nướng bánh dẻo để bày cỗ trông trăng. Ngoài bánh ra, cỗ trung thu còn có hoa quả, các con giống nặn bằng bột, nhuộm các màu.

Ở thành phố vào dịp tết Trung Thu, người ta múa sư tử múa lân, rước rồng với những vũ khúc ngoạn mục, những điệu nhạc độc đáo gồm một trống một não bạt. Ngoài ra người ta còn làm các loại đèn : đèn lồng, đèn xếp, đèn ông sao, đèn đẩy, đèn kéo quân v.v..trong thắp đèn cầy để cho trẻ em rước.

Tục ăn tết Trung thu có từ đời nhà Đường, thời vua Đường Duệ Tông niên hiệu Văn Minh (thế kỷ thứ IX). Nguyên vào ngày rằm tháng tám âm lịch, trời sáng trăng thật đẹp, nhà vua đang ngự chơi ngoài thành với dân chúng đến tận khuya mới trở về hoàng cung. Nhà vua gặp một ông lão đầu tóc bạc trắng như tuyết, nói với nhà vua :

– Tâu thánh thượng, ngài có muốn lên chơi cung trăng không ?

Nhà vua đáp ngay là rất muốn.

Ông lão liền đưa chiếc gậy ra, và hóa thành chiếc cầu vồng bảy sắc cho nhà vua đi lên cung trăng. Chẳng bao lâu nhà vua đã lên tới cung trăng, ngài nhìn thấy phong cảnh đẹp tuyệt trần, dưới trần gian không đâu dám so sánh. Trên cung trăng có từng đoàn tiên nữ nhan sắc đẹp đẻ với những xiêm áo cực kỳ lộng lẫy, đang múa những khúc nghê thường quyến rũ.

Ở trên cung trăng chưa thỏa lòng thì tiên ông đưa nhà vua về cung điện. Nhà vua cứ tiếc ngẫn tiếc ngơ, nên để ghi nhớ ngày du nguyệt điện, bèn lấy ngày rằm tháng tám âm lịch làm ngày trông trăng tưởng nhớ đến trăng.

Nhà vua ra lệnh, trong đêm rằm phải tổ chức hội hè đàn ca múa hát, kết những lồng đèn tạo thành sao trên trời.

LỄ HỘI NGHINH ÔNG

Truyền thuyết về Cá Ông

Trong các truyền thuyết về cá Ông Nam Hải, các làng ven biển nhất là ở vùng Ninh Thuận – Bình Thuận đều có sự tích, cá Ông là hóa thân của Phật Bà Quan Âm chuyên cứu khổ cứu nạn các ngư dân đang trên biển gặp nạn.

Đức Phật Bà Quan Âm từ trên thượng giới, Bà thường vân du khắp nơi từ trên đất liền ra biển cả, thấy đâu khổ nạn là Bà ra tay cứu độ. Một hôm Bà đang ngự trên tòa sen bay lướt trên biển Đông, Bà không khỏi đau lòng thấy từng đoàn thuyền đánh cá đang bị gió bão bầm dập, mọi người la thét khóc than vang dậy biển cả, lấn át cơn gầm thét của sóng biển và phong ba bão táp.

Trước cảnh đau lòng, Phật Bà Quan Âm liền lấy pháp y, Bà xé ra từng mãnh ném xuống biển khơi. Kỳ bí thay, mỗi mảnh vải hiện hình thành một loài cá, bơi đến cứu nguy đám ngư dân, người không còn thuyền được cá cõng đi vào bờ, còn những chiếc thuyền còn đang lênh đênh trên biển, cá chắn sóng đưa vào đất liền. Mọi ngư dân thoát chết khi lên bờ đều quay mặt ra biển lạy tạ, tôn sùng loài cá này, họ lập đền thờ ven làng chài, nhưng chưa biết gọi tên loài cá đó vì loài cá còn quá xa lạ với những người thường đi đánh bắt cá ngoài biển.

Mà thật vậy, loài cá được Phật Bà Quan Âm cho giáng thế lúc đó còn nhỏ, không đủ sức chống trả với sóng to gió lớn bão táp ngoài khơi. Phật Bà liền mượn bộ xương của Ông Tượng (voi) trên rừng cho loài cá đó mượn. Từ đó loài cá mới có tên gọi là cá Voi, với vóc dáng to lớn và sức mạnh như loài voi rừng, nên cá Voi chống lại sóng gió trên biển quá dễ dàng, kèm giữ các thuyền bè được thăng bằng, không bị tan vỡ. Và kềm cặp những thuyền bè này vào bờ an toàn hơn.

Phật Bà lại thấy, cá Voi to lớn di chuyển chậm chạp, mỗi khi có nạn tai xảy ra cách loài cá khá xa, cá Voi không kịp bơi đến, nên Bà dùng phép thu đường cho cá, nên dù xa đến đâu cá Voi vẫn xuất hiện kịp thời.

Dân làng chài đặt tên loài cá là cá Voi, vì hài cốt của cá Voi và của loài voi giống nhau như một. Nhưng vì sự linh thiêng của cá Voi, khi lập đền thờ họ gọi bằng sự tôn kính là Cá Ông Nam Hải (và còn gọi bằng những tên khác như Đức Ngư, Ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng, Ông Sứa v.v… tùy theo từng vùng duyên hải. Ở huyện Cần Giờ, một huyện ven biển của Sài Gòn, gọi là Cá Ông Nam Hải).

Ngoài ra cá Ông được ngư dân phân biệt là cá Ông Lớn và cá Ông Cậu. Cá Ông Lớn chỉ những cá thật to và thường ở rất xa bờ họ gọi là Ông Khơi (cá Ông ở ngoài khơi). Cá Ông Cậu là loại cá Ông nhỏ hơn và hay sống ven biển họ gọi là Ông Lộng.

Những ngư dân vùng Khánh Hòa – Phú Yên, số ngư dân là dân tộc Chăm lại có truyền thuyết khác về cá Ông Nam Hải.

– Cá Ông vốn là vị thần có tên Cha Aih Va hóa thân.

Cha Aih Va được cha mẹ cho đi học pháp thuật trên một hòn đảo xa xăm lắm, chàng thanh niên học ròng rã trên mười năm đã trở thành người có pháp thuật cao thâm, biến hóa khôn lường. Cha Aih Va muốn về quê nhà thăm cha mẹ, nhưng thầy ngăn cản không cho, vì cho rằng Cha Aih Va học chưa đủ các tinh hoa của pháp thuật.

Nhớ cha nhớ mẹ, nên Cha Aih Va nóng lòng mà trốn sư phụ xuống núi, chàng ra biển nhưng không có chiếc thuyền nào để về bên bờ, nên hóa thành cá Voi để bơi về nhà. Sư phụ của Cha Aih Va biết được, ông nổi giận và quyết định trừng phạt chàng, ông hô phong hoán vũ kêu gọi thủy thần đưa quân tôm tướng cá xông đến hành hình Cha Aih Va, xé xác chàng trai.

Xác Cha Aih Va trôi dạt về đất liền và biến thànhthiên nga bay về nhà, chàng thấy cha mẹ đều qua đời, nên buồn quá lại bay đi tìm một hoang đảo để sống. Tại đây từ Thiên thiên nga chàng lại hóa thành người. Cha Aih Va lại tu luyện và mất trên hoang đảo. Vì cảm khái Cha Aih Va là người con hiếu thảo, chịu xả thân vượt mọi nguy nan để tìm về gia đình, nên thượng đế xót thương cho chàng biến thành thần để cứu nạn cho mọi người.

Khi thành thần, Cha Aih Va đổi tên là Pôn Ri Ak tức Thần Sóng Biển.

Vị thần luôn là ân nhân của những người đi biển bị đắm thuyền, mỗi khi nghe tiếng kêu cứu ngoài biển khơi, thần liền hóa thành cá Voi đến cứu.

Và một truyện tích lịch sử được các nhà chép sử triều đình nhà Nguyễn có viết rằng :

– Trong thời kỳ chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau trở thành vua Gia Long) bôn tẩu bởi quân Tây Sơn truy nả vào khoảng năm 1778 – 1786. Chúa chạy vào trấn Gia Định, trên đường qua Xiêm La cầu viện, đến đoạn cửa sông Soài Rạp thì gặp một trận bão lớn ập đến, người và thuyền nguy ngập bởi sóng biển to như ngọn sóng thần, mưa bảo ầm ầm, những chiến thuyền của chúa Nguyễn không thể cầm cự nổi,chúa mới lâm râm khấn vái cầu nguyện trời đất cứu nạn, bổng nhiên thuyền của chúa Nguyễn được một con cá voi to xuất hiện, che chở đưa thuyền vào Vàm Láng (tỉnh Tiền Giang) an toàn.

Khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, ông nhớ đến cá Voi đã cứu nạn mà sắc phong cho cá là Nam Hải Đại Tướng Quân, Nam Hải Cự Tộc Ngọc Long Thượng đẳng thần. Và truyền đến các làng xã ven bờ lập đền thờ Ông Nam Hải cho xứng đáng. Nên dọc theo ven biển miền Trung đến miền Tây Nam Bộ đâu đâu cũng có đền thờ cá Ông Nam Hải, vào tháng 8 âm lịch hàng năm các tỉnh như Tiền Giang, Bến Tre, huyện Cần Giờ, Phan Thiết, Phan Rang, Phú Yên v.v… đều tổ chức Lễ Nghinh Ông Nam Hải để cầu quốc thái dân an, cầu an cho bá tánh, cầu cho việc chài lưới trên biển được thuận lợi, mưa thuận gió hòa.

Đám tang Cá Voi

Như đã kể, các làng dọc duyên hải từ miền Bắc đến vùng Nam Bộ, hầu như đều có đền thờ cá Ông Nam Hải lớn nhỏ, và tùy mỗi địa phương mà tổ chức ngày lễ nghinh Ông trang trọng (tuy nhiên các vùng ven biển phía Bắc, Lễ nghinh Ông được tổ chức nhưng không gây được nhiều tiếng vang như trong Nam, nhất là biển Phan Thiết, Cần Giờ, Vàm Láng… ở Vũng Tàu trên đường Hoàng Hoa Thám khu Xóm Đình có ngôi đền Linh Sơn Cổ Tự đang thờ hai bộ xương cá Ông; những bộ xương này được dân làng Tam Thắng tích lũy từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 khi Ông hóa – chết vì bịnh hay già nua – trôi dạt vào bờ.).

Nói về các đền thờ cá Ông, các cư dân đều tôn kính gọi là Lăng Dinh Ông, nếu ở nơi đây có cốt cá Ông được tượng thờ. Lăng thường có 3 phần :

– Phần chính là nơi để xương cá Ông (cốt Ông), thông thường là nguyên bộ xương hoặc một phần xương, mà là cốt thật được ngư dân cải táng đem về lăng thờ phụng.

– Hai phần phụ ở 2 bên, một bên là Tả Lý Ngư và một bên là Hữu Lý Lực, cả hai đều là hộ vệ của ông.

Các ngư dân vùng biển cho biết, duyên hải miền Trung thường bắt gặp Ông bị lụy (chết vì bịnh hoặc bị tai nạn gì đó) ở ngoài khơi là có một Ông khác kề đưa vào bờ ngay. Người nào trông thấy xác Ông đầu tiên có vinh dự được dân chúng làng chài coi như là con của Ông Nam Hải. Người này phải chịu tang Ông như một trưởng nam trong một gia đình.

Tổ chức đám tang cá Ông chẳng khác gì một đám tang trong một gia đình. Người có vinh dự làm con Ông được phép cung nghinh xác Ông về Lăng Dinh Ông cấp táng, ăn mặc tang phục, tay chống gậy và thường xuyên ở bên xác Ông trong những ngày ma chay ba ngày ba đêm, còn dân làng dân xã có bổn phận đến phúng viếng và đi lễ tang.

Một số địa phương lễ chôn cất cá Voi có nhiều hình thức, hoặc là xẻ thịt cá Ông ra nhiều mảnh bỏ vào quan tài, một hai hay ba áo quan mới đủ xác Ông; hai là quàn ngay bờ biển chờ xác Ông tan rữa ra mới đem cốt Ông về Lăng dinh mà thờ.

Có một điều kỳ bí, khi xác cá Ông nằm bên bờ biển, muốn đưa về Lăng Dinh cấp táng, phải là người thấy xác Ông đầu tiên hợp cùng dân làng dân xã đó mới di chuyển Ông được, còn không phải, dù có hàng trăm người cũng không thể lê Ông đi nổi.

Người được xem là con Ông Nam Hải còn phải chịu tang 3 năm như những đám tang mà ta biết trong xã hội đời thường.

Khi người này thọ tang, phải cử hành những lễ nghi theo tục lệ, nhưng thật ra ban trị sự Lăng Dinh Ông lo liệu các chi phí tang ma. Con Ông Nam Hải phải quỳ trả lễ những người đến phúng viếng.

– Sau 3 ngày tang lễ là lễ động quan con Ông Nam Hải phải chống gậy đi thụt lùi trước các linh cửu, 3 ngày sau cũng có lễ tạ mộ và lễ mở cửa mã.

– 21 ngày phải làm lễ cầu siêu.

– 100 ngày cúng tuần bách nhật, tuần tốt khốc (thôi khóc).

– Tròn một năm làm lễ tiểu tường (giỗ đầu).

– Ba năm làm lễ đại tường (lễ đoạn tang).

– Sau lễ đại tường là lễ cải táng. Con Ông Nam Hải mời các sư ra mộ cúng cải táng và hốt cốt (Thượng Ngọc Cốt), rồi thỉnh Ngọc cốt về Dinh Vạn thờ. Khi cải táng, Ngọc Cốt được tẩy sạch bằng rượu, phơi khô ráo và bọc vào tấm vải điều sau đó mới cho vào hủ. Nhiều người cho rằng ai được làm con Ông Nam Hải thì sau 3 năm chịu tang, người này sẽ được Ông phù hộ làm văn thịnh vượng.

Ở Phan Thiết, Lễ Thỉnh Ngọc Cốt được tổ chức rất trọng thị như là tổ chức đám tang. Ngày hôm sau tổ chức lễ nghinh Ông tại Lăng Dinh như tục lệ Lễ nghinh Ông hàng năm.

Lễ Nghinh Ông

Thường lễ nghinh Ông hàng năm vào ngày 16 tháng 8 âm lịch, lễ gồm :

– Lễ nghinh Ông

– Lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền

– Lễ chánh tế.

Lễ nghinh Ông được tổ chức tại Lăng Dinh, có các nhà sư tụng niệm cầu siêu. Đúng 1 giờ sáng, một chiếc thuyền lớn trang trí lộng lẫy có bàn hương án cùng mâm cổ gồm heo quay, vàng mã, trái cây, bông hoa nhang đèn…. Thuyền này chở các vị cao niên trong làng chài cùng dàn ngũ âm ca nhi bắt đầu ra khơi. Các gia đình có thuyền đánh cá cũng chở theo gia đình đi theo thuyền lớn, mọi chiếc thuyền đều giăng đèn cờ phướn ngũ sắc rất rực rở làm cho không khí lễ hội rất rộn ràng.

Đoàn thuyền ra biển khá xa bờ chừng 4 hoặc 5 cây số thì dừng lại, chiếc thuyền lớn bắt đầu nổi nhạc ngũ âm và ca nhi hát những bài ca truyền thống của làng, các vị lão thành cao niên đốt vàng mã kêu mời Ông về.

Xong các thủ tục, đoàn thuyền quay mủi trở về làng. Ở trên bờ các nhà dân làng chài, nhà nào cũng bầy hương án ra trước sân để đón Ông về, các vị cao niên đưa hương án xuống bờ và đưa về Lăng Dinh an vị.

Sau phần nghinh Ông, đến lễ tế Tiên Hiền – Hậu Hiền trong lăng có các trò lễ hầu chờ, khi lễ bắt đầu các trò lễ tổ chức dâng hương hoa trà quả. Đến phần chánh tế, các vị cao niên đọc văn tế và cũng dâng trà rượu lên Ông 3 lần.

Trong những ngày lễ nghinh Ông, ban tổ chức thường mời các đoàn hát về giúp vui xóm làng và ngư dân, và những buổi văn nghệ quần chúng cũng được người dân đóng góp bằng những tiết mục dân dã như ban nhạc ngũ âm hòa cùng lời ca của các ca nhi, nhịp trống, tiếng tù và ở các thuyền bè ngoài biển dội vào tạo nên ngày lễ vừa trang nghiêm vừa sôi động. (Trích trong cuốn “Phong tục và lễ hội Việt Nam” của tác giả đã xuất bản)

THIÊN VIỆT

9 Den Tran 1LỄ HỘI ĐỀN TRẦN

Không biết từ bao giờ câu ca “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” luôn vương vấn trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt như một lời nhắc nhở để mỗi dịp tháng ba, tháng tám hàng năm lại tìm về cội nguồn, cùng hoà mình vào những lễ nghi trang nghiêm, những lễ hội tưng bừng, tưởng nhớ Thánh, Mẫu đã có công sáng lập và gìn giữ vùng đất thiêng này. Lễ hội đền Trần được tổ chức trong các ngày từ ngày 15 đến ngày 20 tháng tám âm lịch hàng năm tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định nhằm tri ân công đức của 14 vị vua Trần.

Lễ khai ấn đầu năm

Theo hồi cố của các bô lão, vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, đúng rằm tháng giêng, trước sân đền Thượng tổ chức nghi lễ Khai ấn với sự tham gia của bảy làng: Vọc, Lốc, Hậu Bồi, Bảo Lộc, Kênh, Bái, Tức Mặc. Các làng rước kiệu các vị thần về tụ tập ở đền Thượng để tế các vua Trần. Nghi lễ này phản ánh một tập tục nghi lễ cổ : sau những ngày nghỉ tết, từ rằm tháng giêng thì triều đình trở lại làm việc bình thường. “Khai ấn” là mở đầu ngày làm việc của một năm mới.

9 Den Tran 3

Đến nay, nghi thức khai ấn vẫn được giữ nguyên với những lễ nghi truyền thống, thu hút hàng vạn người từ khắp mọi miền Tổ quốc về tham quan, xin ấn mỗi năm với mong muốn một năm mới thành đạt và phát tài.

Thánh lễ Đức Thánh Trần

Hội đền Trần diễn ra từ ngày 15 đến ngày 20 tháng tám âm lịch hàng năm. Những năm chẵn hội mở to hơn năm lẻ. Song không đợi đến chính hội, khách thập phương đã nô nức về trẩy hội đền Trần. Hành hương về cội nguồn ai cũng mong muốn điều tốt lành, thịnh vượng. 9 Den Tran 2Trước sân đền phấp phới lá cờ đại – lá cờ truyền thống với năm màu rực rỡ biểu trưng cho ngũ hành, hình vuông biểu tượng đất (âm), rìa tua hình lưỡi liềm biểu tượng trời (dương). Chính giữa cờ hội thêu chữ “Trần” bằng chữ Hán do hai chữ “Đông” và “A” ghép lại.

Lễ hội được cử hành trang nghiêm. Nghi lễ được diễn ra với các lễ rước từ các đình, đền xung quanh về dâng hương, tế tự ở đền Thượng thờ 14 vị vua Trần. Lễ dâng hương có 14 cô gái đồng trinh, đội 14 mâm hoa đi vào đền trong tiếng nhạc lễ dâng lên 14 ngai vua. Nghi lễ này là hồi ảnh của cung cách triều đình phong kiến xa xưa.

Phần hội có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá phong phú, độc đáo như chọi gà, diễn võ năm thế hệ, đấu vật, múa lân, chơi cờ thẻ, đi cầu kiều, hát văn, múa bài bông. Chính những nét sinh hoạt văn hoá độc đáo này đã tạo cho hội Đền Trần sức hấp dẫn và cuốn hút du khách thập phương.

Lễ hội Đền Trần là một trong những lễ hội truyền thống lớn, niềm tự hào của mỗi người dân Nam Định khi nhớ về cội nguồn dòng giống của các bậc đế vương và của dân tộc Việt Nam.

9 Den Tran 4

Trước 30/4/1975 Đức Trần Hưng Đạo xòn là Thánh tổ ngành Hải Quân VNCH

Khánh Hòa: Đúc tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo

Ngày 04/9/2014, tại công viên Bạch Đằng, trên đường Trần Phú, nằm bên bờ vịnh thuộc phường Vĩnh Nguyên, TP.Nha Trang, UBND tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức lễ khởi công đúc tượng đồng Trần Hưng Đạo, 9 Den Tran 5nhằm thay tượng cũ có chất liệu bêtông cốt thép, vốn được xây dựng từ những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước.

Kinh phí thực hiện công trình bằng nguồn xã hội hóa từ đóng góp của doanh nghiệp. Sau hơn 1 tháng nỗ lực thi công (bắt đầu từ 28/7/2014), hơn 30 nghệ nhân đã nỗ lực thực hiện xong phần khuôn để tiến hành đúc tượng Trần Hưng Đạo cao gần 10m, trong đó phần thân tượng cao 5,8m có trọng lượng khoảng 10 tấn đồng đỏ loại 1, phần đế tượng cao 4,1m. Thân tượng được thiết kế có dáng vẻ uy nghi chỉ tay ra biển Đông và dưới chân tượng là họa tiết của những ngọn sóng nước cuồn cuộn dưới bàn chân Đức thánh đạp lên sóng biển.

Tháng tư năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ.9 Den Tran 6 Tháng sáu năm Canh Tý (1300), ông lâm bệnh, được vua tới thăm và hỏi về kế sách chống ngăn “giặc phương Bắc”. Chữa mãi không khỏi bệnh, ông mất ngày 20 tháng tám (âm lịch) năm ấy, thọ 70 tuổi.

Nghe tin Trần Hưng Đạo vương mất, triều đình nhà Trần phong tặng ông là “Thái sư Thượng Phụ Thượng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”. Ông được nhân dân cả nước tôn vinh là “Đức Thánh Trần” và lập đền thờ ở nhiều nơi; dân chúng ở Miền trung đã lập đền thờ từ gần 50 năm trước, trên diện tích khoảng 200m2 ở đường Nguyễn Trãi, phường Phước Tân, TP Nha Trang (trung tâm thành phố Nha Trang), song nổi tiếng hơn cả là Đền Kiếp Bạc ở xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi ông lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.

Dự kiến, sau khi hoàn thành, tượng đồng Trần Hưng Đạo sẽ được đặt tại Công viên Bạch Đằng trên bờ biển Nha Trang.

 Xuân Mai chuyển tiếp

THÁNG BẢY MÙA BÁO HIẾU

Logo su kien 1

MỘT CUỐN SÁCH

& MỘT NHẠC PHẨM

KHÔNG THỂ QUÊN

Nghi thức “Bông Hồng Cài Áo” thường được tổ chức trong ngày Lễ Vu Lan ở các ngôi chùa Việt Nam hằng năm để tưởng nhớ những bà mẹ đã khuất và vinh danh những người  mẹ còn tại thế với con cháu. Theo nghi thức này, các em trong Gia Đình Phật Tử, với hai giỏ hoa hồng, màu đỏ và màu trắng, sẽ đến cài hoa lên áo từng người dự lễ. Nếu bạn còn mẹ, bạn sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và thực sướng vui vì bạn còn có mẹ. Một đoá hồng trắng sẽ được cài lên áo bạn khi bạn không còn mẹ trên đời. Nghi thức này có ý nghĩa sâu sắc và hiệu quả trong việc giáo dục mọi người về lòng hiếu thảo và tình nhân ái.

Nghi thức Bông Hồng Cài Áo bắt đầu  từ một cuốn sách cùng tên của Thầy Thích Nhất Hạnh được viết vào tháng 8 năm 1962 tại Sài Gòn, và sau đó được phổ biến rộng khắp nơi nhờ bản nhạc cùng tên cùa nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ.Mùa Vu Lan năm nay, tôi hạnh phúc còn có mẹ  bởi  mẹ đã trải qua nhiều cơn bệnh.rose Tuy  tuổi đã cao, như ngọn đèn dầu hao, những ngày này khi nghe con cháu tụng niệm kinh Phật, mẹ cũng cố gắng niệm Phật. Vẫn biết qui luật Sinh Lão Bệnh Tử, nhưng làm con không khỏi xót xa khi nghĩ đến  câu ca dao ngày xưa còn bé :

“Mẹ già như chuối chín cây / Gió đưa mẹ rụng, …..”

Mùa Vu Lan 2010, chúng ta cùng nguyện  cầu an lạc cho  các bậc sinh thành chúng  ta, và cha mẹ  của  tất cả mọi người thân quen của chúng ta. Xin chúng ta nhớ đến công việc thiện nguyện và góp phần giúp đỡ những người già neo đơn đang sống trong các cơ sở xã hội và từ thiện. Đó cũng là một hạnh lành và cách sống tốt đời, đẹp đạo. (theo Huỳnh Huệ)

Nhân dịp mùa Vu Lan về, tôi xin gửi đến các bạn nhạc phẩm “Bông Hồng Cài Áo” sáng tác của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, qua giọng hát của Khánh Ly :

http://www.youtube.com/watch?v=pLIbkJG5s9A

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo phong tuc

LỄ VU LAN

RẰM THÁNG BẢY

NHỚ TRUYỀN THỐNG

HIẾU HẠNH

“Uống nước nhớ nguồn / Làm con phải hiếu”

“Công cha như núi Thái sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra / Một lòng thờ mẹ kính cha / Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Từ một bài ca dao tục ngữ khi bước vào ngưỡng cửa bậc tiểu học chúng ta đã học, cho nên bây giờ chúng ta vẫn luôn giữ gìn 2 chữ “Hiếu thảo” với ông bà cha mẹ, vì đó là một truyền thống tốt đẹp của người dân Việt.

Trong văn hóa Việt Nam, hiếu là đạo được nêu rõ qua những câu ca dao mà gần như ai cũng biết. Đối với người theo Phật giáo hay Lương giáo hay mọi đạo giáo khác, ai cũng nhớ rằng trong năm có một ngày lễ lớn trong tháng bảy âm lịch, tức ngày rằm tháng bảy, còn gọi là ngày đại lễ Vu Lan báo hiếu cha mẹ, ông bà còn tại thế hay đã khuất, bằng nhiều hình thức tụng niệm, hồi hướng công đức cho cha mẹ hiện tiền được an lạc, cha mẹ quá vãng được siêu sanh tịnh độ, hoặc đi thăm hỏi ông bà cha mẹ còn tại thế.

Sự tích lễ Vu Lan

Xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) – cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước.

Theo kinh Vu Lan thì ngày xưa, Bồ Tát Mục Kiền Liên, đại đệ tử của Đức Phật, đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Mẫu thân Ngài là bà Thanh Đề đã qua đời. Ngài tưởng nhớ và muốn biết bây giờ mẹ như thế nào nên dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Thấy mẹ mình, vì gây nhiều nghiệp ác nên phải sanh làm ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ khổ sở, Ngài đã đem cơm xuống tận cõi quỷ để dâng mẹ.

Tuy nhiên do đói ăn lâu ngày nên mẹ của Ngài khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình đi tránh không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng thức ăn đã hóa thành lửa đỏ.

Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng nếu muốn cứu giúp bà, phải cầu xin oai lực của tất cả chư Tăng trong ngày Tự Tứ cùng nhau tụng kinh, hồi hướng phước báu đến cho bà. “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”.
Làm theo lời Phật, mẹ của Đức Mục Kiền Liên đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Ngày lễ Vu Lan ra đời từ đó. (theo Wikipedia)

Quế Phượng chuyển tiếp

RẰM THÁNG BẢY

ĐẾN RỒI !

Cứ cái đà này ra đường lầm chết ! Người cõi âm cũng lái ôtô, cưỡi xe gắn máy đời mới, xài iPhone, mua hàng bằng credit cards…. làm sao phân biệt với người sống ? Người Hanoi có câu “Tốt số không bằng bố giầu”; bây giờ các cụ cõi trên (hay dưới) có con cháu giầu thì  muốn gì được nấy nhé. Không chỉ là những đồ vàng mã thông dụng, năm nay, bắt đầu xuất hiện hộ chiếu, thẻ visa, vé máy bay… làm bằng đồ mã. Một hãng tin ghi lại một số hình ảnh trước ngày lễ xá tội vong nhân tại Hà Nội.

Một số hình ảnh về “THÁNG RẰM THÁNG BẢY” “

1/- Không khí mua bán, vận chuyển hàng hóa tấp nập. Cách đây vài ngày, các gia đình đã tranh thủ sửa soạn đồ lễ cho ngày xá tội vong nhân.

2/- Một góc cửa hàng của gia đình làm nghề lâu năm. Sản phẩm ở đây khá đa dạng và đáp ứng bất kể yêu cầu nào của khách.

3-4/- Từ nhà cao tầng, ôtô các loại, xe tay ga, đến tủ lạnh, ti vi, máy bay… đều có mặt. Một chiếc xe máy (cả xe số, xe ga) có giá trung bình 80.000 đến trên 150.000 đồng.

5/- Điều hòa nhiệt độ cho người cõi âm có kích thước như thật

6-7/- Kiểu dáng mẫu mã quần áo, giày dép, điện thoại di động, vòng vàng thật phong phú đa dạng, với giá dao động 5.000 – 50.000 đồng. Chủ một cửa hàng trên phố Hàng Mã cho biết, bộ vàng mã này được nhập từ Thái Lan theo yêu cầu của khách hàng.

8/- Một ngôi nhà được bán với giá 200.000 đồng, bao gồm đầy đủ nội thất : đèn chùm, bếp… lẫn “sổ đỏ” của địa phủ và “giấy chuyển phát nhanh địa phủ thông dụng”. Hay bộ máy vi tính cũng có giá 70.000 đồng.

9/- Trở về nhà sau khi đã sắm sửa cho gia đình mình những lễ vàng mã ưng ý. (theo Quang Xuân)

Lan Huong chuyển tiếp

ĐỌC THÊM :

LỄ VU LAN RẰM THÁNG BẢY

Lễ Vu Lan tức mùa Báo Hiếu vào tháng bảy ngày răm 15 âm lịch, là một trong ba ngày rằm lớn của Phật giáo (cùng các ngày rằm tháng giêng là Tết Nguyên và ngày rằm tháng mười tức Lễ Hạ ngươn). Tuy nói là lễ của Phật Giáo nhưng giờ đây lại mang đậm tính phong tục tập quán trong dân gian.

Nhân ngày Rằm Tháng Bảy sắp đến tức vào ngày 24/8/2010 dương lịch, chúng ta thử tìm hiểu về ngày lễ này :

Rằm Tháng Bảy tức Tết Trung Nguyên hayTrung ngươn, còn gọi là Lễ Vu Lan, ngày lễ chính vào ngày 15 âm lịch. Theo quan niệm của Phật giáo, đây là ngày xá tội vong nhân. Vào mùa Vu Lan (từ ngày rằm cho đến hết tháng bảy âm lịch) người ta làm lễ cúng gia tiên, mua vàng mã để đốt cho người đã chết. Ngoài ra còn làm lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà v.v… cúng các cô hồn ma xó, ma đói.

Lễ cúng cô hồn uổng tử gồm bánh đa, bánh bỏng, ngô, khoai lang, cháo trắng, gạo, muối, giấy tiền vàng mã, quần áo giấy. Những nhà có người mới chết trong vòng một hai năm, thường đốt nhiều đồ mã, làm cơm chay cúng rất lớn.

Theo tín ngưỡng, các chùa chiền vào ngày Lễ Trung Nguyên (mùa Vu Lan) đều tổ chức cúng cháo thí cho cô hồn các đảng. Còn tại gia đình cũng cúng như đã kể, không cúng mặn như cúng giỗ.

Tục cúng cháo thí thường tổ chức tại các đình chùa cho những cô hồn chết đường chết chợ, những người chết oan, chết mất xác ngoài chiến trận không ai biết tên tuổi để cúng giỗ hàng năm. Các cô hồn uổng tử đến nhận chén cháo cho no bụng ấm lòng, và để hưởng ơn “xá tội vong nhân” cho mau chóng được đâu thai sang kiếp khác.

Cháo thí không múc ra chén tô mà bằng những bồ đài đựng bằng lá mít đặt hai bên đường. Khi cúng xong những người ăn mày, kẻ đói cơm và trẻ con tranh nhau vào cướp. Nhà chùa coi đó là cô hồn sống thay lũ cô hồn chết đang cướp cháo thí để được xá tội.

Còn tục đốt vàng mã có tích, ngày xưa trong các buổi tế trời đất của vua, viên quan Tư tế sứ (coi về nghi lễ trong hoàng cung), hay dùng các vật dụng toàn bằng vải tốt và vàng bạc thật, đem ra cúng rồi bỏ đi (vì đồ cúng cho thập loại chúng sinh không được ăn, không được đem vào nhà). Sau vua Huyền Tôn đời Đường, thấy dùng như thế là phí phạm, nên cho dùng tiền giả thay cho các vật dụng bằng vàng bạc thật.

Đến đời Đường Thế Tôn cũng làm tiền giả, là những thỏi vàng, thỏi bạc, tiền giấy được vẽ y như thật để cúng, cúng xong thì đốt đi.

Không còn phí phạm ngân quỹ, nhờ thế sau tiền giả đến quần áo, đồ dùng được đem đốt trong các buổi tế tự cũng làm bằng giấy. Dân chúng noi theo gương ấy bắt đầu dùng đồ mã để đốt dâng cho bậc tổ tiên.

Ở nước ta có tục giật cô hồn. Tức người sống giành giật những mâm cúng, rồi người ta thường đốt vàng mã cho cô hồn, cho tiền người sống bằng cách thảy tiền (đồng tiền bằng kim khí đang lưu hành) cùng với bánh kẹo.

Họ tin nếu người sống mà giành giật càng đông, tức họ đã mua chuộc được lũ cô hồn các đảng không đến quấy phá gia đình mình.

Cúng cô hồn mùng 2 và 16

Song song tục cúng cô hồn vào tháng bảy âm lịch, hàng tháng nhiều nơi còn cúng cô hồn vào ngày mùng 2 hay 16 âm lịch.

Chúng ta cũng biết chưa ai lập bàn thờ để thờ “cô hồn các đảng” trong nhà, chỉ những nơi công cộng thường xảy tai nạn chết người, gọi là am hay miểu cô hồn.

Tuy vậy những nhà buôn bán kinh doanh, người ta thường hay cúng hàng tháng vào các ngày mùng 2 và 16 tại trước cửa nhà (ngoài lễ Vu lan cúng cô hồn trong dịp rằm tháng bảy). Mọi người cho rằng, những oan hồn chết bất đắc kỳ tử nơi ngoài đường xó chợ, đều không được siêu thoát về miền lạc cảnh để đầu thai sang kiếp khác, cho dù không phải là những hồn ma vô thừa nhận.

Người xưa có quan niệm, mỗi người đều có ba hồn (ba hồn bảy vía hay ba hồn chín vía nói về nam giới hay nữ giới), khi chết : một hồn sống ở nơi chết, một hồn sống nơi mồ mả (coi như ngôi nhà mới của họ), và một hồn đi theo phán quan để được luận công tội khi còn sống. Nên người chết ở nơi nào hồn còn luẩn quẩn nơi đó, nếu chết ở nhà thì được thân nhân cúng giỗ cho ăn no mặc đẹp; khi chết ngoài đường xó chợ thì hồn sẽ vất vưỡng không nhà, không cơm ăn áo mặc, trở thành lũ “cô hồn các đảng” tụ họp nhau đi quậy phá cướp bóc các nơi.

Nói quậy phá cướp bóc là nói nghĩa bóng, còn người kinh doanh thấy buôn bán ế ẩm hoặc hay xảy ra chuyện này đến chuyện khác v.v… cho là lũ cô hồn đến đòi ăn, vì không biết nên bị quậy phá.

Để được yên ổn làm ăn buôn bán, nên vào ngày mùng 2 và ngày 16 âm lịch, thường mua các loại hàng mã gồm áo quần, giấy tiền vàng bạc, kẹo bánh trái cây cúng trước cửa nhà (hay nơi đang buôn bán) cùng đĩa muối gạo.

Khi thắp nhang khấn vái thường là câu :

“Tôi tên là ……….. chủ tiệm …………. ở số ……….. đường ………… quận………… tỉnh, thành………….. Việt Nam quốc.

“Hôm nay là ngày mùng 2 (hay 16) tháng…, chúng tôi có ít quần áo, tiền bạc gởi cho các chiến sĩ trận vong, các oan hồn uổng tử, các đảng ở khắp nơi đang khuất mặt khuất mày đến nhận. Sau phù hộ chúng tôi được buôn may bán đắt, mọi sự được sở cầu như ý.

“Chúng tôi nhờ các vị mà được buôn may bán đắt thì lần sau sẽ xin cúng hậu tạ ……… (hứa cúng gì đó như gà luộc, vịt quay, heo quay…).

“Đây là chút lòng thành xin các vị nhận cho”.

Cúng cô hồn hàng tháng giản dị và không quy mô như cúng cô hồn trong mùa Vu Lan, nên không có bọn trẻ con đến giật, nhưng nếu có thì nên cho chúng lấy, vì cúng cô hồn

– Thứ nhất : người cúng không ăn,

– Thứ nhì : không đem vào nhà (nếu không ai giành giật thì bỏ vào túi cho ăn mày). Còn đồ mã thì đốt ngay tại chỗ, đĩa muối gạo được rải ra xa.

Thiên Việt

Logo Phong su

GIÀNH GIẬT ĐỒ CÚNG CÔ HỒN

Suốt ngày rằm tháng bảy, nhiều tuyến đường các tỉnh miền Tây bị kẹt xe vì nhiều người đổ xô ra đường đi “giật vàng”, đầu heo, mì gói, gạo, muối…

Sau đây là phóng sự ảnh về « cô hồn sống » hướng mắt về một địa điểm đang cúng cô hồn… rất hoành tráng :

Nhiều người chen lấn nghẹt thở để chờ được lĩnh gạo, muối. Còn không chờ được đã trèo qua cả tường rào. Khi chủ nhà đổ đồ cúng xuống, khung cảnh giành giật ở phía dưới. Tìm kiếm những gì con sót lại trong đám cỏ dại.

Thiên Phước chuyển tiếp

LÊN CHÙA ĂN CHAY

RẰM THÁNG 7

Mấy năm qua người dân Sài Gòn thường nô nức lên chùa cầu an,  dâng lễ cúng trong ngày rằm tháng tháng 7. Đây cũng là dịp, nhiều người ăn chay để tỏ lòng báo hiếu với các đấng sinh thành.

Từ  sáng sớm ngày Vu Lan, tại nhiều chùa trong thành phố, nhiều người đã có mặt, thắp hương và làm lễ cúng. Nhiều người nán lại đến giờ trưa để ăn chay tại chùa.

Bà Huệ một Phật tử, cho biết những ngày rằm khác có thể không lên chùa do bận rộn, nhưng riêng rằm tháng 7 thì không thể bỏ. “Tháng 7 là tháng xá tội vong nhân của người âm, nên tôi phải đi chùa, ăn chay để cầu mong cho linh hồn của người thân đã khuất được siêu thoát. Tôi chuẩn bị một ít trái cây, hoa tươi làm lễ dâng cúng. Ăn chay thể hiện sự thành tâm trong sáng, nhớ đến công ơn của người đã sinh thành”.

Nằm ở quận 3, chùa Vĩnh Nghiêm được xem là một trong những chùa lớn và linh thiêng nhất thành phố, được trang trí lộng lẫy với nhiều nghi thức cúng bái trong ngày Vu Lan.

8 giờ sáng ở khu vực gửi xe đã tràn ra lề đường. Mọi người lần lượt nối tiếp nhau đứng thắp nhang từ ngoài sân vào bên trong chùa. Nhiều dịch vụ bán lễ vật, chim phóng sinh, gửi xe xung quanh khu vực chùa cũng hoạt động nhộn nhịp. Đặc biệt trong khuôn viên nhà chùa còn có nhà hàng Việt Chay nên càng thu hút đông đảo thực khách chuộng món chay đến thưởng thức.

Một chị nhà ở quận Bình Thạnh lên chùa cầu cho mẹ có thêm sức khỏe, sống vui với con cháu. Chị cho biết sẽ ăn chay nguyên tháng 7. “Mình ăn chay là vì cái tâm mong muốn được thanh thản. Hơn nữa, nó cũng trở thành thói quen ăn uống rồi”.

Một ngôi chùa khác cũng ở quận 3 cũng nổi tiếng là chùa Xá Lợi, cũng đông người không kém. Điều thú vị là không chỉ có tăng ni, phật tử, người cao tuổi mà khá nhiều học sinh cũng vào thắp hương, cầu sức khỏe cho mẹ cũng như gia đình. Trong sân chùa, các quầy bán đồ đi lễ, đồ ăn chay nườm nượp khách. Các bạn trẻ trong trang phục áo lam đứng trước cổng, tay cầm bông hồng vải và trân trọng cài lên ngực cho người đến chùa. Bông hồng màu đỏ cài cho người còn mẹ, còn những ai mất mẹ sẽ được cài bông màu trắng.

Một thiếu nữ chưa đến tuổi thành niên, con của một phật tử thường đến cúng tại chùa Xá Lợi cho biết, thông thường em vẫn lên chùa học phật pháp vào mỗi chiều chủ nhật, nhưng hôm nay, đến từ sớm để cùng nhà chùa chuẩn bị nghi lễ cúng nhường. “Có lần em đứng cài hoa cho một chị bán vé số ở chùa. Khi hỏi chị cài bông màu gì, thì chị không nói câu nào mà chọn một bông màu trắng cài lên ngực, rồi quay mặt đi khóc nức nở. Hình ảnh đó làm em xúc động và nhớ mãi”, Em gái này chia sẻ : “Năm nào vào dịp rằm tháng 7, em cũng cùng nhiều bạn bè đều giúp nhà chùa việc cài hoa này.

Hải Duyên chuyển tiếp

Logo vannghe A

VNT Thanh DuongNGÀY RẰM THÁNG BẢY

Tháng Bảy âm lịch những cơn mưa,

Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau chưa ?

Thôi đừng khóc nữa mưa ngâu ấy,*

Ô Thước lại  bắc cầu anh qua.

Mưa nắng miền Nam có hai mùa,

Mưa từ miền Bắc lạnh tứ bề,

Mưa vào miền Trung như hờn tủi,

Mưa mấy ngày liền, dài lê thê.

Để rằm tháng bảy ai lòng đau,

Nhan quaThương những vong hồn đi về đâu?

Mồ hoang mả lạc không người viếng,

Hồn chưa siêu thoát chờ kiếp sau.

Xá tội vong nhân, cúng cô hồn,

Những bát cháo loãng bày ra đường,

Mâm cúng có bỏng, khoai, gạo, muối…

Hồn về ăn cho đỡ đói lòng.

Những vong hồn vất vưởng trần gian,

Tr Phat giaoGió mưa tháng bảy có lạnh không ?

Thắp nén hương cho hồn ấm lại,

Hương khói đưa hồn về cõi âm.

Rằm tháng bảy lễ cúng Vu Lan,

Nhớ về điển tích Mục Kiền Liên,

Chịu bao khổ hạnh báo hiếu mẹ,

Cung 1Thoát khỏi tội nghiệt để siêu thăng.

Đóa hoa Hồng đỏ hạnh phúc thay,

Cài lên áo con, mẹ còn đây,

Con bé dại hay con khôn lớn,

Mẹ vẫn  là điểm tựa tháng ngày..

Rằm tháng bảy tôi đi lễ chùa,

Cung 2Đọc kinh cầu siêu mẹ hiền xưa,

Đoá hoa Hồng trắng cài lên áo

Màu trắng như màu tang bơ vơ.

Tôi mất mẹ đã từ lâu rồi,

Bóng hình mẹ vẫn còn trong đời,

Mỗi khi đường đời gặp bất trắc,

Cung 3Tôi lại khấn nguyện thầm mẹ tôi.

Ngày rằm tháng bảy tôi kính dâng

Cõi lòng thành khi thắp nén hương,

Cám ơn mẹ cho tôi cuộc sống,

Cho tôi cả một trời yêu thương..

Nguyễn Thị Thanh Dương.

(August,3, 2014 tức mồng 8 tháng bảy âm lịch)

* Chức Nữ khóc thành mưa Ngâu mỗi khi tạm biệt Ngưu Lang

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Logo vannghe A

Ng Nhuoc PhapCÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Qua thi phẩm đầy lãng mạn của :

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

(1914 – 1938)

– Bài NGUYỄN VIỆT

Nói đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp phải nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Chùa Hương” của ông và nhạc phẩm “Đi chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914, ở xã Phượng Dực, huyện Phú Xuân, Hà Nội. Là con trai của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn là một ông chủ nhà in mang tên Trung Bắc Tân Văn ở xứ Bắc thời kỳ bấy giờ; còn mẹ ông là bà vợ hai của cụ Vĩnh tên Hai Lựu. Đến giờ không ai rõ tên bà Hai Lựu, chỉ biết bà người cao ráo, trắng trẻo, giao du rộng, nói thạo tiếng Pháp và sử dụng súng ngắn rất thành thạo.

Trong gia đình, Nguyễn Nhược Pháp có các người anh cùng cha khác mẹ, thuộc dòng bà cả, gồm nhà thơ Nguyễn Giang (về sau ông này là bạn thân của họa sĩ Picasso) sinh ở Bắc Giang; người anh thứ tên Nguyễn Dực sinh ở Phượng Dực, Nguyễn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp – Phổ và Nguyễn Hồ anh út.

Khi đi học Nguyễn Nhược Pháp học tại trường Albert Sarraut và sau khi thi đậu tú tài, ông vào học tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương. 9 Chua Huong 2Nhưng sau đó như để nối nghiệp cha, lúc thành tài ông không vào làm bất kỳ ngạch quan lại hoặc công chức nào trong chính quyền, mà làm thơ viết văn làm báo.

Nguyễn Nhược Pháp làm thơ rất sớm ngay còn thuở còn mài đủng quần nơi ghế nhà trường; vì theo nghề cha nên ông từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Truyện ngắn và kịch của ông có lẽ không phổ biến nhiều và không nổi tiếng bằng thơ. Ngoài thi phẩm “Chùa Hương”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp còn có những bài thơ khá nổi tiếng khác như “Tay Ngà” và “Sơn Tinh Thủy Tinh” (bài thơ này ông viết tặng Nguyễn Giang con bà cả).

Năm 1936 lúc nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã hơn hai mươi hai tuổi, ông đang nổi tiếng với tập thơ “Ngày xưa”, gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử của thân sinh là cụ Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó gia cảnh đang thuộc hàng giàu có ở Hà Thành bỗng dưng sa sút, có thể từ hoàn cảnh đó đã khiến cuộc đời người thi sĩ tài hoa này đã bước sang hướng khác. Nên từ thời điểm đó cho đến khi Nguyễn Nhược Pháp qua đời chỉ vài năm sau, ông không có thêm tập thơ nào cũng như một bài thơ nào nổi bật, kể cả người gần gủi với ông về mặt tinh thần tức nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ cũng không đề cập đến thân thế của ông nhiều trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”.

Người tài thường đoản mệnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời lúc ông mới 24 tuổi vào ngày 19/11/1938, do bệnh thương hàn.

Tác phẩm Nguyễn Nhược Pháp đã in cóNgày xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935), Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội).

Trong thi phẩm “Ngày xưa”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sắp xếp thứ tự như sau : Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn; Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn; Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn; Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn; Mỵ Nương (Mai 1933), thất ngôn bát cú; Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn; Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932), 9 Chua Huong 3thất ngôn bát cú; Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn; Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn và Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoàn Chân đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” về ông :

– Nguyễn Nhược Pháp in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tý Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý : với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Bài thơ “Chùa Hương” nổi tiếng của ông đã được ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Đức và giáo sư  Trần Văn Khê phổ nhạc.

…Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó. Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân… nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ… có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.

Bài thơ “Cô gái chùa Hương” khi in vào tập “Ngày Xưa” thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát “Em đi chùa Hương”. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, nhạc phẩm này đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

9 Chua Huong 5Đến nay, bài thơChùa Hương” đã gần 80 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 76 năm, song “Chùa Hương” cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương cùng với thời gian…

Xuất xứ bài thơ “Chùa Hương”

Trong cuốn Văn sĩ thi sĩ tiền chiến” của nhà thơ Nguyễn Vỹ, (chủ nhiệm bán nguyệt san Phổ Thông; từng là bạn chơi thân với Nguyễn Nhược Pháp, vì Nguyễn Vỹ chỉ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh ở đất Quy Nhơn nhưng thành danh ở đất Hà thành, và sau khi vào sống ở Sài Gòn, nhà thơ này càng nổi tiếng với bài Gửi Trương Tửu); trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” chúng ta có thể xác định được thời điểm ra đời của thi phẩm “Chùa Hương” vào khoảng năm 1935.

Theo Xuân Ba kể về xuất xứ của bài thơ “Cô gái Chùa Hương” như sau :

– Chuyến đi chùa Hương vào tháng Giêng âm lịch năm ấy, gồm có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người yêu của hai chàng ?). Hai cô này thuộc dạng phụ nữ tân thời và có lẽ là con nhà khá giả, nên một trong hai cô có đem theo cả máy chụp hình. Mà máy chụp hình khi đó là của hiếm, nhà giàu có mới sắm nổi…

Qua đò suối Yến là cả nhóm bắt đầu đi xuyên qua rừng mơ. Trên lối mòn khúc khuỷu, cây đá gập ghềnh, cả bọn gặp một cô gái độ tuổi trăng tròn bận quần lĩnh áo the đang dắt tay một bà, không rõ là bà hay mẹ ? Khi hai người đi miệng luôn khe khẽ niệm Phật. Cả bọn liền vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược Pháp đứng sững lại bên hai người, tức thì cô gái bặt luôn tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp mới khẽ hỏi tại sao cô không niệm tiếp, giọng niệm Phật nghe hay lắm… Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói…

9 Chua Huong 8Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn của Nguyễn Vỹ và Nguyễn Nhược Pháp có máy chụp hình, quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy chụp ngay một “pô” ! Từ lúc đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ngủ lại trong chùa để sáng hôm sau ra về, cả bọn đều không gặp lại bà cụ với cô gái nọ. Dù là thế nhưng hai cô bạn gái lại có ý phiền trách, thậm chí lạnh nhạt với Nguyễn Nhược Pháp và cả Nguyễn Vỹ về động thái “người đâu gặp gỡ làm chi ấy…” Tuy có hờn giận nhưng khi về đến Hà Nội, cô gái vẫn đưa tấm ảnh chụp cảnh Nguyễn Nhược Pháp đang đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó ! (nay tấm ảnh này cũng đã thất lạc).

Nguyễn Nhược Pháp đâu có để tâm đến tấm hình chụp. Mà chàng đang bận tâm chuyện khác. Chàng đưa bài thơ “Cô gái Chùa Hương” viết chưa ráo mực cho Nguyễn Vỹ xem, nội dung tưởng tượng thêm nhiều sự kiện, từ cảnh gặp gỡ bất chợt đến khi rời chùa Hương Tích ra về… Bài thơ lúc đầu có tên là “Cô gái chùa Hương” sau đưa vào tập thơ “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp bỏ hai chữ đầu còn lại là “Chùa Hương”.

Ngày hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn Vỹ đưa bài thơ vào một cuốn thơ của mình mà lâu nay đang có ý xuất bản. Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nhà thơ Nguyễn Vỹ mới gợi ý là xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy ! Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy ? (tức bà cả ngôi thứ trên mẹ ruột của ông, nhưng thương ông như con dứt ruột sinh ra) Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra đời năm 1935.

Gai BacMột giai thoại khác cũng kể về xuất xứ bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp :

– Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi :

– “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, 9 Chua Huong 1hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Thân thế nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nói về thân thế của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, ở phần sơ lược tiểu sử trên chúng ta đã biết, mẹ ruột của ông tức bà Hai Lựu, vợ hai của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Và trong những giai thoại có kể đến mối tình này :

Thời gian ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh rất giàu có, khai thác một khách sạn ở phố Hàng Trống, làm chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn tại ngay trung tâm Hà Nội. Cả hai nơi là địa điểm gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và của những người có máu mặt của đất Hà thành. Người đẹp Hai Lựu cũng đã lọt vào mắt xanh ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh khi đến nơi đây.

Đến bây giờ chưa ai biết rõ họ tên thật của bà Hai Lựu tức thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, cũng như xuất xứ quê quán ở đâu. Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn, và có họ gần với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định (?). Sau này, do nhiều nguyên nhân, các con cháu của cụ Nguyễn Văn Vĩnh không có điều kiện để tìm hiểu gốc gác của bà Hai Lựu mẹ kế của họ như thế nào.

Đặc biệt là bà Hai Lựu biết sử dụng súng ngắn rất thành thạo, và luôn có súng trong người ! Khi bà đã thành thân với cụ Nguyễn VănVĩnh sinh được Nguyễn Nhược Pháp, bà từng có các mối giao du khá rộng nên khá thân với bà Suzanne, vì thế có lần bà Hai Lựu giới thiệu Suzanne với chồng người bạn thân của bà để tiện giao thiệp.

Với tính phong lưu đa tình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy, cụ làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne khả ái đó. Tr mong mo 3Cho nên mọi người phát hiện ra, rồi báo chí Hà Nội bấy giờ đã đăng mập mờ chuyện lén lút vụng trộm giữa cụ với người đẹp Suzanne. Làm bà Hai Lựu nổi cơn ghen, trong mình mang súng ngắn đáp xe đến trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm, định phải quấy một phen với chính người bạn thân của bà !

Khi bà Hai Lựu đến nơi, cơn ghen cũng đã hạ hỏa và có lẽ do giữ thanh danh cho chồng, phần chợt trỗi chút thiên lương nên bà hạ súng ! Trái lại bà đã chọn cho mình một cái chết tức tưởi, bỏ lại cậu con trai khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp.

Người xưa có câu : Chết cha ăn cơm với cá/ Chết mẹ liếm lá đầu đường…

Tuy mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp từ năm lên hai tuổi đó đã may mắn được lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến ngày ông qua đời.

Lễ Hội Chùa Hương (trích Wikipedia)

Chùa Hương và động Hương Tích là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên H Tay ch Huong 4Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật.

Hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, không chỉ trong mùa lễ hội, hằng ngày vẫn có hàng ngàn lượt người đến vãn cảnh chùa. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn : Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Nguyên tác bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp

9 Chua Huong 6Hôm nay đi Chùa Hương,

Hoa cỏ mờ hơi sương.

Cùng thầy me em dậy,

Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,

Em đeo giải yếm đào;

Quần lĩnh, áo the mới,

Tay cầm nón quai thao.

Me cười: «Thầy nó trông !

Chân đi đôi dép cong,

Con tôi xinh xinh quá!

Bao giờ cô lấy chồng?»

9 Chua Huong 7Em tuy mới mười lăm

Mà đã lắm người thăm,

Nhờ mối mai đưa tiếng,

Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,

Vì thầy bảo người mai

Rằng em còn bé lắm !

(Ý đợi người tài trai.)

Em đi cùng với me.

Me em ngồi cáng tre,

Thầy theo sau cưỡi ngựa,

Thắt lưng dài đỏ hoe.

9 Chua Huong 9Thầy me ra đi đò,

Thuyền mấp mênh bên bờ.

Em nhìn sông nước chảy

Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần,

Đời mấy kẻ tri âm?

Thuyền nan vừa lẹ bước,

Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ thường!

Tướng mạo trông phi thường.

Lưng cao dài, trán rộng.

Hỏi ai nhìn không thương ?

Chàng ngồi bên me em,

Me hỏi chuyện làm quen:

9 Chua Huong 10«Thưa thầy đi chùa ạ?

Thuyền đông, trời ôi, chen!»

Chàng thưa: «Vâng thuyền đông!»

Rồi ngắm trời mênh mông,

Xa xa mờ núi biếc,

Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.

Ngâm nga chàng đọc thơ.

Thầy khen: «Hay! Hay quá!»

Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, Bến Đục qua.

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói:

«Nam Mô A Di Đà!»

Réo rắt suối đưa quanh.

Ven bờ, ngọn núi xanh,

Cung 2Nhịp cầu xa nho nhỏ.

Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,

Bao nhiêu là khỉ ngồi.

Tới núi con Voi phục,

Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.

Tr gai bac 6(Thuyền ta đi một ngày.)

Lên cửa chùa em thấy

Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau.

Em không dám đi mau,

Ngại chàng chê hấp tấp,

Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ,

Trầm hương khói tỏa mờ.

Hương như là sao lạc,

H Tay ch Huong 6Lớp sóng người lô nhô.

Chen vào thật lắm công.

Thầy me em lễ xong,

Quay về nhà ngang bảo:

«Mai mới vào chùa trong.»

Chàng hai má đỏ hồng

Kêu với thằng tiểu đồng

Mang túi thơ bầu rượu:

«Mai ta vào chùa trong!»

Đêm hôm ấy em mừng.

Mùi trầm hương bay lừng.

Tr gai Bac 4Em nằm nghe tiếng mõ,

Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời!

Mơ nhiều… Viết thế thôi!

Kẻo ai mà xem thấy,

Nhìn em đến nực cười!

Em chưa tỉnh giấc nồng,

Mây núi đã pha hồng.

Thầy me em sắp sửa

Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo veo,

Hoa đỏ, tím, vàng leo.

Vì thương me quá mệt,

Cung 3Săn sóc chàng đi theo.

Me bảo: «Đường còn lâu,

Cứ vừa đi ta cầu

Quán Thế Âm Bồ Tát

Là tha hồ đi mau!»

Em ư ? Em không cầu,

Đường vẫn thấy đi mau.

Tr Ao daiChàng cũng cho như thế.

(Ra ta hợp tâm đầu.)

Khi qua chùa Giải Oan,

Trông thấy bức tường ngang,

Chàng đưa tay lẹ bút

Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen: «Hay!

Chữ đẹp như rồng bay.»

(Bài thơ này em nhớ,

Nên chả chép vào đây.)

Ô! Chùa trong đây rồi !

Tr gai Bac 1Động thắm bóng xanh ngời.

Gấm thêu trần thạch nhũ,

Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Me vui mừng hả hê:

«Tặc ! Con đường mà ghê !»

Thầy kêu: «Mau lên nhé!

Chiều hôm nay ta về.»

Em nghe bỗng rụng rời

Nhìn ai luống nghẹn lời!

Giờ vui đời có vậy,

Thoảng ngày vui qua rồi!

Tr ao sen 2Làn gió thổi hây hây,

Em nghe tà áo bay,

Em tìm hơi chàng thở.

Chàng ôi, chàng có hay?

Đường đây kia lên trời,

Ta bước tựa vai cười.

Yêu nhau, yêu nhau mãi!

Đi, ta đi, chàng ôi!

Ngun ngút khói hương vàng,

Say trong giấc mơ màng,

Em cầu xin Trời Phật

Sao cho em lấy chàng.

Nhạc phẩm “Em Đi Chùa Hương” của NS Trung Đức

Hôm nay em đi chùa Hương / Hoa cỏ còn mờ hơi sương / Cùng thầy me em vấn đầu soi gương / Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo giải yếm đào / Quần lãnh, áo the mới / Tay em cầm chiếc nón quai thao / Chân em di đôi guốc cao cao

9 Chua Huong 4Đường đi qua bến Dục / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Em bây giờ mới tuổi mười lăm / Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Nam mô A Di Đà / Nam mô A Di Đà

http://youtu.be/hNjCiEO9CeA

http://youtu.be/YiIWMvxCsX0

Thi phẩm “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ngoài nhạc sĩ Trung Đức phổ thành nhạc thành công nhất, còn trước đó giáo sư Trần Văn Khê cũng có phổ nhạc, sau này có nhạc sĩ Song Ngọc lấy ý thơ “Chùa Hương” mà soạn thành nhạc phẩm riêng…

Nguyễn Việt

(Trích trong cuốn : “Tác phẩm – tác giả Thơ Văn Nhạc Họa trữ tình” của tác giả, sắp xuất bản)

SỰ THẬT CHUYỆN BÙA YÊU

Logo kinh di 1

9 Luyen bua yeu 2RÙNG MÌNH NHỮNG KIỂU

LUYỆN BÙA YÊU

101 cách làm bùa yêu được “giăng” khắp thế giới ảo. Và cũng ngần đấy kiểu quái gở, rùng mình được hưởng ứng, làm theo…

Rùng mình 101 cách luyện bùa yêu

Trong một lần lướt web, tình cờ Nghĩa Tú (21 tuổi, Hồ Tây, Hà Nội) thấy có cách tự làm bùa yêu. Tú tỏ ra rất hứng thú vì đang yêu đơn phương một phụ nữ đã có chồng. Mà theo lời quảng cáo thì với loại bùa yêu này, người bị bỏ bùa sẽ bỏ chồng, bỏ vợ để đến với người yêu.

Một “cao tăng” có nickname là atchubai dạy Tú : đúng 12 giờ khuya phải một mình vào nghĩa trang, mang theo đèn pin, búa, đục và một tờ giấy đỏ. Nếu đối tượng bị bùa yêu là nữ thì lựa một cái bia mộ của nam, chết trẻ, lý do chết vì tình càng hiệu quả, còn không thì đua xe lạng lách, đánh võng cũng được (!). Lấy dao cạo ít đá ở bia mộ, xong cẩn thận gói lại bằng mảnh giấy đỏ rồi mang về nhà, đặt gói đá dưới gối và đi ngủ.

Lưu ý từ đó về sau đúng 3 ngày 3 đêm… không tắm mới có hiệu nghiệm. Sau ngày thứ ba, đặt lên bàn thờ tổ tiên thắp nhang khấn vái. Vái như thế nào là tùy bạn, chẳng hạn con tên gì đó, lỡ yêu cô tên gì gì đó, nay nhờ ông bà phù hộ độ trì cho con được nên duyên chồng vợ… Đọc đã thấy sợ, nhưng nghĩ tủi phận mãi chỉ là “trái tim bên lề”, Tú thu hết can đảm thực hiện.

9 Luyen bua yeu 1Sau khi thăm dò và có trong tay lai lịch người chết trẻ, trong một đêm, lấy hết can đảm Tú phóng xe tới nghĩa trang nằm ở đường Nguyễn Hoàng Tôn (Hồ Tây). Chân tay run lẩy bẩy, Tú vội lấy dao, lấy giấy để cạo ít đá ở trên bia mộ. Được một ít, Tú gói vào giấy đỏ phóng như bị ma đuổi về nhà và thực hiện như lời chỉ dẫn của “cao tăng”.

Không biết bùa ngải linh ứng đến đâu, chỉ biết rằng sau hôm đó, cứ mỗi lần nằm ngủ là Tú mê thấy cảnh một mình ở nghĩa trang cạo trộm đá bia mộ, rồi người trong mộ oán trách vì bị cạo trộm đá. Nỗi hãi hùng ám ảnh khiến Tú quên cả nhớ tới người trong mộng.

Bên cạnh bùa đá bia mộ còn có thứ bùa huyết cũng được nhiều người “hâm mộ”. Thứ bùa này không phải bây giờ mới xuất hiện mà cách đây hơn chục năm về trước, gái bán dâm cũng hay sử dụng để “trói” khách mua dâm. Dần dần, cách làm thứ bùa ngải kinh dị này lan ra và được một số người “học tập”.

Sở dĩ gọi bùa huyết vì người làm bùa sẽ lấy ít máu đến tháng của mình để hòa vào cà phê cho người bị bỏ bùa uống. Một cách làm bùa tại gia nữa cũng hài hước không kém, được nhiều người rỉ tai nhau đó là… hầm đồ lót của hai người.

Theo hướng dẫn, đúng ngày đấy, tháng đấy người làm bùa phải lấy đồ lót của mình và của người yêu cho… vào nồi ninh với một số loại lá (!); vừa hầm vừa khấn, rồi đem phơi khô, quy trình lặp lại trong 7 ngày, chắc chắn sẽ linh nghiệm.

Trầy trật vì bùa

Minh Hương, 25 tuổi, là công nhân một xí nghiệp may mặc ở Thạch Thất (Hà Nội) và Hùng – đồng nghiệp đã yêu nhau được hơn một năm. 9 Luyen bua yeu 3Nhưng dạo này Hương thấy Hùng lạnh nhạt với mình và săn đón một cô gái trẻ hơn ở cùng xí nghiệp. Hương thấy buồn và quyết tâm giành lại tình yêu của mình.

Một lần được bạn bè rỉ tai cách làm bùa huyết, Hương khấp khởi bắt tay vào thực hiện. Buổi tối thứ bảy, Hương hẹn Hùng tới phòng trọ của mình chơi. Ngồi một lúc, Hương mang tới ly cà phê đặc quánh bốc khói nghi ngút mời Hùng uống. Chẳng nghi ngại, Hùng nhâm nhi uống.

Sau 15 phút uống hết ly cà phê, Hùng lên cơn đau bụng dữ dội. Nghĩ là bùa huyết hiệu nghiệm, Hương dìu Hùng vào trong phòng nghỉ và mong ngóng sự linh nghiệm. Nhưng, cơn đau của Hùng ngày càng tăng khiến Hương phải đưa Hùng đi bệnh viện cấp cứu.

Khi thấy Hùng khỏe lại, Hương lại lên kế hoạch bỏ bùa để giành lại người yêu. Cô lén lấy đồ lót của Hùng và làm theo chỉ dẫn ở trên mạng (Người vợ hoặc người chồng sẽ lấy đồ lót bẩn của bạn đời, loại có thấm nhiều mồ hôi và rang trong vòng bảy ngày… Chồng hoặc vợ dù đang đắm đuối với tình yêu ngoài luồng sẽ ngay lập tức rời bỏ tình yêu đó để trở về với cuộc hôn nhân của mình).

Những kết quả đâu chẳng thấy, chỉ biết rằng sau đó cả cô và Hùng đều phải đi bác sĩ da liễu. Viện phí, thuốc men tốn nhiều tiền, lương công nhân ít ỏi, 9 Luyen bua yeu 4cũng như khác nhau về suy nghĩ, khiến cả hai cãi vã liên tục. Một thời gian sau, hai người đường ai nấy đi.

Những bế tắc trong tình cảm luôn khiến con người ta tin và cầu viện đến bùa yêu. Đó là khẳng định của một nhà nghiên cứu công tác tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người. Thế nhưng, theo nhà nghiên cứu này, những cách làm bùa yêu mà cộng đồng mạng lan truyền chỉ là trò chơi nhảm nhí, bệnh hoạn, sặc mùi mê tín, mất thời gian, không hề linh nghiệm trong cuộc sống thực.

Việc làm này  không những làm xáo trộn cuộc sống tinh thần của chính người làm bùa và những người bị “khuyến mại” bùa, mà còn dẫn đến  tâm lý bất an, thậm chí hoang tưởng với những người sức khỏe tâm thần kém. “Chẳng có thứ bùa ngải nào hiệu nghiệm khi hai người đến với nhau mà không có tình yêu chân thành từ hai phía”- nhà nghiên cứu này nhấn mạnh.

9 Chuyen bua yeu 1NHỮNG CHUYỆN CÓ THẬT

VỀ BÙA YÊU

Bùa yêu là thứ tồn tại từ lâu, chẳng biết thực hư ra sao, nhưng đến tận ngày nay còn không ít người tin vào sự hiệu nghiệm của nó. Chỉ cần bạn gõ hai tiếng Bùa yêu trên trang tìm kiếm google, bạn sẽ thấy hàng trăm bài viết về bí quyết có được tình yêu nhờ bỏ bùa mê thuốc lú.

1/- Một anh chàng đẹp trai, trắng trẻo, khoẻ mạnh, quê ở một tỉnh đồng bằng. Vì không đỗ đại học, nên anh theo người bà con đi làm phụ hồ, nay Hoà Bình, mai Lạng Sơn, Tuyên Quang. Sau hai năm dãi dầu mưa nắng, chàng trai đã thực sự trở thành người đàn ông cứng cáp, nhanh nhẹn, là niềm mơ ước của bao cô gái, nhất là những cô gái cùng làng.

Ở nhà, bố mẹ chàng trai cũng đã để ý giúp anh vài đám, định bụng cho anh đi làm ăn vài năm, kiếm chút tiền, sửa lại cái nhà rồi mới cưới vợ cho anh. Mỗi lần anh về chơi, các cô gái cùng xóm chủ động sang nhà anh chơi, không ít cô còn bạo dạn ngỏ lời trước, anh chỉ cười và ậm ừ cho qua chuyện. Mọi người khen anh là hiền lành, chịu khó, dễ thương.

Đùng một cái anh đòi cưới vợ, là một cô gái người dân tộc thiểu số, hơn anh 2 tuổi, mới chỉ học hết lớp năm. Gia đình ngăn cản, anh tỏ ra bực tức và bỏ nhà lên chung sống với cô gái đó. Đến nay đã gần 10 năm, chàng trai hạnh phúc bên vợ, chăm chỉ làm ăn, ngoan ngoãn, chung tình và đặc biệt rất nghe lời vợ. Vợ cho phép Tết về quê 3 ngày, thế là đúng 3 ngày anh lại xách túi ra đi. Có năm, gia đình làm thượng thọ cho ông nội, nên chàng trai cố ở lại thêm một hôm, nhưng đến đêm, chàng thấy ruột gan nóng như có lửa đốt, 9 Chuyen bua yeu 2phải bỏ nhà đi ngay. Gia đình nói anh bị cô gái người dân tộc “bỏ bùa yêu”.

2/- Một anh sinh viên tình nguyện lên miền núi giúp đỡ bà con vài tháng, gặp cô gái đẹp người đẹp nết, anh đem lòng yêu mến. Cô gái cũng thương anh, trao cho anh tất cả, đến mức cô đã có thai. Hè hết, anh xin phép về thành phố tiếp tục học, hứa sẽ quay trở lại cưới cô gái. Nhưng rồi anh định “đánh bài chuồn”. Nào ngờ hai tháng sau chàng sinh viên ấy hoá điên, gia đình đưa đi bệnh viện, chữa mãi chẳng khỏi, đành cho anh bỏ học, nhốt ở nhà. Ngày ngày anh ngồi trong phòng, nhìn qua cửa sổ, hát véo von một mình bài hát không rõ lời, mọi người bảo đó là bài hát tiếng dân tộc. Người ta bảo anh bị cô gái “bỏ bùa yêu”, nếu có ý định phản bội sẽ hoá điên. Nghe đâu gia đình định đưa anh lên núi tìm cô gái đã yêu thương anh và xin được cưới cô.

Nhiều người bảo bùa yêu có thật, có người nói chính chị gái, em trai, chú ruột, bác họ của họ đã bị “bỏ bùa yêu”, nhưng chưa ai chỉ ra được bùa yêu là cái gì, làm ra sao, tại sao nó lại có sức mạnh ghê gớm đến mức bắt trái tim vào khuôn khổ. Người ta nói làm “Bùa yêu” là một bí quyết, không ai được tiết lộ, nếu tiết lộ sẽ mất thiêng, chính vì thế ngành sản xuất bùa yêu mới không phát triển. Giá có bùa yêu thật bày bán và có hiệu nghiệm, chắc chắn những người làm ra nó sẽ thành tỉ phú trong một thời gian ngắn, bởi “khách hàng” khá đông.

Chuyện kể trên thực hư thế nào không rõ, nhưng câu chuyện sau đây là có thật.

3/- Cô gái tên Hiền rất thích chàng trai tên Minh, nhưng anh chàng vừa đẹp trai, vừa có tài này có vẻ “lửng lơ con cá vàng”. 9 Chuyen bua yeu 3Hiền đã phải chủ động gọi điện, hẹn hò, mua quà cho chàng trai mà vẫn chưa được chàng để ý. Bực mình, Hiền rủ chàng trai đi nhà nghỉ để tâm sự, chủ động đưa chàng vào bẫy, hy vọng sau một đêm “làm tiên ông”, Minh sẽ phải yêu thương cô. Vậy mà chàng vẫn trơ như đá, vẫn chỉ để ý đến những cô gái con nhà lành, mới lớn.

Nghe người mách bảo trên Bắc Giang có ông thầy, có khả năng làm “bùa mê thuốc lú” giỏi có tiếng, thế là Hiền lặn lội lên gặp “thầy”. Lần đầu đến nhà thầy bói, cô đặt có 20 nghìn đồng, nên thầy bảo về nhà lừa lúc Minh không để ý, hãy nhổ một bãi nước bọt vào cốc nước để anh ấy uống, bảo đảm anh ta sẽ chết mê chết mệt ngay. Vậy mà từ bữa đó, Minh uống đến cả chục lần nước bọt của Hiền mà anh vẫn trơ như đá.

Buồn bã vì tình duyên lận đận, Hiền lại đến gặp thầy. Thầy bảo con và nó có duyên nợ với nhau, sớm muộn cũng thành vợ thành chồng. Nhưng hiện nay đang có kẻ ám, thành ra nó chưa mặn mà với con. Muốn cho nhanh, chỉ có cách làm lễ “giải ám”. Thầy dặn về nhà sắm lễ vật, tiền lễ và kiếm một nhúm tóc, 2 mẩu móng tay của chàng trai mang đến, thầy sẽ giúp. Tiền bạc, lễ vật thì Hiền không ngại, nếu thiếu có thể vay Hương, cô bạn gái thân. Nhưng tóc và móng tay của Minh thì khó kiếm quá. Không lẽ lại bảo “anh ơi cho em xin một ít tóc và hai cái móng tay của anh để em làm Bùa yêu ?”.

Nhưng con gái đã muốn là được, nhất là khi đã có niềm tin. Trong cái khó, lại ló ra cái khôn. Hiền rắp tâm rình xem Minh hay cắt tóc ở quán nào, rồi đến nói khó với ông thợ giữ lại cho cô những thứ cô cần. Nửa tháng sau cô đến quán cắt tóc, đưa cho ông thợ cạo 100.000đ, cô được ông đưa cho một nhúm tóc và hai mẩu móng tay, nói là của Minh vừa cắt hôm kia. Vui mừng khôn tả, Hiền đến gặp thầy. Đặt lễ hai trăm nghìn rồi đưa thầy làm lễ. Làm xong, thầy gói hai thứ kia bảo Hiền mang về đặt dưới gối của mình, thế nào cũng đến lúc Minh để ý đến cô.

Nhưng cả tháng trời không thấy Minh đến chơi, buồn quá cô gọi điện hẹn anh đi uống nước. Nhìn thấy mái tóc Minh dài ngang vai, có đến hai tháng chưa cắt, 9 Chuyen bua yeu 4Hiền biết mình bị lão chủ quán cắt tóc lừa, lấy tóc và móng tay của ai đó đưa cho cô. May mà bùa mê không linh nghiệm, nếu không lại có ông già nào mà cô đã lấy tóc và móng tay của ông đến tán tỉnh, đòi yêu cô thì chết.

Đến lần thứ ba, thầy cho Hiền một tờ giấy xanh đỏ, có vẽ ngoằn ngoèo cái gì đó mà thầy bảo đấy là bùa yêu. Thầy dặn phải đốt lên, cho vào cốc nước cho “nó” uống, nó sẽ theo con, xách dép cho con suốt đời. Vậy là hôm ấy Minh đến chơi, Hiền pha cà phê đen cho anh uống. Nhân lúc Minh vào nhà vệ sinh, Hiền lén đổ gói tàn tro vào cốc cà phê đen đá của anh. Nhưng chưa kịp ngoáy cho tan hết, Minh đã ra. Nhìn thấy cảnh Hiền đang dốc nốt chỗ tàn tro vào cốc nước của mình thì anh sợ quá, bỏ đi thẳng. Vậy là ba lần dùng bùa yêu, ba lần Hiền đều thất bại.

Chuyện bùa yêu, ngải yêu người ta nói đến nhiều. Những chuyện đó, có người cho là thật, có người cho là hoang đường. Bị sức hút của những câu chuyện mang tính huyền bí, chúng tôi đã tìm nhiều người để mong tìm được sự kiến giải…

Những chuyện ly kỳ đến hoang đường

Trong một chuyến thực tế miền núi, tôi đã có lần đến với vùng Thanh Sơn (Phú Thọ) nơi có người Mường sinh sống nổi tiếng với những chuyện bùa ngải. Tại nơi này, tôi đã được nghe nhiều chuyện rất lạ, người dân cứ đồn thổi mà không những thế họ còn đưa ra những dẫn chứng người thật, việc thật. Ở xứ sở của bùa ngải, người ta tin chuyện ngải là có thật. Ngay như nhà văn Nguyễn Chu Phác người có thời gian dài nghiên cứu về tâm linh khẳng định : 9 Ng Chu Phat“Chuyện bùa chú thì tôi nghe nhiều nhưng còn bán tín bán nghi, nhưng với chuyện ngải thì có thật. Tôi đi nhiều, để ý nhiều nhưng đến giờ vẫn chưa biết cây ngải hình thù như thế nào”.

Đến giờ tôi vẫn còn ám ảnh bởi câu chuyện rùng rợn kể về một người quê ở Tứ Xã (Lâm Thao) dạy học nhiều năm ở xã Lai Đồng. Ông này vốn người xấu xí nên mãi không lấy được vợ. Nhưng sau nhờ ngải mà ông có vợ, có con. Nhưng người vợ chẳng may đột tử. Thay vì lo hậu sự cho vợ, ông bạn cứ ngồi gí mũi ngửi xác vợ.

Lý giải điều này, những người biết về bùa ngải đều cho rằng, vì ông ta dùng ngải để lấy người khác một cách cưỡng bức nên khi vợ chết nếu không được thầy cao tay đến ké bùa (giải bùa ngải) thì sẽ chết theo vợ. Chính vì vậy, khi chưa được giải bùa, người đã trót nhờ ngải làm việc xấu cứ phải ngồi hít mùi tử thi.

Cứ một người con gái xấu xí, người dân tộc mà lấy được anh chồng đẹp trai người Kinh là người ta đồn thổi chuyện ém bùa ngải. Ở Thanh Sơn, người ta nói về chuyện của một cô gái sống gần cầu Mịn, xấu như Thị Nở, lại còn xấu cả nết nữa. Vậy mà, một anh chàng làm nghề chủ thầu xây dựng người Hà Nội hẳn hoi đã có vợ đẹp, con khôn lại mê cô nàng vùng sơn cước như điếu đổ. Họ sống với nhau như vợ chồng, có con với nhau. Anh chàng chủ thầu xây dựng vương vào cảnh đa mang đành biến thành con thoi đôi chốn đi về. Vừa mới năm trước, nghe người dân nói, anh hàng chủ thầu xây dựng đã xây cho mẹ con nàng Thị Nở một ngôi nhà cao rộng thênh thang vào bậc nhất nhì huyện.

9 Bua yeu 1Chuyện này người dân Thanh Sơn ai cũng biết. Người ta bảo nếu không có bùa ngải thì làm sao một người trai Hà Nội đẹp trai, giàu có lại yêu say đắm một cô nàng xấu xí đến thế. Có điều đến giờ vẫn đi về với hai vợ nhưng cuộc sống của ông chủ thầu xây dựng vẫn khá êm đềm. Chuyện này khiến tôi liên tưởng đến câu chuyện bùa yêu về một cô gái miền núi xấu nhưng yêu và lấy được anh bộ đội biên phòng đẹp trai. Họ sống hạnh phúc với nhau kể cả khi con cái đã xây dựng gia đình. Năm tháng trôi đi, nhưng tình cảm của hai người vẫn mặn nồng. Hỏi về chuyện bùa ngải, cả hai đều cười. Nhưng nhà văn tự giải thích “bùa yêu” là một tình cảm chân thực của những con người đối xử với nhau. Tình cảm ấy là một thứ bùa ngải tốt nhất.

Đi tìm dấu tích cây ngải

Tin cây ngải là có thật, nhưng ông Chu Phác vẫn chưa gặp và chưa hình dung ra được cây ngải như thế nào. Đã hơn 70 tuổi, ông đi nhiều nhưng vẫn thấy điều mình chưa biết như một món nợ vô hình. Trong cuộc trò chuyện, ông bảo: “Tôi thấy người ta nói cây ngải giống như cây gừng. Có người nói nó giống như cây hoa tóc tiên, có người lại chụp hình nó giống cây xương rồng”.

Mặc dù miêu tả hình dạng có khác nhau, nhưng nơi đâu cũng nhắc đến sự linh nghiệm của ngải. Theo kiến giải của nhiều người, cây này chỉ có rất ít ở vùng sâu núi thẳm. Cây này ăn động vật (gà con hoặc chim rừng), cái khí chất của nó độc lắm. Nhờ cái khí thiêng ấy, người muốn hại đối phương bào chế và cho người ấy uống. Đối phương sẽ trở nên ốm yếu thần kinh suy kiệt. Nhưng với mục đích hại người thì người chơi bùa ngải cũng không thoát khỏi chuyện ác giả, ác báo.

9 Bua yeu 2Tôi tìm nhiều nơi mong muốn được biết một loại cây mang nhiều huyền bí trong đời sống của người dân tộc thiểu số. Cuối cùng, tôi cũng tìm đến được với lý giải của ông Sương Mãn Thiên về cây ngải. Theo đó, cây ngải có ngải là một loại thực vật ngoại biến càn khôn, thường mọc trong những vùng rừng núi, nhiệt đới như Thất Sơn, Trường Sơn.

Ngải có đến gần 800 loại, là loài thực vật có củ, nhỏ nhất thì nhỏ hơn củ nghệ một chút như ngải đen, ngải nàng thâm, nàng xoài lớn thì có thể bằng bắp vế người đàn ông lực lưỡng như ngải mãnh hổ, cuồng phong, ngải tượng. Một số loài đã có tên khoa học và đã được công nhận tính năng chữa bệnh hay giúp ích cho cơ thể con người bởi các nhà nghiên cứu khoa học công bố. Nhưng đa phần cây ngải vẫn còn mang nhiều bí ẩn mà tên gọi chỉ được truyền miệng qua kinh nghiệm dân gian hay các ngải sư với nhau.

Theo các ngải sư thì loài cây này có tính linh tự nhiên kỳ diệu, ví dụ như một củ ngải khô đã vài năm để trong nhà không chạm đất nhưng khi để vào chậu kêu câu chú mời thần ngải về chứng thì vài tuần nó sẽ tự động mọc mầm sống lại, lên cây, trổ hoa như thường.

Có những thương gia làm ăn, buôn bán vô tình trồng một vài chậu ngải bún (còn gọi là ngải hẹ) ở trước nhà mục đích chỉ để làm cảnh. Nhiều người thấy từ khi mình trồng cây cảnh ấy tự nhiên đông khách, đắt hàng. Chủ nhà cũng không biết là mình đã trồng loại ngải. Và thực tế, trong thế giới cây cảnh hiện nay, có rất nhiều loài cây thuộc họ ngải nhưng người bán, người mua đều không hay biết. Theo các ngải sư, với những loài cây cảnh “ăn thịt” đều có thể xuất thân từ những loại ngải khác nhau.

Tuy nhiên, việc trồng cây ngải một cách vô tình cũng chẳng sao. Muốn có được bùa chú từ ngải, thì pháp sư phải làm bùa chú. Luyện ngải cách hay nhất là kiếm 7 cái đầu ông táo bỏ hoang nơi chùa, miếu, đình thần đem về trộn lẫn với đất thiên nhiên. 9 Bua yeu 3Sau đó lấy một miếng chì vẽ khắc chữ bùa cột để dưới đít chậu, trứng gà sống dùng mực đỏ vẽ thêm chữ bùa chủ dụng mà mình muốn luyện cho chậu ngải đó. Chẳng hạn như ngải thương (làm ăn khấm khá), ngải ăn nói ngoại giao, ngải cầu tài, ngải quan tư tất thắng (ra tòa thưa kiện).

Người ta muốn tăng thêm chuyện linh thiêng huyền bí của ngải đã tạo ra nhiều câu chuyện nghe rất hoang đường xung quanh việc luyện ngải. Ông Chu Phác kể : “Tôi cũng nghe nói đến chuyện luyện ngải. Khi ngải ra hoa, buổi tối người ta cắm hương theo hình bát quái đỏ rực. Người yếu bóng vía đi qua, nhìn thấy giữa thâm sơn cùng cốc bỗng lập lòe ánh hương thì rùng rợn lắm. Tôi cũng được nghe kể, khi ngải nhiều đàn gà lạc vào hôm sau cũng chỉ còn lại lông và xương”. (theo Mai Hà)

BÍ ẨN “MA LỰC” KHÔNG THỂ CƯỠNG

CỦA “BÙA YÊU” NGƯỜI THÁI

Khi đã bị thả bùa, nửa kia sẽ cảm thấy nôn nao, mấy ngày không gặp sẽ lên cơn điên dại. Nếu một trong hai người không may chết đi, người kia sẽ phải cắt duyên.

9 Bi an 1Bí kíp luyện bùa yêu của người Thái.

Đường vào xã Nà Mèo, huyện Mai Châu, Hòa Bình vòng vèo qua từng con dốc uốn lượn trong sương sớm. Bản làng vẫn như đang khoác áo sương mù. Những ngôi nhà sàn khép mình bên lưng núi mờ ảo dần hiện ra như những câu chuyện nửa thực nửa hư ở miền đất này.

Theo sự chỉ dẫn của những người dân, chúng tôi tìm đến nhà ông Vì Văn Kiểu, 68 tuổi ở thôn Nà Mèo – người còn nắm được rất nhiều về bí quyết “mằn yêu” (bùa yêu – PV) của người Thái.

Trái với bùa yêu của người Mường là cần phải lấy được một vật thân thuộc của đối tượng, như áo, chiếc lược, thỏi son, đôi dép… Bùa yêu của người Thái có loại để yểm vào những đồ vật thân thuộc đó chứ không cần lấy nó. Tuy nhiên, người Thái có một loại bùa có sức mạnh hơn bùa của người Mường. Đó là bùa “mằn yêu” bằng mọi thứ.

Cái “mằn yêu” này không cần phải vật thân thuộc của đối tượng mà chỉ cần một nắm muối, cốc nước, chén chè, chén rượu, một cái kẹo, thậm chí một cành cây, viên đá, sỏi cũng có thể làm đối tượng si mê không dứt ra được.

9 Bi an 2Khi đã “dính” bùa, đối tượng sẽ tự tìm đến người thả bùa. Chỉ cần một ngày mà không nhìn thấy, người bị “dính” bùa sẽ đứng ngồi không yên, bồn chồn và tìm đủ mọi cách để đến với người thả bùa. Người đó sẽ không thể làm chủ được lý trí, mọi sự tác động bên ngoài đều không thể chia lìa họ. Họ sẽ nên vợ nên chồng bởi sự kết mối, se duyên của bùa yêu.

Ông Kiểu cho hay : “Người bị yểm bùa yêu không thể nào bỏ nhau được nếu không được chính thầy “mằn” phá bùa. Ngay cả khi hai người đã là vợ chồng thì hai người cũng không hề rời xa nhau được hai ngày. Nếu vượt giới hạn, cả hai người có thể bị nổi cơn, biến thành điên dại vì nhớ nhau. Chính vì vậy, người chồng hoặc người vợ có chuyện phải đi xa vài ngày thì người thả bùa phải đến xin “thầy” bùa hóa giải. Lễ vật hóa giải gồm một con gà hoặc vịt và thịt lợn để “thầy” tạm hoãn ma lực của bùa yêu.

Còn nếu muốn phá hủy bùa yêu hoàn toàn thì cần cúng “thầy” một con lợn, cộng thêm con gà hoặc con vịt. Khi đã phá hẳn bùa thì họ có thể ly hôn và đi thêm bước nữa”.

Theo sự lý giải của một “kỳ nhân 6 ngón” Vì Xuân Thu, người nắm giữ phương pháp “mằn” chữa bệnh nổi tiếng ở đây thì việc “mằn yêu” cũng giống như cách mà anh “mằn” chữa bệnh.

9 Bi an 3Chỉ cần một chén rượu hoặc một chén nước đưa lên ngang miệng hà hơi, truyền một xung lực năng lượng huyền bí vào chén nước mà thổi vào người bệnh thì họ sẽ rơi vào trạng thái mất lý trí và không cảm thấy đau.

Ám ảnh ma lực của “mằn yêu”

Đã có rất nhiều những câu chuyện bi hài lẫn ai oán liên quan đến “mằn yêu” của người Thái ở khu vực Mai Châu. Đó là chuyện tình của anh Hà Văn T. và chị Tòng Thị V. tại thành phố Hòa Bình đang yêu nhau tha thiết, nhưng rất bất ngờ, cô gái đó bỗng bỏ người yêu để đi lấy một người mà cô không yêu. Đó là anh K. học cùng thời phổ thông vẫn thầm thương trộm nhớ cô gái đó nhưng  không được đáp lại tình cảm. Hay tin, anh chàng này đã tìm đến nhờ một “thầy” cao tay về “mằn yêu” ở xã Nà Mèo.

Những người dân sống cạnh đó bỗng nhiên thấy V. thường xuyên tìm đến nhà K., khi thấy gia đình có việc gì thì cô gái liền đến giúp, cô V. tự vào bếp nấu cơm, rửa bát và phụ giúp mọi công việc khác của gia đình. Vài tuần sau, K. đòi bố mẹ đem sính lễ đến hỏi cưới V. về làm vợ. Anh T. biết chuyện anh K. đã thả bùa yêu đối với V. anh ra sức can ngăn nhưng không được.

9 Bua yeu 4Mấy ngày sau, cô gái biết chuyện người yêu cũ buồn phiền đã uống thuốc độc tự tử, cô gái mới về vặn hỏi K., người chồng tưởng rằng hai người đã thành vợ chồng thì cũng không cần giấu nữa nên đã nói hết mọi chuyện với vợ. Hôm sau, người chồng phát hiện vợ mình đã chết trong tay vẫn cầm một lọ thuốc sâu.

Người dân nơi đây vẫn cho rằng, hai người nhờ bùa yêu nên vợ, thành chồng sẽ không thể nào sống hạnh phúc đến suốt đời. Nếu một trong hai người chết đi, người còn sống mà không tìm được chính người đã yểm bùa thì người này cũng sẽ chết chỉ trong vòng một tuần.

Đó là trường hợp của ông Hà Văn Cao và bà Hà Thị Puồi ở thôn Nà Mèo, xã Nà Mèo. Thời còn trẻ, ông Cao rất thích bà Puồi, khi bà Puồi đi yêu người ở xã khác nhưng ông Cao vẫn theo đuổi.

Được tin bà Puồi sắp làm đám cưới với người yêu. Ông Cao liền tìm nhờ ông thầy “mằn” cao tay nhất vùng để lấy được người mình thương. Theo những người dân nơi đây cho biết, họ rất bất ngờ khi biết bà Puồi bỏ người yêu và lấy ông Cao. Cuộc sống của họ cứ êm đềm trôi, rồi sinh con đẻ cái, sống bình lặng bên xó núi hiu hắt. Bà vợ chết được một tuần thì thấy người chồng cũng chết. Những người dân nơi đây cho rằng, do người chồng thả bùa yêu nên họ mới đến được với nhau. Khi bà vợ chết, người chồng không còn cách nào để phá bùa vì ông thầy “mằn” cũng đã chết nên chết theo.

Trải qua hàng ngàn đời, người dân xã Nà Mèo đã đúc kết được những bài học quý giá, không những các cặp nên vợ thành chồng nhờ bùa yêu sống không hạnh phúc mà chính thầy “mằn” cũng có kết cục không tốt.

Họ cho rằng đó là quy luật nhân quả : “Đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”, đời cha làm nhiều tội lỗi thì đến đời con sẽ phải gánh chịu sự trừng phạt. Việc làm bùa yêu còn ít ảnh hưởng, chứ việc làm bùa ác thì tích tụ nghiệp chướng cho con cháu càng lớn.

Con cái họ sinh ra sẽ chịu báo ứng. Có trường hợp, ông thầy “mằn” đã se quá nhiều mối duyên dở dang, hai người con trai đi lấy vợ đều không ai có khả năng sinh con.SG Xuan Mai Những câu chuyện đó như là bài học để những người dân răn đe nhau không làm công việc se duyên tội lỗi đó nữa.

Trao đổi với chúng tôi, ông Vì Văn Dang, trưởng thôn Nà Mèo cho hay: Được biết, trước đây ở huyện Mai Châu có gần chục thầy bùa. Tuy nhiên, bây giờ cũng không thấy người dân ở đây tìm đến nhờ các “thầy” bùa để “mằn yêu” nữa.

Trai gái trong làng đã tự do yêu đương, không còn những hiện tượng “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó”, không còn việc tảo hôn, éo duyên nữa. Họ được tự do tìm hiểu nhau, nếu thấy hợp nhau thì nguyện nên vợ nên chồng. Bùa yêu chỉ còn được người dân lưu truyền như những huyền tích của người dân tộc Thái.

Xuân Mai chuyển tiếp

Tr Thu thuat

PHONG TỤC LỄ HỘI CHÙA ÔNG BỔN

Logo phong tuc

9 Ong bon 1LỄ HỘI

CHÙA ÔNG BỔN

Nếu như phổ biến và rõ nét nhất trong dòng chảy lễ hội truyền thống người Việt ở Bình Dương là lễ hội cúng đình kỳ yên (cầu an), Thì lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sống trên đất Bình Dương lại đặc trưng với 2 dòng chính : Đó là lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu của 4 bang người Hoa và lễ Ông Bổn của dòng Phước Kiến.

Người Hoa sống trên đất Bình Dương chủ yếu gồm có 4 bang : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ. Là những lưu dân đi tìm đất sống, do đó tín ngưỡng của họ đã sớm trở thành một nhu cầu quan trọng trong đời sống. Đó chính là một trong những chỗ dựa lớn lao về tinh thần, giúp họ trụ vững và phát triển. Cũng chính vì lẽ đó mà tín ngưỡng của người Hoa rất đa dạng và phong phú về nhiều mặt, nổi bật với 2 lễ hội đặc trưng là lễ hội Thiên Hậu Cung (chùa Bà) và miếu Ông Bổn (chùa Ông Bổn).

Mặc dù không mang tính chất rộng rãi như lễ hội Chùa BàThiên Hậu, nhưng lễ hội chùa Ông Bổn cũng thể hiện nét tín ngưỡng tiêu biểu,9 Ong bon 2 gắn liền với những ngành nghề chính của người Hoa. Đây cũng được coi là một trong những lễ hội quan trọng trong năm của người Hoa.

Hiện tại ở Bình Dương có 5 ngôi miếu Ông Bổn (mà dân quen gọi là chùa). Đó là chùa Ông Bổn Chánh Nghĩa (Phước An miếu), miếu Ông Bổn Bà Lụa, miếu Ông Bổn chợ Búng, Miếu Ông Bổn Lái Thiêu và miếu Ông Bổn Tân Phước Khánh (Tân Phước Khánh Nghĩa đường) của họ Lý, họ Vương dòng Phước Kiến.

Lịch sử ông Bổn

Lễ hội miếu Ông Bổn được luân phiên diễn ra với phạm vi hẹp hơn miếu Bà Thiên Hậu. Tuy nhiên, lễ hội miếu Ông gắn liền với những người làm nghề lò chén, họ coi trọng nơi nhập cư, họ lập chùa lấy tên vị thần đất (Ông Bổn) nói chung và thờ các vị thánh nhân phù hộ nghề nghiệp cho họ.

9 Ong bon 3Đối với người Hoa, Ông Bổn có nghĩa là “Ông tổ”, “Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Đa số người Hoa đều quan niệm rằng “Ông Bổn” là “Phước Đức Chánh Thần”. Tuy nhiên mỗi bang người Hoa đều có những quan niệm và tín ngưỡng riêng về Ông Bổn.

Người Hoa (gốc Phúc Kiến) ở Chợ Lớn đã cụ thể hóa “Ông Bổn” là Châu Đạt Quan – Một vị quan đời Nguyên. Người Hoa gốc Triều Châu, Hải Nam ở miền Tây Nam bộ lại cụ thể hóa là Tam Bảo Thái Giám Trịnh Hòa – Người đời Minh. Người Triều Châu (ở Hội An) cụ thể hóa là Phục Ba Tướng quân Mã Viện. Người Quảng Đông ở Chợ Lớn cho Ông Bổn của họ là Thần Thổ Địa… nhưng những người Hoa họ Vương gốc Phúc Kiến ở Bình Dương cho rằng Ông Bổn của họ là Huyền Thiên Thượng Đế và họ Lý (gốc Triều Châu) cho Ông Bổn của họ chính là Ông tổ họ Lý.

Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân còn gọi là Chơn Võ (Chân Vũ). Trấn Vũ là vị thần ở núi Võ Đang. Bên cạnh Huyền Thiên Thượng Đế, họ Vương còn thờ: Quan Âm Bồ Tát (người Phúc Kiến tôn thờ nhiều thần), Na Tra Thái Tử, Nam Triều Đại Đế.

Họ Vương thì tôn thờ các vị thần trên, trong khi đó họ Lý ở Bình Dương lại thờ Ông Bổn là thủy tổ các họ : Lực, Chu, Quách, Tiêu , Triệu, Lý và Châu. Đây cũng chính là biểu tượng. Họ cũng thờ Phước Đức Chánh thần mà họ gọi đó là Ông Địa, tức là thần đất đai ở địa phương.

9 Ong bon 8Có thể kể đến các cung điện thờ Ông Bổn của họ Vương ở Bình Dương như : Phước Võ điện- phường Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một (xây dựng năm1885); Ngọc Hư Cung- thị trấn Lái Thiêu (xây dựng khoảng 1971); Phước Thọ Đường – xã Hưng Định, Thuận An; Phước Nghĩa Đường – Tân Phước Khánh, Tân Uyên.

Họ Lý có một ngôi miếu thờ Ông Bổn là Phước An Miếu ở Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một (xây dựng năm 1980). Miếu này do họ Lý xây dựng, ngoài thờ Ông tổ của bảy họ như trên, còn là từ đường họ Lý, nên còn gọi là Lý Thị Gia Miễu.

Cũng giống như các đền Miếu của người Việt, các miếu thờ Ông Bổn đều tích hợp đa thần như Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng – đời Hán), Bao Công (đời Tống), Cảnh Chủ Tôn Vương, Linh Từ Tôn Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ….

Lễ hội các đền miếu thờ Ông Bổn ở Bình Dương mang nội dung cúng tổ nghề gốm, tập trung chủ yếu người Hoa ở địa phương và các nơi khác. Lễ hội này của người Hoa ở Bình Dương còn mang tính chất tín ngưỡng phúc thần, bảo hộ cuộc sống và việc làm ăn của cộng đồng người Hoa trên đất Bình Dương.

Theo tục lệ tín ngưỡng của người Hoa, các vị thần Huyền Thiên Thượng Đế, Quan Âm Bồ Tát, Na Tra Thái Tử và Nam Triều Đại Đế vốn không được thờ cố định ở một địa phương mà được luân phiên ở các miếu thờ ở Thủ Dầu Một, Búng, Lái Thiêu, Tân Phước Khánh rước về thờ trong một năm và lễ hội được tổ chức vào ngày 25/2 âm lịch. Và như vậy, theo tục lệ phải cách bốn năm mới có lễ hội một lần. Chương trình lễ hội bao gồm có các nghi thức cúng tế theo Đạo giáo do các thầy pháp chuyên nghiệp đảm trách. Kế đó là lễ rước kiệu các vị thần, kéo dài suốt đêm với hàng chục cây số bao quanh khu vực dân cư, không khí hết sức tưng bừng, náo nhiệt và hoành tráng. Trong lễ hội còn có hát Hồ Quảng, múa cù, múa lân sư rồng, đặc biệt là múa hẩu thu hút đông đảo người xem.

Có thể nói lễ hội miếu Ông Bổn ở Bình Dương tuy là Lễ hội mang đặc trưng của một dòng họ, một nghề nghiệp, một bang khác nhau, song nó đã thu hút được một cộng đồng cư dân người Hoa và cả người Việt cùng tham gia9 Ong bon 4 hưởng ứng và trở thành những ngày lễ hội quan trọng trong năm, trong đời sống tâm linh của người Hoa ở Bình Dương nói chung và người Việt nói riêng. (theo T.X.G)

Lễ hội rạch lưỡi

lấy máu vẽ bùa

Một người bình thường tự đến chùa trong ngày lễ, tự rạch lưỡi lấy máu vẽ bùa, tắm dầu sôi ùng ục trước mắt vạn khách thập phương. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày lễ hội, khách thập phương lại đô xô đến Trà Vinh để xem phong tục có một không hai này của người Hoa.

Truyền thuyết lạ

Vào tháng 7 âm lịch hàng năm, người dân thập phương lại tụ hội về các chùa Ông Bổn (huyện Cầu Kè, Trà Vinh) để tiến hành lễ Vu Lan. Tại đây, họ được tận mắt chứng kiến nghi thức cắt lưỡi, tắm dầu sôi của những người bình thường. Theo tín ngưỡng của người dân, sở dĩ một người bình thường có thể làm được những việc “phi phàm” như thế là do “hồn” Ông Bổn nhập vào !

Trao đổi với chúng tôi, ông Hứa Minh, một thành viên trong ban quản trị Chùa Vạn Niên Phong Cung ở thị trấn Cầu Kè (huyện Cầu Kè, Trà Vinh) khẳng định : “Việc Ông Bổn hiện về nhập vào xác người phàm là một tập tục, một tín ngưỡng từ xa xưa của người Hoa để lại”.

Theo ông Minh : “Mỗi năm, Ông Bổn đều “về” chùa một lần vào đúng dịp lễ Vu Lan. Ông về bằng cách “nhập” vào cơ thể của bất kỳ người dân nào mà không ai được biết trước. Đúng vào ngày lễ, ban trị sự chùa thấy người nào mặc áo đỏ, đứng lên hương án, tự xưng là Ông Một, Ông Hai, Ông Ba, Ông Bốn (địa phương có 4 chùa, mỗi chùa thờ một Ông Bổn) thì ban trị sự biết ngay “Ông Bổn đã về”. Có khi xác (người bị nhập) là những người nông dân bình thường, cũng có khi là cán bộ hưu trí… Mấy năm trước, xác là những cụ già nhưng năm vừa rồi lại là bác Vệ, là một cựu chiến binh”. Điều không thể lý giải là cùng một thời điểm, tại 4 ngôi chùa khác nhau, 9 Ong bon 5các Ông nhập vào 4 cái “xác” và “thăng” (Ông Bổn xuất ra khỏi xác – PV) cùng một lúc.

Khi chúng tôi về đây được nghe không ít những câu chuyện kiểu truyền miệng để tô vẽ thêm cho sự linh thiêng của Ông Bổn. Nhiều người dân truyền tai, có người đang mang bệnh thập tử nhất sinh nhưng khi “được” nhập lại khỏe mạnh lạ thường. Chẳng hạn, một lão ông hơn 70 tuổi, đã nằm liệt giường vì bệnh tật, đi đứng phải có người khiêng. Tuy nhiên, khi được Ông Bổn “nhập xác”, ông cụ… vùng dậy bước lên trước hương án, rạch lưỡi, nhả máu, vẽ bùa bình thường. Kỳ lạ hơn, mỗi lần Ông Bổn về đều… nói bằng tiếng Hoa. Thậm chí có “xác” bị tật ở chân đi đứng phải mang nạng nhưng khi bị “nhập” có thể chạy nhảy bình thường ?!

Sau khi xong các nghi thức, “xác” ngã vật từ trên án xuống, cất tiếng “ta thăng đây” trong sự chuẩn bị đón, đỡ của ban trị sự chùa. Sau hơn 30 giây bất tỉnh, “xác” hồi phục và trở lại trạng thái bình thường, người bệnh vẫn bệnh, người què vẫn què… Cũng cần nói thêm, một điều kỳ lạ nữa là từ xưa đến nay, “xác” chỉ là nam. Do đó, người bị nhập thường được gọi là “xác Ông”.

Những nghi thức bí ẩn

Cũng theo những người dân kể lại, trong các nghi lễ trước đây còn có màn rước kiệu đao. Khi Ông Bổn đã “nhập xác”, ban trị sự phải đóng kiệu đao, rước Ông đi quanh làng, xóm. Kiệu đao được làm từ những lưỡi dao sắc bén. Người chuẩn bị kiệu phải mài các loại dao đạt đến độ để một sợi tóc cạnh lưỡi, chỉ cần thổi nhẹ thì sợi tóc cũng đứt làm hai. Ghế Ông Bổn ngồi, tay vịn, chỗ dựa lưng được ghép bằng những lưỡi dao lật ngược phần lưỡi. Các bậc thang dẫn lên kiệu cao hơn 1m so với mặt đất cũng là những lưỡi dao sắc nhọn. 9 Ong bon 6Ông Bổn được rước đi diễu hành một vòng rồi mới về chùa tiến hành lễ rạch lưỡi, vẽ bùa.

Sau khi mặc áo đỏ, các Ông Bổn vừa nói vừa cầm cái chông tua tủa những mũi thép dài trên lưỡi 6cm sắc nhọn, sáng chói quất mạnh vào ngực, lưng mình. Sau đó, “Ông” dùng một con dao nhọn thật bén, rạch những đường dài trên lưỡi cho máu đỏ chảy loang lổ. Các Ông Bổn dùng bút lông chồn (loại bút viết chữ Hán ngày xưa) tự thấm máu mình rồi vẽ bùa bình an. Trước đây, chính quyền cũng không tin vì cho rằng một người bình thường không thể dùng máu từ lưỡi mình để vẽ nhiều bùa đến vậy. Tuy nhiên, sau khi lấy những lá bùa trên đem lên sở Y tế tỉnh Trà Vinh xét nghiệm, người ta nhận được báo cáo : Những lá bùa trên hoàn toàn được vẽ bằng máu từ lưỡi người.

Ngoài nghi thức trên, trước đây, các Ông Bổn còn đòi… tắm dầu sôi. Nghi thức này không thường xuyên tổ chức mà chỉ diễn ra theo yêu cầu của các Ông. Về nghi thức này, ông Minh kể : “Mỗi khi muốn tắm dầu, các Ông thường về báo trước để chúng tôi chuẩn bị. Trước khi nghi thức bắt đầu, ban trị sự chùa chuẩn bị một vạc dầu lớn bằng gang và những bó lá tre để các Ông dùng tưới dầu lên cơ thể”.

Quá trình tắm dầu diễn ra công khai, trước sự chứng kiến và kiểm nghiệm của du khách. Thậm chí, chính quyền địa phương cũng có ghi hình cẩn thận. Sau khi sự chuẩn bị đã hoàn tất, các Ông Bổn mặc áo đỏ, đầu quấn khăn đỏ tiến đến gần chảo dầu sôi ùng ục.9 Ong bon 7 Rồi Ông thả vào vạc dầu một lá bùa. Lá bùa bằng vải đỏ lộn lên lộn xuống trong những ụ dầu đang sôi.

Sau ít phút, Ông bắt đầu cởi áo, sục hai tay trần vào vạc dầu sôi rồi múc dầu lên vuốt tóc. Người xem có thể chứng kiến những đường dầu nóng bốc khói nghi ngút chảy từ trên đầu Ông Bổn xuống hai vai, cổ, cằm và ngực. Sau đó, Ông tiếp tục dùng những bó lá tre tẩm dầu vung lên quật vào lưng, bụng cho đến khi dầu tẩm ướt thân. Lúc đó, thân hình Ông Bổn trở thành một ống khói di động.

Sau những nghi thức trên, Ông Bổn mặc lại áo, trở lại án rồi cất tiếng “ta thăng đây”. Lúc này, những người trong bộ phận tổ chức lễ phải xúm lại trước hương án để đỡ “xác”. Sau ít phút, “xác” có thể ăn uống và không hề nhớ gì về việc vừa làm ?!. Tuy nhiên, những giọt dầu sôi bắn vào người xung quanh nhưng họ đều chỉ cảm thấy âm ấm chứ không bị bỏng rát.SG Xuan Mai Điều này cũng được ông Sử, Phó trưởng phòng VH-TT huyện Cầu Kè công nhận. Ông Sử cho biết : “Khi xuống xác minh, xem cảnh tắm dầu và bị dầu bắn vào người nhưng tôi chỉ thấy ấm ấm chứ không có cảm giác nóng”.

Theo ông Sử, lễ hội này là của người Hoa được tổ chức từ ngày mùng 10 tháng 7 âm lịch tại nhiều chùa khác nhau. Đây được xem như một tín ngưỡng, một tập tục lạ của địa phương. Tất cả các nghi thức trong buổi lễ đều được thông qua và xem như dạng văn hóa phi vật thể. (theo Hà Nguyễn – Ngọc Lài)

– Đoàn hẩu Lái Thiêu

Đây là 1 tiết mục được trình diễn ở chùa Ông Bổn Lái Thiêu – Bình Dương. Một tiết mục biểu diễn do đội hẩu của chùa trình bày, 9 Ong bonmột nét văn hóa đặc trưng của người Hoa Phúc Kiến ở Lái Thiêu

– Lễ vía Ông Bổn Bình Dương

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo phong thuy

HNg Huynh V. Yen 3HƯỚNG NHÀ PHẠM SAO XẤU

NĂM 2014 VÀ CÁCH HÓA GIẢI

Năm 2014 Giáp Ngọ, thiên Can thuộc Mộc, địa Chi thuộc Hỏa. Điểm sơ qua các cung vị xấu gồm : Tây Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam. Hai cung Bắc và Nam cũng có những hung sát nguy hiểm vì có Tam Sát và Thái Tuế đóng ở đây. Những nhà có cửa tại các phương vị này cần đặc biệt chú ý.

Trung Cung (4) : Năm nay Tứ Lục Văn Khúc Tinh phi nhập Trung Cung, sao này chủ về Văn Xương, khoa danh, bằng cấp ưu tú, cũng chủ về chiêu đào hoa nhân duyên. Nếu đem bàn học đặt vào vị trí này, thành tích học tập tất có sự vượt trội. Nếu tại chỗ này làm việc về giấy tờ, đầu óc cũng linh mẫn hơn, phúc đến tâm linh cũng có nhiều thuận lợi hơn. Đối với cấp lãnh đạo, tất là Ngựa Tốt gặp Bá Nhạc, có cơ duyên thăng tiến với cấp trên, có biểu hiện xuất sắc, 9 Huong nha 1khiến công tác có bước tiến vượt bậc. Văn Khúc Tinh cũng chủ về nhân duyên và đào hoa vận. Đó có thể là nhân duyên kết thân với nhiều người, có thể là bài trừ tiểu nhân và đem đến nhân duyên lý tưởng cho hôn nhân.

Năm nay Văn Khúc Tinh đi vào trung cung, có hiện tượng Sao khắc Cung, nếu bố cục Phong Thủy tốt, tất các thành viên trong gia đình đều được văn tài vật phú, học nghiệp, công tác thuận lợi. Nếu bố cục không tốt tất gặp bất lợi, tinh thần bất an, trong nhà u ám, nữ chủ bệnh tật, khó sinh nở, gia cảnh suy đồi.

Phương Pháp Hóa Giải : Vị trí này nên treo bày một cố vật phẩm màu đỏ hoặc hồng, lấy hỏa sinh thổ mà an Trung Cung. Cũng có thể bày ở đây các vật phẩm như Tháp văn xương, Khôi tinh, Đôi uyên ương, Bình hoa song hỷ… để tăng vượng khí.

9 Huong nha 2Hướng Đông (2) : Theo Niên Thần của năm nay phương Đông có Đại Cát Lợi Tinh là sao đại phú quý bay đến, đây là một sao chủ về tài vận, có lợi cho chiêu tài tiến bảo. Lại thêm có Đại Tướng Quân Tinh là sao chủ về uy mãnh trợ giúp nên phương Đông năm nay đối với những ai thuộc về Đông Tứ Trạch đặc biệt rất tốt!

Khá tiếc là năm nay Nhị Hắc Cự Môn Tinh bay vào phương vị này, đây là sao chủ về bệnh tật tổn thương, đặc biệt là các bệnh về dạ dày, huyết quang. Trong năm nay thì không nên động thổ tại phương vị này. Nếu chỗ này là cửa chính, người ở trong nhà có thể sẽ đột nhiên nhiễm bệnh tật hoặc phát sinh các biến chứng xấu về sức khỏe, thậm chí có thể phải phẫu thuật, không thể không phòng. Năm nay Cung Tinh tương khắc, nếu phong thủy có lợi, chủ phụ nữ nắm quyền, gia tài tà tích, duy con trưởng là không lợi. Nếu phong thủy đang suy bại thì có thể dẫn tới vợ chồng bất hòa, lừa dối, nạn cờ bạc, dễ có kẻ bắt gà trộm chó, phụ nữ dễ mắc bệnh đầy bụng, rất là hung hiểm.

Phương Pháp Hóa Giải : Tại vị trí này nên treo 6 đại đồng tiền đã khai quang, hoặc treo Hồ lô bát tiên, Lục đế tiền, Bát tiên quá hải… để hóa giải.

9 Huong nha 3Hướng Tây (6) : Năm nay Lục Bạch Vũ Khúc Tinh nhập vào ở vị trí phương Tây, đây là một trong Tam Cát (gồm Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch). Nó có tác dụng đem lại vinh hoa, thăng tiến, chiêu quý nhân, được cấp trên, người lớn giúp đỡ, thành công, Lục Bạch cũng chủ về Dịch mã, chủ có việc đi xa, du lịch, lên chức, di dời, thậm chí là chuyển đổi công việc. Chỉ cần vân dụng thích đáng sẽ hoàn thành được Tâm Nguyện, xứng ý xứng lòng. Năm nay Sao Cung ngang hòa, được cung tương trợ, Kim Khí hơi vượng quá, chỉ cần có được sắp đặt địa hình hợp lý, tất chủ thăng quan tiến chức, đại quyền đến tay, tài vận cũng tốt. Nếu bố cục sai, tất phạm vào ứng với “Giao Kiếm Sát” tranh cãi, đấu đá, cạm bẫy, xuất hiện trộm cướp, khẩu thiệt quan phí, lớn bé trong nhà không yên.

9 Huong nha 4Phương Pháp Hóa Giải : Nên đặt tại đây một cây thuộc loại thủy sinh, hoặc dùng đồ màu đen bố trí tại vị trí này, tất là Kim được Thủy thoát bớt khí sẽ giảm nhẹ họa hoạn và có lợi. Nên đặt các vật khí như Long quy, Thần tài, Đĩa thất tinh…  để tăng vượng.

Hướng Nam (8) : Chính phương Nam năm nay là Ngọ Thái Tuế, chỗ đóng của Thái Tuế sẽ có một trường khí hoạt động rất mạnh, bởi thế mọi việc cần cẩn trọng. Biết dùng thì cát tường, không biết thì dễ gặp tai họa.

Năm nay Bát Bạch Tả Phụ Tinh bay vào phương nam, đây là sao giàu có đứng đầu trong Tam Bạch, lại là đương vận nên tối quý, ngoài mang lại tài vận giàu có, cũng là sao mang lại nhiều cát tường, công việc sự nghiệp thuận lợi, hôn nhân giá thú cũng lợi ích nhiều. Nếu cửa phòng hoặc cửa nhà ở vị trí này, tất là gia trạch hưng vượng, tài vận hanh thông, có thể thêm đinh, trí nghiệp, đào hoa vận có thể đưa đến kết hôn. Nếu như gia trạch lại là đương vận đắc thế, cát lại thêm cát, hỷ sự trùng trùng. Năm nay Tinh Cung tương sinh, nếu bố cục phong thủy tốt, chủ nhiều việc tốt đến, phú gia địch quốc, thăng quan tiến chức. Nếu bố cục phong thủy không tốt, tất chỉ lửa cháy đất thành tro, dễ mắc bệnh về mắt mũi, nóng bụng, máu xấu, lại e có hỏa tai.

9 Huong nha 5Phương Pháp Hóa Giải : Có thể năm nay ở tại vị trí này treo một xâu Lục Đế Tiền hoặc một Hồ lô bát tiên cỡ lớn, khiến Thổ Sinh Kim giàu hơn Đào Công. Cũng tại phương vị này nên đặt Thiềm thừ, Tỳ hưu, Tụ tài bồn, Đĩa thất tinh… để sinh vượng.

Năm nay hướng Nam có Thái Tuế đóng tại Sơn Ngọ, mọi việc hưng công động thổ cần hết sức cẩn trọng, có câu “Đối Đầu Thái Tuế, Vô Hỷ tất hữu Hung”. Đặc biệt các nhà có cửa ở Sơn Ngọ, cùng những người có tuổi Ngọ, Tý ở vào hướng này rất nên cẩn thận.

Hướng Bắc (9) : Năm nay Cửu Tử Hữu Bật Tinh bay vào phương vị phía bắc, đây là sao hỷ khánh vui vẻ, chủ về văn minh, đại cát đại lợi, có việc vui mừng giáng lâm, như kết hôn, sinh nở, thăng chức, khởi nghiệp và thành công. Năm nay Tinh Cung tương khắc, lại có thái tuế thúc đẩy bay xuống, đồng thời là phương vị của Tam Sát, sát khí cũng khá nặng, nên tránh nằm ngồi tại vị trí này. Nếu phong thủy bố cục tốt, chủ gia đình có việc vui, âm dương chính phối, thủy hỏa ký tế,sinh con trai, giàu có bất ngờ. 9 Huong nha 6Nếu phong thủy bố cục không tốt, tất gặp đào hoa sát, hôn nhân bất hạnh, mắt tật tai ù, e có bệnh nặng.

Phương Pháp Hóa Giải : Có thể bố trí ở phương vị này một thảm màu lục hoặc một chậu cảnh, hoặc bố trí các đồ vật cát tường phong thủy có màu xanh lá, xanh cốm, hoặc đặt Tụ tài bồn để tăng ích vượng tài.  Bên cạnh đó, nên đặt tại đây Kỳ Lân, Long Quy, Tam diện Thần Tài  hoặc một cặp Sư Tượng Trấn Tà để hóa giải hung sát.

Hướng Đông Nam (3) : Năm nay phương Đông Nam là sao Tam Bích Lộc Tồn Tinh bay đến, đây là hung tinh chuyên về thị phi, tranh đấu, ngoài ra còn dễ gặp phải tai nạn, quan trường kiện tụng, bệnh về gan mật.9 Huong nha 7 Thêm nữa Tam Bích hiện tại trong Vận 8 đã là Sát Khí cực đỉnh, khắc Vận Bát Bạch Thổ nên tính chất càng nguy hiểm. Nếu như nhà mở cửa ở phương này, khí xấu tích tụ, khiến người trong nhà tâm trạng trở nên rất xấu, dễ nổi nóng, dễ giận dữ, tranh cãi. Năm nay Cung Tinh tỷ hòa, nếu như sắp xếp phong Thủy tốt, có thể sinh được quý tử, sự nghiệp cũng có thể tiến thêm một bước. Nếu sắp xếp không tốt, dễ xuất hiện giặc cướp, phá tán, có bệnh phong tật,, hoặc đau gan mật.

Phương Pháp Hóa Giải : Nên đặt ở phương vị này một đồ vật màu đỏ, như thảm đỏ, các dây kết hoặc treo đèn lồng đỏ. Cũng có thể bày ở phương vị này một cặp Kỳ lân, Lục đế để hóa sát.

Hướng Đông Bắc (7) : Năm nay Thất Xích Phá Quân Tinh vào phương Đông Bắc, đây là sao thuộc về Quan phi tai tiếng, chủ các việc rắc rối về quan sự, cẩn thận phòng trộm cướp, an ninh, cướp bóc. Sao này cũng chủ về nghệ thuật giải trí ăn chơi, đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực này thường có lợi. Sao này hiện đang là thoái khí hung cát vô thường, nên sinh không nên khắc, nếu như bố cục không hợp, hoặc vận dụng sai, tất có sự cản trở về sự nghiệp, lợi dụng, hoặc dễ gặp phải tai nan, cũng dễ có bệnh phải mổ xẻ thân thể. Sao này cũng là một sao về Thiên Tài, năm nay là Sao Cung tương sinh, sắp xếp phong thủy cho chính xác, chủ liên tục thăng quan, tài Thần đến cửa, tiền bạc phong túc, gia đình yên vui. Con cái mạnh khỏe. 9 Huong nha 8Nếu bố cục sai, tất tiền tài hao tán, miệng sinh dị vật, con cái nhiều bệnh.

Phương Pháp Hóa Giải : Tại phương vị này nên bày một Kim Thiềm Thừ , Tỳ hưu, Mã thượng phong hầu, Long quy… để chuyển nguy thành an, tăng cường cát khí.

Hướng Tây Nam (1) : Năm nay phương Tây Nam có Nhất Bạch Tham lang bay đến, Tham Lang Tinh là một trong ba sao tốt của Huyền Không Phi Tinh, chủ được Văn Quý, Nhân Hòa, Giàu Có, Cảm Tình và Đào Hoa. Đối với người muốn thăng chức, đi xa, cầu tiến đều có sự trợ lực rất tốt. Năm nay Cung Tinh tương khắc, nếu bố cục phong thủy tốt, âm dương điều hòa, chủ lợi về văn chức, có cái giàu về đất cát, gia vượng nhân đinh thịnh, người thân khỏe mạnh. Ngược lại như sắp xếp Phong Thủy không đúng, tất vợ chồng bất hòa, có nhiều bệnh về dạ dày và thận, người nhà hay bị bệnh.

Phương Pháp Hóa Giải : Nên tại phương vị này đặt một Hồ lô đồng, Lục Đế Tiền, Long quy, Kỳ lân, Tỳ hưu, Đôi uyên ương… để hóa giải hung sát, tăng cường cát khí.

9 Huong nha 9Hướng Tây Bắc (5) : Năm nay Tây Bắc là vị trí của Ngũ Hoàng Liêm Trinh Tinh bay vào. Ngũ Hoàng là lưu niên quan sát, phương vị này rất kỵ hưng công động thổ, nếu không tất là chiêu gọi hung hiểm. Ngũ Hoàng là sao cực hung dữ, đến đâu là không lưu tình, không nên bất cẩn coi thường. Nếu hướng nhà ở Tây Bắc (cửa chính Tây Bắc), tất cần lưu ý hóa giải. Năm nay Cung Sao tương sinh, Thổ Khí giảm bớt, sức phá hoại của Ngũ Hoàng cũng giảm bớt nhiều, nếu bố cục phong thủy tốt, dễ có được tiền tài, con cái hiếu thuận, nên đề phòng có nạn huyết quang. Nếu phong thủy sắp xếp không tốt, tất chủ gia dễ các bệnh như đau đầu, đau xương. Có chuyện quan phi khó giải quyết, nhức đầu nhức óc.

Phương Pháp Hóa Giải : Năm nay phương vị này rất cần thiết treo Hồ lô Đồng hóa giải, hoặc nếu là cửa lớn thì treo Chuông gió đồng 6 ống hoặc vận dùng thêm Kỳ lân, Sư tử, Long Quy đồng cũng được. Đặc biệt cần đặt tại đây Thước lục đế, Tháp ngũ hành… để chế áp sát khí của sao Ngũ Hoàng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo thu gian 2

SG Dinh My chonTự học Pháp Văn – Je remous

Đừng nghĩ người làm lớn không có máu tiếu lâm. Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng cuối cùng năm 1975 của Việt Nam Cộng hòa, kể chuyện vui cười học trò dưới đây trong bài “Kỷ niệm học trò”. Chuyện thật 100%. Trích đoạn :

– “Sang năm thứ ba (1944), GS dạy Pháp văn là Bà Le Guezenec, phu nhân của Trưởng Ty Bưu điện Cần Thơ..  Riêng Bà Le Guézenec đã để một kỷ niệm khó quên cho lớp tôi trong giờ văn phạm Pháp văn, khi Bà dạy cách chia động từ có vần “OUDRE” sau cùng.

Lý do là vì Bà gọi môt nam sinh chia động từ “remoudre” và một nữ sinh chia động từ “recoudre” làm cho cả lớp cười rộ lên cả mấy phút, không ngừng được, làm nghẻn lớp học, khiến bà nổi giận bỏ ra về. Học sinh lại càng mừng thêm, được dịp mạnh ai nấy to tiếng phát biều ầm lên. Đến lượt các chị phải bỏ lớp và sau cùng ra về luôn”.

9 Tren net 2Một nam sinh chia động từ remoudre (đọc theo kiểu dân gian )là:

Je remous (Tôi rờ mu)

Tu remouds (Anh rờ mu)

Il remoud (Nó rờ mu)

Nous remoulons (Chúng ta rờ mu lông)

Vous remoulez (Các anh rờ mu lẻ)

Ils remoulent (Chúng nó rờ mu lén)

Một nữ sinh chia động từ recoudre (đọc theo kiểu dân gian ) là:

Tr thay tro 4je recouds (Tôi rờ cu)

Tu recouds (Chị rờ cu)

Elle recoud (Nó rờ cu)

Nous recousons (Chúng ta rờ cu xong)

Vous recousez (Các chị rờ cu xệ )

Ils recousent. (Tụi nó rờ cu sến )

Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp

NIỀM VUI ĐÊM GIÁNG SINH

Chuc nam moi 2014Logo su kien 1

9 Tin mungLỊCH SỬ

CHÚA JESUS RA ĐỜI

Chào bác Việt,

Không biết bác đọc Kinh Thánh nào, mà bác phán rằng: ” … bà Maria đã nằm mộng thấy Đức Chúa Trời ban cho bà Chúa Jesus xuống thế nhằm chuộc tội cho dân Do Thái …” ? Chứ Thạch Bích chỉ biết là thánh Lucas đã viết trong Tân Ước như thế này :

Bà Elisabeth có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Galilee, gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Kính chào bà Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà.”

Nghe lời chào ấy, Đức Mẹ Maria rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói : “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, bà có phúc hơn mọi người nữ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, đặt tên là Jesus”.

Mẹ Maria thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?!” Sứ thần đáp : 9 Giang sinh 3“Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ban xuống cho bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Elisabeth, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai. Bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

Bấy giờ Mẹ Maria nói : “Vâng, tôi đây là tôi tớ của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Bởi vậy trong đạo Công Giáo / Ki Tô Giáo ngày 25 tháng 3 (9 tháng trước lễ Giáng Sinh) vẫn mừng “Lễ Truyền Tin”, là để nhớ về sự kiện trên. Và cũng vì thế mới có “Kinh Kính Mừng”, một kinh cầu cơ bản và quan trọng :

Kính mừng Maria đầy ơn phúc

Đức Chúa Trời ở cùng bà

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

và Giê-su con lòng bà gồm phúc lạ

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Cầu cho chúng con là kẻ có tội

Khi nay và trong giờ lâm tử – Amen

Xin mời các bác thưởng thức nhạc phẩm Ave Maria của Johann Sebastian Bach (không phải tác phẩm cùng tên của Schubert), qua giọng sopran bất hủ của đệ nhất diva Maria Callas:  http://youtu.be/N6jtO5-Q0YY

Mến chúc các bác và gia đình một mùa lễ Giáng Sinh an lành và được an mạnh, nhiều may mắn trong năm mới 2014 !

Thạch Bích

Logo tim hieu

Chuc mung 2ÔNG GIÀ NOEL LÀ AI ?

Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn.

Người Pháp gọi là: Le Père Noel (ông Cha, linh mục Noel), người Anh gọi trực tiếp là Santa Claus (Thánh Nicôla), Thánh Giám mục, lễ mừng ngày 6 tháng 12 hàng năm. Khi tới Việt Nam, dân chúng không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình cụ già râu tóc bạc phơ, nên gọi là Ông Già Noel.

Cả hai giáo hội Ðông Phương và Tây Phương đều vinh danh ngài. Có thể nói, sau Ðức Mẹ, ngài là vị thánh thường được các nghệ sĩ Kitô giáo mô tả. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, chúng ta chỉ biết một dữ kiện, Thánh Nicôla là giám mục ở Myra vào thế kỷ thứ tư. Myra là một thành phố nằm trong Lycia, một tỉnh của Tiểu Á. Tuy nhiên, như nhiều vị thánh khác, chúng ta có thể biết được mối quan hệ giữa thánh nhân và Thiên Chúa qua sự ngưỡng mộ mà các Kitô hữu dành cho ngài. Sự ngưỡng mộ được diễn tả qua các câu truyện đầy màu sắc và thường được kể đi kể lại trong nhiều thế kỷ.

9 Ong gia Noel 1Cuộc đời Thánh Nicôla

Năm 1969, Giáo Hội Công Giáo đã chính thức đặt vấn đề tra cứu về thân thế của Thánh Nicôla. Ngài là một vị thánh thực sự hay chỉ là một huyền thoại ? Sử liệu còn để lại đã chứng minh rằng Ngài là một nhân vật có thật.

Thánh nhân sinh năm 280.Scn, tại một ngôi làng nhỏ tên Batara thuộc vùng Tiểu Á (ngày nay thuộc lãnh thổ nước Thổ Nhỉ Kỳ). Cha mẹ đặt tên cho con trai bằng tiếng Hy Lạp là Nicôla. Lúc ấy nền văn minh và văn hóa Hy lạp còn thống trị nhiều vùng đất rộng lớn trong đó có Thổ Nhỉ Kỳ. Theo tiếng Hy Lạp, Nicôla có nghĩa là Người Anh Hùng của Dân Tộc. Cái tên định mệnh đó rất xứng đáng đối với ngài ít nhất ở lãnh vực đạo đức và tôn giáo. Ông bà thân sinh tuy không giàu có lắm nhưng luôn giúp đỡ người nghèo. Hấp thụ nền đạo đức bác ái từ cha mẹ : “Phải luôn là người lương thiện, nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình”, Nicôla đã trở thành một mẫu người thánh thiện ngay khi ngài còn ở độ tuổi thiếu niên. Một cơn dịch bệnh tràn qua thôn xóm. Cha mẹ qua đời, lúc này Nicôla mới 12 tuổi. Tuy vậy, cậu bé vẫn tiếp tục đem tiền bạc giúp đỡ cho những người cùng khổ. Nicôla miệt mài học tập giáo lý. Ngài có một khả năng siêu nhiên lạ lùng là có thể cảm nghiệm được nỗi khổ đau đang xảy ra ở đâu đó và lập tức đến nơi cứu giúp.

Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, có lẽ thánh Nicôla là người được phong chức Giám Mục thành Mira ở độ tuổi trẻ nhất. Lúc đó ngài mới có 19 tuổi. Vì vậy, bạn bè đặt cho ngài biệt danh vui nhộn là “chú nhóc Giám Mục”. Ngài cười đón nhận và chẳng phiền lòng tí nào.

Năm 303, lúc Nicôla 23 tuổi, Vua La Mã là Dio Pletian buộc mỗi vùng thuộc đế quốc La Mã phải tôn phục ông là thượng đế. Dĩ nhiên Giám Mục Nicôla và giáo dân địa phận Mira không chịu tuân phục. 9 Ong gia Noel 2Ðối với Kitô hữu, chỉ có một Thượng Ðế duy nhất, đó là Thiên Chúa. Vì vậy, thầy trò Nicôla đều được ưu ái mời vô khám nằm đếm lịch, ăn bánh mì đen và uống nước lã. Riêng Nicôla bị biệt giam trong một cái nhà tù nhỏ xíu, bị bỏ đói, khát và lạnh đến 10 năm. Vô cùng mầu nhiệm, ngài vẫn sống.

Đến năm 313, hoàng đế Constantine lên ngôi, ra sắc chỉ Milan, đại xá thiên hạ. Lao lý 10 năm đã làm cho đức tin và con người của Nicôla thêm bền vững. Ngài dốc tâm giảng đạo, phát triển Giáo hội, bố thí của cải và đem vô số người về với Chúa.

Ngày 6 tháng 12 năm 343, ĐGM Nicôla từ trần, hưởng thọ 63 tuổi. Ngài để lại cho trần thế một công nghiệp đồ sộ, một tên tuổi rực chói và những câu chuyện có thật lẫn huyền thoại mà vẫn được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Một thời gian ngắn sau khi ĐGM Nicôla từ trần, người dân Mira dựng lên một ngôi đền thờ tôn kính ngài, lưu giữ tất cả các vết tích và các vật dụng của ngài. Ðến năm 800 Giáo Hội Công Giáo Đông Phương chính thức tuyên dương ngài là thánh.

Vài cầu chuyện về Thánh Nicôla.

a/.Thánh Nicôla làm phép lạ trên biển

Câu chuyện kể về người thủy thủ một chiếc tàu sắp bị đắm trong vùng biển Ðịa Trung Hải. Con tàu bị lạc giữa một cơn bão tố và va phải đá ngầm và bị thủng một lỗ to. Nước biển tràn vào ồ ạt. Con tàu chồng chềnh ngã nghiêng và chìm dần xuống.

Một vài thủy thủ chợt nhớ lại tên thánh Nicôla hằng cứu giúp, mặc dầu lúc ấy ngài đã tạ thế. Lập tức họ cùng nhau quỳ xuống khấn nguyện tên ngài và khẩn cầu ngài cứu vớt. Ðột nhiên từ trên không, giữa những làn nước giá buốt trút ầm ầm như thác, giữa những cơn sóng gầm thét điên cuồng, thánh Nicôla trong chiếc áo giám mục màu đỏ từ từ hạ xuống giữa khoang tàu. Gió bỗng thôi gào, mưa bão ngưng tạnh. Thánh Nicôla cùng thuỷ thủ đoàn quỳ xuống tạ ơn Thiên Chúa, rồi ngài cùng họ chèo chống con tàu ra khỏi vùng đá ngầm bằng một chiếc sào dài. 9 Ong gia Noel 3Khi con tàu đã đến chỗ bình yên, thì ngài vẫy tay từ biệt họ, cất mình lên không và biến mất sau những đám mây trắng.

Vẫn chưa chấm hết câu chuyện, khi con tàu cập bến Myra, các thủy thủ cùng vị thuyền trưởng đi đến ngôi đền thờ thánh Nicôla để làm lễ tạ ơn, thật lạ lùng, họ thấy ngài đã hiện ra lúc nào và đang mĩm cười đứng bên đền thờ nhìn họ. Một người hỏi rằng làm thế nào mà ngài đã biết và đến cứu họ. Thánh Nicôla cho biết, ngay từ thuở nhỏ, ngài đã có năng khiếu siêu nhiên là có thể nhìn thấy những người đang lâm nạn và nghe thấy tiếng kêu khóc của họ, vì đó là ý của Chúa. Từ câu chuyện này, mãi cho đến ngày sau, người Hy Lạp thay vì đập chai sâm banh để khánh thành một chiếc tàu mới chuẩn bị hạ thủy thì họ khấn nguyện xin thánh Nicôla bảo hộ cho họ được bình yên trên các nẽo đường hàng hải.

b/. Thánh Nicôla làm phép lạ cứu sống 3 trẻ em.

Có một buổi sáng trời giá lạnh, Đức cha Nicôla bước vào một quán ăn nhỏ bên đường cách đô thị chừng 15km. Chủ quán nhận ra Đức Giám mục liền chào Ngài. Đức cha hỏi: “Quán có gì ăn không ?”. Chủ quán thưa : “Dạ, có thịt, trứng và bánh mì, 9 Ong gia Noel 4nhưng hết mất rượu vang. Xin Đức cha vui lòng ngồi nghỉ chờ con ít phút, con vào trong làng mua rượu”.

Chủ quán đi rồi, Đức cha Nicôla xuống bếp, mở nắp khạp thịt, vỗ vào hông khạp và gọi:

– Dậy đi, các con !

Thế là có ba bé trai lùng nhùng từ đống thịt tươi mới ướp muối, liền lại, sống lại và bước ra. Ngài chỉ chỗ cho ba đứa trẻ lấy quần áo mặc vào, rồi lên nhà trên ngồi vào bàn ăn chờ. Thì ra đó là ba bé trai nhà nghèo, chiều hôm trước đi mót lúa ngoài cánh đồng, bị đói lạnh, đã vào quán xin ăn, bị chủ quán giết chết, chặt ra bỏ vào khạp ướp muối để sẽ nấu món ăn bán cho khách. Thánh nhân biết được nên đã tới cứu các cháu.

Lát sau chủ quán về tới, giật mình trông thấy ba đứa bé anh đã giết chết, ngồi cạnh Đức Giám mục. Anh sợ hãi qùy xuống trước mặt Ngài thú tội :

– Con nghèo quá nên đã làm nhiều sai trái, xin Đức Cha tha tội cho con !

Ngài giải tội cho anh, lại còn cho anh một túi tiền để làm vốn và khuyên anh từ nay không được làm điều ác. Sau đó Ngài bảo anh dọn bánh mì, chiên trứng, bốn cha con ăn xong, Ngài dẫn ba đứa bé đi theo về trả lại cho gia đình và cấp dưỡng cho chúng được ăn học.

Những truyện về Thánh Giám Mục Nicôla còn rất nhiều. Điều chủ yếu muốn nói đến qua các câu chuyện là Ngài rất gần gũi với lễ Giáng Sinh, hay giúp đỡ dân nghèo, đặc biệt là bạn của các thiếu nhi. Dù khi còn ở gia đình, khi đã đi tu, khi làm linh mục hay khi đã làm giám mục, khi còn trẻ hay khi đã râu dài tóc bạc, mỗi mùa Giáng Sinh về, Thánh Nhân đều mang trên lưng một bao lớn bánh mì bánh kẹo, đem tới từng nhà chia cho trẻ em nghèo mừng lễ Giáng Sinh.

Nen chayCuộc đời Thánh Nicôla thắp sáng lên một ngọn đuốc tình yêu trong thế gian.

Xin Chúa cho mỗi người chúng con là một “Little Santa Claus”, một ông già Noel nhỏ. Chúa sinh ra, đem mùa xuân hạnh phúc cho cả nhân loại. Cuộc đời Thánh Nicôla mang niềm vui hạnh phúc cho bao người, đặc biệt là trẻ em. Xin cho chúng con biết đem niềm vui Giáng Sinh đến cho mọi người, đặc biệt những người bên Lương hàng xóm láng giềng của chúng con. Amen. (theoLm Giuse Nguyễn Hữu An)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo do day

Tr NoelDẠO MỘT VÒNG THẾ GIỚI

NGẮM KHÔNG KHÍ GIÁNG SINH

Chúng mình cùng xem không khí đón Giáng sinh trên Thế giới như thế nào nhé !

Ngày lễ Noel thực sự là một ngày rất sôi nổi trên toàn thế giới. Không chỉ các nước theo đạo Thiên Chúa mới tổ chức Giáng sinh, mà cả những nước không theo đạo cũng vẫn rộn ràng đón Noel đấy nhé ! Chúng mình cùng xem một số hình ảnh đón mừng lễ Giáng sinh trên thế giới :

9 Vong Noel 1H1: Cây thông Noel bên ngoài nhà thờ St. Peter tại Vatican. H2: Cây thông Noel và quả cầu tuyết khổng lồ ở Colombia.

H3: Du khách tại sân bay Quốc tế Glasgow, Anh. Nhiều người sống xa gia đình vội trở về bên người thân trong dịp Giáng sinh. H4: Tại Seoul, Hàn Quốc, gần 1.000 tình nguyện viên trong trang phục ông già Noel đi phát quà cho người nghèo. H5: Một cửa hàng đầy ắp không khí Giáng sinh ở Sri Lanka.

9 Vong Noel 2

H6: Hàng nghìn người đổ về Bethlehem – thành phố Chúa Jesus chào đời. H7 : Các cô gái Iraq trang trí cây thông Noel tại nhà thờ Chaldean ở Amman, thủ đô của Jordan. H8: Các em nhỏ hát mừng Giáng sinh tại New Delhi, Ấn Độ.

9 Vong Noel 39 Vong Noel 4

H9: Tinh tinh ở Vườn thú Loxahatchee, Florida, Mỹ cũng được nhận quà Giáng sinh. H10: Trẻ em xếp hàng để nhận quà Giáng sinh tại Manila, Philippines. H11: Nhân viên Vườn thú Quốc gia ở Kuala Lumpur, Malaysia chụp ảnh trong trang phục ông già Noel.

Lan Hương chuyển tiếp

9 Duong hoa SG 1ĐƯỜNG PHỐ SAIGON

LỘNG LẪY ĐÓN CHÀO

NĂM MỚI 2014 – GIÁP NGỌ

Nhiều tuyến đường ở trung tâm thành phố được trang hoàng rực rỡ với những bông hoa mai, hoa đào.

H1: Tại trung tâm TP, một số tuyến đường ở Q.1 như Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tôn Đức Thắng, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lê Duẩn, Phạm Ngọc Thạch, Đồng Khởi được trang trí nhiều màu sắc và kiểu dáng đẹp mặt để chào đón năm mới.

9 Duong hoa SG 2

H2: Đường Đồng Khởi, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Tôn Đức Thắng… với màu sắc của hoa mai. H3: Đường Nguyễn Huệ được thiết kế cầu kỳ với vòm búp sen lớn cùng lá và bông sen đặc trưng. H4: Những tuyến đường này được trang trí kéo dài qua Tết Giáp Ngọ.

9 Duong hoa SG 3

H5: Từ chập tối, đèn nháy được bật sáng, đường Lê Lợi trở nên lung linh. H6: Đường Lê Lợi rực rỡ ánh sáng nhấp nháy. H7: Đường Nguyễn Huệ được thiết kế cầu kỳ với hình lá và búp sen.

9 Duong hoa SG 4

H8: Một quả địa cầu lớn trên đường Nguyễn Huệ được trang trí rất nhiều bóng đèn nhấp nháy, cùng một số đồng hồ chỉ mủi giờ trên thế giới. H9: Đường Tôn Đức Thắng với 2 cánh chim hai bên. H10: Một dãy cây treo nhiều bóng nhấp nháy trước UBND TP (Tòa Đô Chánh cũ).

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Logo vannghe A

Nguyen Vu 1Ca khúc và giai thoại  

40 NĂM

“BÀI THÁNH CA BUỒN”   

Đức Bình

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.

Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, văn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.

Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp sử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.

Nguyen Vu 2Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.

Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.

Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích : “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.

Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó,Nguyen Vu 3 “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.

Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe.“Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.

Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.

Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo thu gian

NoelNHỮNG CA KHÚC GIÁNG SINH

HAY NHẤT

NHẠC GIÁNG SINH VIỆT NAM

http://qhvn.org/music/nhacgiangsinh.html

Over 30,200 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL8071336FFEFFCDF6

Noel 1THƯ GIÃN… DỊP X’MAX

1/- Một cậu bé yêu cầu Bố giúp sửa lại bức thư gửi ông già Noel để xin được tặng xe tăng, thay vì xe lửa. Bố hỏi :

– Thế con không còn thích ông già Noel tặng con xe lửa nữa sao ?

– Con thích chứ. Nhưng con thấy trong tủ Bố đã có một chiếc rồi !

2/- Ba giai đoạn của người đàn ông với Ông già Noel :

a) Tin có ông già Noel – b) Không tin có ông già Noel – c) Muốn làm ông già Noel

3/- Một trong những lý do : Muốn được làm ông già Noel đứng  ở các khu vui chơi để tha hồ bá vai các người đẹp đến xin chụp hình chung, mà không sợ bà xã cạo đầu !

4/- Một lý do khác : Cải trang thành ông già Noel để sang tặng quà cô hàng xóm và nhắc nhở câu : “Tối lửa tắt đèn có nhau”  mà không sợ bị người nhà phát hiện.

Vo chong 11Ly hôn

Một cặp vợ chồng già quyết định chia tay. Trước khi cho phép hai người ly thân, tòa án đề nghị họ đến một cơ sở tư vấn hôn nhân gia đình để tìm cơ hội cuối cùng cứu vãn cuộc hôn nhân. Chuyên gia tư vấn trổ hết khả năng ăn nói để thuyết phục đôi vợ chồng già nhưng vô hiệu.

Hai người khăng khăng một mực đòi sống ly thân để tiến tới ly dị. Cuối cùng, vị chuyên gia thở dài :

– Các cụ đã có tuổi cả rồi, một người 95, còn người kia 93, kết hôn với nhau đã 72 năm. Tại sao bây giờ lại phải chia tay cơ chứ ?

Cụ bà đáp lời :

– Chúng tôi không thể chịu đựng nổi nhau suốt 46 năm qua nhưng cả hai đều nghĩ rằng cần chờ đến khi lũ con qua đời hết rồi mới chính thức cắt đứt quan hệ, kẻo chúng nó đau lòng…

Tr vui 2MỒI CÂU

Ông bố hỏi cô con gái :

– Con yêu, sao con chưa chịu lấy chồng ?

– Bố ơi, con đã tìm hiểu mấy người bạn trai nhưng chưa vừa ý ai cả, phải chọn lựa kỹ càng đã bố ạ !

– Con không còn trẻ nữa, cần phải biết nắm thời cơ.

– Bố yên tâm, trong biển cả cuộc đời, cá nhiều vô số mà.

Vo chong 1– Nhưng con ơi, mồi câu mà để lâu ngày sẽ bốc mùi đó.

TRƯỚC VÀ SAU KHI CƯỚI

Vợ cằn nhằn :

– Trước khi cưới, anh chăm sóc, chiều chuộng em lắm cơ mà !

– Đúng vậy ! Nhưng, là một người nghiêm túc, đứng đắn, bây giờ anh không thể tự cho phép mình chăm sóc, chiều chuộng một phụ nữ đã có chồng.

Vo chong 8SẾP VÀ THƯ KÝ

Cô thư ký khoe :

– Mẹ ơi ! Hôm nay giám đốc nhận con làm em gái nuôi mẹ ạ !

Bà mẹ thở dài :

– Theo kinh nghiệm của mẹ, ở đời, người ta nuôi con gì rồi cũng đem ra làm thịt hết con ạ !

Yên Nhàn tổng hợpchuyển tiếp

SỰ KIỆN QUANH TA (3)

Logo su kien 1

9 An do giao BTÌM HIỂU TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI

ẤN ĐỘ GIÁO (HINDUISM)

Ấn Độ giáo là tên chỉ những nhánh tôn giáo chính có tương quan với nhau và hiện còn tồn tại ở Ấn Độ. Khoảng 80% người Ấn tự xem mình là người theo Ấn Độ giáo và người ta cho rằng, có khoảng 30 triệu người theo Ấn Độ giáo sống tại hải ngoại.

Kể từ thế kỷ 16 các nhà truyền giáo và du phương thường nhắc đến tôn giáo và phong tục tại Ấn Độ và thường gọi người bản xứ này là “ngoại đạo” (en. pagan, de. Heiden) nếu họ không tự nhận là theo một trong tôn giáo lớn. Họ được gọi theo tiếng La Tinh là gentiles, tiếng Bồ Đào Nha là gentio và từ đó ra tiếng Anh là gentoo và tiếng Hà Lan, tiếng Đức là Heyden (Heiden). Đến thế kỷ 18 thì từ “Hindoo” (tiếng Ba Tư Hindu) bắt đầu được dùng và cuối cùng, trong thế kỷ 19, danh từ “Hinduism” trở nên rất thông dụng.

Như vậy thì từ “Hinduism” – được dịch là Ấn Độ giáo ở đây – không phải là một danh hiệu tự xưng của một tôn giáo Ấn Độ. Nhưng tên này lại ảnh hưởng đến quan điểm tự nhận của phong trào Tân Ấn Độ giáo (Neo-Hinduism) trong thế kỉ 19 và thế kỷ 20 vì nó gợi ý một sự thống nhất tôn giáo trong cuộc chiến giành độc lập Ấn Độ, và được dùng để phản ứng các khuynh hướng phân chia ngày nay.

9 An do giao ATuy vậy, từ Hinduism có thể gây hiểu lầm. Khi người ta bắt đầu dùng nó thì đã dựa trên hai điều kiện tiên quyết không đúng. Thứ nhất là người ta tin là từ phái sinh từ gốc Ba Tư Hindoo (Hindu) chỉ tín đồ của một tôn giáo nhất định. Thứ hai là người ta cho tất cả những người Ấn đều là tín đồ của tôn giáo này nếu họ không theo các tôn giáo lớn còn lại. Cả hai điều kiện tiên quyết bên trên đều bị nhìn nhận sai. Danh từ Ba Tư “Hindu” chỉ có nghĩa tương đương với từ có gốc Hi Lạp là “Indian”, và cả hai đều có gốc từ tên con sông lớn Ấn Độ (tiếng Phạn : sindhu, tiếng Ba Tư: hindu, tiếng Hi Lạp : Indós), đã mang đến đất nước nó chảy qua tên này : Hindus là những người xuất xứ từ nước Ấn Độ (india). Ngay khi người Hồi giáo nói tiếng Ba Tư đến xâm chiếm, phân biệt giữa tín đồ Hồi giáo và Hindus thì sự việc này cũng không có nghĩa là tất cả những người Hindu đều là tín đồ của một tôn giáo.

Ngày nay, người ta biết được hàng loạt tôn giáo của người Ấn Độ và các thông tin nghiên cứu ngày càng phong phú. Thế nên, từ “Hinduism”, “Ấn Độ giáo”, không thể mang nghĩa là một tôn giáo nhất định của người Ấn mà chỉ là cách gọi mang ý nghĩa bao quát, chỉ một nhóm tôn giáo có sự tương quan với nhau, nhưng khác biệt nhau, xuất phát từ Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh). Các tôn giáo này dù có quan hệ với nhau nhưng cũng khác nhau như sự khác biệt giữa Do Thái, Phật, Thiên chúa và Hồi giáo.

CÁC VỊ THẦN TRONG ẤN GIÁO

I/- Thần Vishnu (Đấng Bảo Hộ) Vishnu (Visnu, Vi-sơ-nu) phiên âm Hán Việt là Tỳ Thấp Nô, là vị thần bảo hộ trong  Ấn Độ giáo và Bà La Môn giáo.

Vishnu, Brahma và Silva hợp thành bộ tam thần trong văn hóa Ấn Độ. Có hình ảnh là vị thần với khuôn mặt người, 4 tay cầm 4 lệnh bài là cái tù và, cái vòng, cái búa và cánh hoa sen tượng trưng cho bốn chất tạo nên vũ trụ; khi thì cưỡi chim thần Garuđa, khi thì có dạng nửa người nửa chim, khi thì nằm trên mình con rắn Naga. Năm 1000 sau Công nguyên, người ta cho rằng các truyền thuyết về 10 hóa thân của Vishnu được dựng lên.

Mười hóa thân của thần Vishnu

1/. Tên vị thần : Matsya.  Hóa thân: Cá. Truyền thuyết: Thuở xưa khi trái đất này còn bị che phủ bởi nước. 9 An do giao 1Thần Vishnu đã hiện thân làm một con cá để cứu Manu (người đầu tiên), gia đình ông ấy và Vedas. Câu chuyện này cũng giống như câu chuyện Noah Ark.

2/. Tên vị thần : Kurma.  Hóa thân: Rùa. Truyền thuyết: Cũng vào thời nước dâng tràn ngập ấy, Vishnu hóa thân làm một con rùa lớn để vớt lấy tất cả những bảo vật bị mất trong cơn nước lũ. Trong đó kể cả nước cam lồ linh dược mà các vị thần thánh dùng để giữ sự trẻ đẹp của mình. Lúc ấy có một vị thiên nữ Lakshmi giúp đặt ngọn núi (Kailash) lên lưng rùa thần Kuma, để rùa có thể lặn sâu xuống lòng đại dương mà tìm bảo vật. Nó gặp rắn thần và rắn ấy quấn mình quanh ngọn núi. Thiên nữ bèn làm biển nổi sóng lớn, đẩy dạt ngọn núi đi và kéo theo cả rắn thần. Bấy giờ những chất cam lồ và linh dượt nổi lên mặt nước cùng với các bảo vật. Sau đó thiên nữ Lakshmi trở thành vị phối ngẫu của thần Vishnu.

3/. Tên vị thần : Vahara.  Hóa thân: Heo. Truyền thuyết: Thần Vishnu lại hiện thân xuống để cứu trái đất khỏi cơn nước lũ, do sự sai khiến của quỷ vương Hiranyaksa. Câu chuyện có lẽ bắt nguồn từ huyền thoại của người Aryan về một con heo thần.

9 An do giao 24/. Tên vị thần : Narasimha.  Hóa thân: nửa người nửa sư tử. Truyền thuyết: Quỷ vương Hyranyakasjpu đã làm cho Phạm thiên phải hứa rằng, hắn sẽ không bị giết, dù là ngày hay đêm, bởi trời, người hay thú vật. Kế đó hắn làm cho tất cả mọi người kinh sợ. Tuy nhiên khi các vị trời hứa sẽ giúp đỡ trong việc tiêu diệt quỷ vương, thần Vishnu lên tiếng từ một chiếc trụ trong cung điện của quỷ vào lúc chạng vạng tối. Khi ấy không phải là ngày cũng chưa phải là đêm, trong hóa thân nửa người nửa sư tử, Vishnu liền giết quỷ vương.

5/. Tên vị thần : Vamana.  Hóa thân: người lùn. Truyền thuyết: Bali, một con quỷ khác đạt được những phép tắc thần biến rất ghê sợ sau khi đã thực hành những pháp tu khổ hạnh. Để che chở cho thế giời này, thần Vishnu hiện thân ra trước quỷ trong hình dạng của một người lùn và hỏi xin hắn một ân huệ. Quỷ Bali đồng ý và Vishnu hỏi xin một khu đất lớn bằng ba bước dài. Quỷ hứa cho và khi ấy thần Vishnu bèn hiện thân thật khổng lồ, bước ba bước che khắp cả mặt đất. Không còn lại gì hết ngoại trừ địa ngục cho quỷ.

6/. Tên vị thần : Parasurama. Hóa thân: Bà La Môn. Truyền thuyết: Vishnu hiện thân người, làm con của một Bà la môn có tên là Jamadagni. Khi cha bị tên ác vương cướp hết của cải, Parasumara bèn đi giết tên vua gian ác này. Kế đó người con của vua lên ngôi và giết lại Jamadagni để trả thù cha mình. Parasumara bèn trả thù lại giết hết tất cả người nam trong thành.

9 An do giao 37/. Tên vị thần : Rama.   Hóa thân: Thái tử. Truyền thuyết: Vishnu hóa thân làm một vị thái tử để cứu thế giới này ra khỏi sự đen tối của quỷ vương Ravana. Câu chuyện này được kể trong Ramayana, qua đó người ta thấy được lòng sùng tín và sự chịu đựng khổ nhọc của thái tử, cùng với lòng thủy chung của vợ là nàng Sita. Ở thiên sử thi này người ta cũng thấy được sự tạo dựng của Hanuman, khỉ thần, một biểu tượng của sức mạnh và lòng trung thành, hiện nay vẫn còn được xem là một vị thần linh rất được biết đến và đang còn tôn thờ ở Nepal và Ấn Độ.

8/. Tên vị thần : Krishna.  Hóa thân: có nhiều hóa thân. Truyền thuyết: Những câu chuyện về các hóa thân của Krishna, thời thơ ấu và trưởng thành trong ngữ từ Basham, đều là cứu giúp tất cả cho mọi người. Khi còn bé Krishna đã làm cho mọi bà mẹ yêu thương. Lớn lên trong tình yêu, Krishna đã phá vỡ những lề lối cấm đoán cổ xưa của xã hội, và đưa tình yêu lên đến tột đỉnh của những khát khao và thỏa mãn qua sự tự do và phá rào những ràng buộc của xã hội. 9 An do giao 4Khi làm người đánh xe ngựa của anh hùng Arjuna trong chiến trận Kukukshetra, Krishna là người giúp tất cả những ai đến với mình và cứu họ thoát khỏi sự tái sanh vào những cảnh giới ác, nếu kẻ ấy có đủ niềm tin vào đấng thiêng liêng.

9/. Tên vị thần : Đức Phật. Truyền thuyết: Có lẽ người Ấn lấy đức Phật đưa vào tên các vị thần trong Ấn giáo để làm mất thể diện Phật giáo, một tôn giáo rất lớn đã làm ảnh hưởng toàn vùng Nam Á Châu. Theo những sự diễn giải sớm nhất của người Ấn giáo, họ cho rằng Vishnu hóa thân làm đức Phật để tỏ lòng từ bi đối với các loài vật và cứu loài thú này khỏi những nạn chết vì tế lễ.

10/. Tên vị thần : Kalki.  Hóa thân: Cỡi trên một con ngựa. Truyền thuyết: Khi Vishnu đến sẽ kéo theo sự hủy diệt sau cùng của thế giới này, để phán xét những điều xấu ác, và tưởng thưởng những điều tốt.

Vợ của Thần Vishnu : Lakshmi là một nữ thần Ấn Độ giáo, tượng trung cho sự giàu có, thịnh vượng (cả về vật chất lẫn tinh thần), vận may và sắc đẹp. Nàng chính là vợ thần Vishnu. Còn được gọi là Mahalakshmi, nữ thần được mọi người tin rằng sẽ mang đến may mắn và đưa những người sùng đạo thoát khỏi cảnh cơ cực và những nỗi phiền muộn về tiền bạc. 9 An do giao 5Những hình tượng tương đồng của Lakshmi cũng được tìm thấy trong các di tích đạo Jaina.

II/- Thần Bramah (Đấng Sáng Tạo) Brahma (Phạm Thiên): người sáng tạo và lèo lái vũ trụ, là cha của các thần và của cả loài người. Brahma cùng với Shi va và Visnu hợp thành bộ ba gọi là Trimurti. Visnu và Shiva là hai thế lực đối lập, còn Brahma là thế lực cân bằng.

Brahma tạo ra nữ thần Satarupa từ chính cơ thể mình. Nàng đáng yêu đến nỗi Brahma nhìn nàng đăm đăm. Mỗi khi nàng nhích qua một bên để tránh thì Brahma lại mọc ra một đầu khác để nhìn. Cuối cùng Brahma đã chinh phục được Satarupa. Họ lui về sống ở một nơi bí mật trong 100 năm thiên giới. Và, MANU – con người đầu tiên được sinh ra…

9 An do giao 6Thần Brahma thường được thể hiện với 4 đầu và 4 tay, mỗi tay cầm một cuốn kinh Vệ đà. Các biểu trưng khác là lọ nước sông Hằng, vòng hoa, ấn thí vô uý… truyền thuyết phổ biến là Brahma được sinh ra từ một bông sen mọc ở rốn thần Visnu (Vishnu). Trong nghệ thuật, hình tượng Brahma được thể hiện với bốn mặt, bốn tay (tượng trưng cho sự hiểu biết hết thảy mọi việc và sự có mặt ở khắp mọi nơi), ngồi trên thiên nga [hamxa (hamsa)].

Sarasvati là quyền năng của Brahma, cũng thường được xem là người phối ngẫu. Sarasvati vẫn còn tồn tại trong thế giới Ấn giáo ngày nay, và có tầm quan trọng còn hơn chính cả Brahma. Trong sự sùng bái thông thường, Sarasvati là biểu tượng của Thần Nữ Tri Thức và Học Vấn. 9 An do giao 7Có thể nguồn gốc của Sarasvati liên hệ đến truyền tích làm khô cạn dòng sông Sarasvati ở Rajasthan, nhưng không như Brahma, thần nữ Sarasvati vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong sự sùng bái của người Ấn giáo mãi cho đến ngày nay. Hình ảnh Sarasvati thường thấy là màu trắng, cỡi trên lưng con thiên nga, tay cầm một cuốn sách. Sarasvati có thể được thấy với nhiều đầu và nhiều tay, biểu tượng cho sự gia hộ tất cả các môn học về khoa học và nghệ thuật. Sarasvati được tôn sùng nhiều nhất ở các trường và đại học.

III/- Thần Shiva (Đấng Hủy Diệt). Được tôn thờ như là một vị thần sáng tạo lẫn hủy diệt, có đầy đủ sức mạnh và quyền năng đối với vũ trụ này. Thần Shiva ngự trên núi Kailasa với vợ là nàng Parvati, và hai con là thần đầu voi Ganesha và thần Chiến tranh Kartikkeya. Shiva thường được thấy đi cùng với chiếc cỗ xe bò. Shiva thường ít được thấy hơn là thần Vishnu nhưng trong các chân dung và điêu khắc thì có nhiều. Shiva cũng được họa theo hình một vị tu khổ hạnh, ngồi thiền định trên đỉnh núi Kailash cùng với vợ là nàng Parvati. Ngài thường cưỡi con bò thần Nandin.

9 An do giao 15Trong thờ cúng Shiva thường được đồng nhất với Linga : Thờ sinh thực khí (Linga và Yoni) là tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp. Càng nông nghiệp điển hình bao nhiêu thì tín ngưỡng này càng mạnh bấy nhiêu. Người du mục không có truyền thống thờ sinh thực khí. Chiếc Linga là biểu tượng được cách điệu hóa của sinh thực khí nam trong tín ngưỡng phồn thực mang ý nghĩa phồn thực và tính dục. Kinh Vêđa nói rằng những kẻ lấy Linga làm thượng đế là kẻ thù của đạo giáo Aryen. Ở Ấn Độ, việc thờ Linga vốn là tín ngưỡng của thổ dân Dravidien. Đó chính là tục thờ cúng các hòn đá hình trục, phổ biến trong dân gian từ thời thượng cổ ở khắp vùng Đông Nam Á. Sự xâm nhập của nó vào Bàlamôn giáo và việc đồng nhất Linga với Shiva chắc hẳn đã xảy ra vào thời kì hậu Vêđa.

9 An do giao 9Chiếc Linga trong Bàlamôn giáo : phần hình vuông (âm tính) ở dưới ứng với thần Brahma sáng tạo, khúc hình bát giác ở giữa mang tính chuyển tiếp, ứng với thần Vishnu bảo tồn, còn phần hình trụ tròn (dương tính) ở trên ứng với thần Shiva phá hủy. Phần dưới của Linga gắn liền với một cái đế, giống như một cái chậu vuông, có rãnh thoát nước, biểu tượng của bộ phận sinh dục của nữ giới (Yoni). Bộ phận hình chậu vuông này còn là biểu tượng của nữ thần phù hộ cho đất đai, luôn phải nhờ ơn mưa móc của Linga. Ngoài ý nghĩa là biểu tượng của sự sinh dục, Linga còn là biểu tượng của chiếc cột trụ chống đỡ vũ trụ, của ngọn núi Meru thần thoại (núi thiêng Meru – nơi ngự trị của Thiên thần, Bồ Tát và là trung tâm của vũ trụ theo thế giới quan của Ấn Độ). Cuối cùng, Linga còn là biểu tượng của sự vĩnh cửu và tính chất chính thống của mỗi triều đại vua. Cũng bởi những ý nghĩa tượng trưng đó, mà chiếc Linga luôn luôn có mặt trong các biểu hiện nghệ thuật có ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.

Các nhà nghiên cứu đưa ra một số giải thích, dựa trên tài liệu của giáo sư Lê Xuân Khoa: theo đó, tuy thần Shiva là thần hủy diệt, nhưng chính do hủy diệt mới xuất hiện sự sống mới; vì vậy với tư cách là nguyên lý của sáng tạo, Shiva còn được xem là vị thần gieo rắc mầm sống và phúc lành. Với quyền năng thứ hai đó, 9 An do giao 8Shiva đã đón đầu con rắn thần Vasuki khi rắn này trườn xuống muốn nhả độc tiêu diệt hết thế gian, rồi Shiva nuốt chửng rắn, trừ tai họa cho loài người. Mặt khác, giáo sư Lê Xuân Khoa dẫn các pho sách xưa của Ấn Độ chép rằng: “Khi Shiva và vợ giao hợp, tia lửa lạc thú xuất hiện và vũ trụ phát sinh từ tình yêu ấy. Và Ngài (Shiva) tự phân làm hai nửa, một âm và một dương, âm dương giao hòa, tạo thành vũ trụ”. Vì thế có môn phái thờ thần Shiva lưỡng tính dưới hình ảnh Linga đặt trên Yoni. Theo thần thoại nguyên thuỷ, hình thức khởi đầu của Shiva là cột lửa hình Linga.

IV/- Thần Shakti : có nghĩa là thiêng liêng lực hoặc trao quyền, là nguyên thủy vũ trụ năng lượng và đại diện cho các lực lượng năng động, được cho là để di chuyển qua toàn bộ vũ trụ trong Ấn Độ Giáo. Shakti là các khái niệm, hay nhân cách hóa, sức mạnh sáng tạo thần thánh nữ tính, đôi khi được gọi là The Great ‘Mẹ Thiên Chúa’ trong Ấn Độ giáo. 9 An do giao 10Trên máy bay trần gian, Shakti tích cực nhất biểu hiện qua hiện thân phụ nữ và sự sáng tạo / khả năng sinh sản, mặc dù nó cũng có mặt ở nam giới trong hình thức unmanifest tiềm năng của nó,.

Không chỉ là Shakti chịu trách nhiệm cho việc tạo ra, nó cũng là tác nhân của sự thay đổi tất cả. Shakti là sự tồn tại của vũ trụ cũng như giải phóng, hình thức quan trọng nhất là Kundalini Shakti, một lực lượng bí ẩn psychospiritual. Shakti tồn tại trong một trạng thái svâtantrya, phụ thuộc vào không, phụ thuộc lẫn nhau với toàn bộ vũ trụ.

Trong Shaktism, Shakti được tôn thờ là Đấng Tối Cao. Tuy nhiên, trong truyền thống Hindu khác của Shaivism và Vaishnavism, Shakti là hiện thân của nữ tính hoạt động năng lượng Prakriti Purusha, người Vishnu trong Vaishnavism hoặc Shiva trong Shaivism. Đối tác nữ của Vishnu là Lakshmi, với Parvati là nửa cái của Shiva.

V/- Nữ Thần Tuyết Parvati : Parvati là một nữ thần Hindu Giáo. Parvati mang năng lượng nữ (Shakti) là vợ của Shiva và là hóa thân khuyến thiện của Đại Thiên Nữ  Mahadevi. Parvati được xem là một hiện thân hoàn chỉnh của Adi Parashakti – nữ thần sáng thế tối cao, người mà tất cả các nữ thần khác đều là hiện thân của bà.

Trên danh nghĩa, Parvati là người phối ngẫu thứ hai của thần Shiva, vị thần phá hủy và tái sinh trong Hindu Giáo. Tuy nhiên, thần Parvati khác với thần Sati (thần hạnh phúc gia đình và tuổi thọ) – hóa thân của người vợ thứ nhất của Shiva.

9 An do giao 11Parvati là mẹ của các nam thần và nữ thần như thần voi Ganesha và thần chiến tranh Skanda. Ở vài nơi người ta còn tin rằng bà là chị em với thần sáng tạo Vishnu. Bà cũng được xem là con gái của thần tuyết  Himavat.

Parvati, khi được miêu tả cùng với Shiva, thường xuất hiện với hai cánh tay; nhưng khi được miêu tả một mình, thần có 4 hoặc 8 cánh tay có mang theo một con hổ hoặc sư tử. Thường được xem là nữ thần từ bi, Parvati cũng có các hóa thân: nữ thần 8 tay Durga biểu tượng của chiến thắng của cái Thiện trước cái Ác, nữ thần Kali hiện thân của sự hủy diệt vũ trụ, thần băng giá Shitala Devi, nữ thần sao Tara – người cứu giúp các linh hồn trong biển cả ảo giác, thần  Chandi. thần Kathyayini, thần Mahagauri,, thần hoa sen Kamalatmika, nữ thần Bhuvaneshwari  – nữ thần của vũ trụ và của các thế giới, thần của ba thế giới Lalita và các vị nữ thần (Mahavidya) khác.

VI/- Nữ Thần Durga : Vào một thời xa xưa, Quỷ Vương Mahisha và bộ hạ nổi lên chinh phục các tầng Trời và tàn sát chư vị Thiên Thần. Họ đến cầu cứu «Chúa Ba Ngôi» Trimurti. Ba Ngôi phóng linh quang như những lằn chớp sáng rực bầu Trời. Ở nơi hội tụ của ba luồng hào quang chói lửa đến từ Ba Ngôi Thiên Chúa nảy sanh ra một Nữ Thần, đó là Durga.

Mỗi vị Thần trên Thiên Quốc đều tặng Durga một vũ khí hay một bảo vật để hàng phục quỷ vương. Shiva tặng cây đinh ba, Vishnu tặng đĩa Kim Luân và dây Quyên Sách, Surya, thần Mặt Trời, tặng cung tên, Chandra, thần mặt trăng, tặng cây búa rìu, Sơn Thần Himalaya tặng con sư tử, Thần Chết Yama tặng chày Kim Cương, Thần gió Vayu tặng ống loa, Hỏa Thần Agni tặng hỏa tiễn, v.v…

Durga tượng trưng cho sự đón nhận của nữ tính, nên hội tụ mọi quyền năng của chư Thần. 9 An do giao 12Các quyền năng ấy cũng biểu tượng cho các đức tính rất đa dạng nhưng cần thiết để hàng phục những khuynh hướng xấu trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Để có được những đức tính ấy, chúng ta phải có thái độ sẵn sàng đón nhận, một thái độ gắn liền với nữ tính của Durga.

Điểm đặc biệt là mặc dù Durga là một chiến tướng rất dũng mãnh quyết liệt, nhưng trong dân gian, Ngài lại được tôn thờ như một người mẹ tươi cười, từ ái, hiền hòa.Trong trận chiến chống lại ác quỷ, Durga chỉ huy một đội ngũ bảy nữ thần (sanh ra từ Durga, mỗi Vị mang đặc tính của một Nam Thần đã « đầu tư »  vào Durga), gọi là bảy bà mẹ (Sapta Matrika). Các Bà anh dũng thắng thế tiêu diệt đối phương. Tuy nhiên, khi quỷ bị giết hay bị thương, thì mỗi giọt máu của nó rơi xuống đất lại liền nảy sanh ra một con quỷ khác, cứ như thế, liên tu bất tận (như quái vật Hydre trong huyền thoại Hy Lạp, có nhiều đầu, mỗi đầu bị chặt, liền mọc thêm hai đầu khác). Cuối cùng Durga ra lênh cho một Nữ Thần há to miệng nuốt hết những giọt máu từ ác quỷ tuôn ra, khiến quỷ không thể tái tạo được nữa, đem lại chiến thắng toàn diện. Vị Nữ Thần uống máu ấy là Kali, bà mẹ dữ tợn.

VII/- Nữ Thần Chết Chóc Kali : Kali là một nữ thần đặc biệt ghê rợn. Nước da Ngài màu đen, tượng  trưng cho sự tan biến của mọi màu sắc.

Khuôn mặt Ngài, với mái tóc dựng đứng, con mắt thứ ba nằm giữa trán (như Shiva), miệng mở to, lưỡi đẫm máu thò dài ra ngoài, gợi cho chúng ta hình ảnh Nữ Ác Thần Meduse trong huyền thoại Hy Lạp.

9 An do giao 13Vả lại Kali cũng có khả năng hủy diệt đối thủ của mình bằng tia nhìn nảy lửa từ con mắt thứ ba của Bà, y hệt như Meduse. Vươn lưỡi ra thật xa cũng là một kỹ thuật Yoga. Thông thường trong thiền định người ta uốn lưỡi đặt lên hàm trên sau hàng răng cửa, nhưng cũng có Yogi cuộn hẳn lưỡi về phía sau, chặn đường hô hấp để đưa đến những cảm giác đặc biệt, hay đến… chết.

Kali thường trần truồng, một khía cạnh của phá chấp, hay của « sống thật » không che đậy giả dối. Ngài mang một sâu chuỗi gồm năm mươi sọ người, mỗi sọ ứng với một chữ trong vần Sanskrit, chứng tỏ sự thông thái, hay sự phù phiếm của « danh sắc » (nama ruppa – trong thập nhị nhân duyên). Kali cũng nhảy múa điên cuồng như Shiva, tương truyền do chất độc chứa trong máu của ác quỷ mà Ngài đã  uống. Nhắc lại là Shiva cũng đã từng phải uống chất độc khi chư Thần và Ma Quỷ cùng hè nhau quậy « Biển Sữa ». Vũ điệu của Kali cũng tàn phá mọi sự vật (như Shiva), và cũng cần được ngăn chặn. Vị Thần ngăn được điệu vũ hoại diệt của Kali lại là Shiva. Shiva nằm xuống dưới chân Kali, và vị Nữ Thần ngừng  dẫm tan thế giới. Hình tượng Shiva nằm trong tư thế này tựa hồ như người chết. Người ta cũng nói Kali là chữ « i » trong tên Shiva. Mất chữ « i » ấy thì Shiva trở thành « shv » (đọc là shuw), nghĩa là thân xác không còn sinh khí. Có thể hiểu rằng : Shiva trút bỏ sự sống cá biệt của mình, chết đi, để Kali, sự sống thật, sự sống của Toàn Hữu, nổi lên đạp trên sự chết. Chiến thắng sự chết là một đề tài thường thấy trong Phật và Ky Tô Giao, cũng như trong triết học Hy Lạp (phái Stoïcien và Epicurien).

Shiva được coi như cha của Kali. Thật ra, như đã nói ở trên, mọi Nữ Thần đều đến từ nữ tính của Shiva. Một hình ảnh của Kali hình dung Bà quỳ trên người Shiva, dương vật của Shiva trong âm hộ của Bà. Một tay Kali cầm lưỡi liềm đẫm máu, tay kia cầm một cái mâm trên đó có đặt thủ cấp của chính Bà. Một tia máu phun từ thủ cấp trên mâm vào miệng của Kali. Trong một hình ảnh khác, Kali cũng với hai cái đầu, đầu nọ uống máu phun ra từ đầu kia, ngồi trên một cặp trai gái đang làm tình. Người đàn bà, Ratti, nghĩa là lạc thú, ở trên người đàn ông, Kama, là « dục », hay Thần Ái Tình. Một hình ảnh khác nữa hình dung Kali nhảy múa đạp trên Ratti và Kama (vẫn đang làm tình), có thể được hiểu là Kali chà đạp lạc thú và ái tình, tức mang đức tánh tu hành khổ hạnh. Nhiều nhà khổ hạnh hay Đạo Sĩ tự cho mình là « tình nhân » của Kali, điển hình là Rama Krishna (1836-1886).

9 An do giao 14VIII/- Con Trai Thần Shiva

1/.Thần Hạnh Phúc GANESHA : Ganesha là một trong những vị thần được biết đến nhiều nhất trong Ấn Độ giáo. Có nhiều giai thoại về gốc tích của vị thần toàn năng này.
– Ganesha là vị thần tùy hành của thần Shiva trên núi Kailasa, do thần Shiva sáng tạo ra từ ngọn lửa thần trên trán của mình biến thành.

– Ganesha do vợ của Shiva – bà Parvati – sáng tạo ra, do có sự cố nên cái đầu rụng mất, thần Vishnu thương hại chắp cho một cái đầu voi, cho nên thần được thể hiện mình người đầu voi.

– Ganesha là con của Shiva và Parvati. Trong một lần tức giận Shiva đã chặt rụng đầu của Ganesha. Do thấy vợ là Parvati khóc thương thảm thiết nên Shiva ra lệnh cho người hầu ra ngoài tìm một cái đầu về trong vòng một ngày, nhưng đoàn người hầu đi từ sáng sớm đến chiều tối chỉ tìm thấy một con voi, họ bèn chặt đầu con voi đó dâng lên cho Shiva. Shiva liền gắn đầu voi vào thân Ganesha. Từ đó thần Ganesha có hình dáng mình người đầu voi.

Thần có nhiều tài năng, dập tắt mọi trở ngại khó khăn, có quyền ban mọi điều tốt lành, thần bảo vệ bếp lửa, thần là hiện thân của thông minh và trí tuệ của thần Shiva. Thần Ganesha được hiển thị với hình ảnh thân người đầu voi và hình ảnh này đã được tôn thờ ở khắp Nepal lẫn ở Ấn Độ. Trong những cuộc họp mặt, tổ chức hoặc những lúc gia đình tụ hội về, người ta thường bắt đầu bằng những bài kinh cầu nguyện đến thần Ganesha. Và cũng trong các cuộc làm ăn, mở tiệm hoặc khánh thành một cơ sở nào, người ta cũng cho rằng sẽ không thành tựu nếu không có những buổi lễ cầu nguyện thần Ganesha. Vào dịp lễ đăng quang của nhà vua Nepal, ông cũng đến đền thờ thần Ganesha ở công trường Dubar tại Kathmandu để đảnh lễ và cầu nguyện thần Ganesha.

2/. Thần Chiến Tranh SKANDA : Kartikeya, đứa con thứ hai của chúa tể Shiva và Parvati hoặc Shakti, ngài được biết đến với một số cái tên như là Subramaniam, Sanmukha, Shadanana, Skanda and Guha. Ở phía Nam của Ấn Độ, ngài là một vị thần được sùng bái và được biết với tên Murugan. Ngài là hiện thân của sự hoàn hảo, một vị lãnh đạo dũng cảm của lực lượng quân đội thần thánh, và là một vị thần chiến tranh, người đã tạo ra ác quỉ, đại diện cho cái xấu và khuynh hướng tiêu cực của con người. Kartikeya còn có một cái tên khác là Shadanana ( Lục diện nhân – ý nói đến 5 giác quan cộng với 1 tâm linh).

HNg Huynh V. YenHình ảnh 6 cái đầu còn tượng trưng cho đức hạnh toàn diện, giúp thần có thể nhìn được về mọi hướng và cản lại được tất cả các đợt công kích của kẻ thù. Những hình ảnh về 6 cái đầu của Kartikeya hướng dẫn và chỉ ra cho con người vượt qua được các cám dỗ của cuộc sống. Họ luôn luôn được cảnh giác trước những cám dỗ của những kẻ xảo quyệt và xấu xa, gồm có sáu tật xấu như: kaama (Tình dục), krodha (Giận dữ), lobha (Tham lam), moha (Sự mê muội), mada (Cái tôi) và matsarya (Sự ghen tuông). Một tay của Kartikeya cầm thương, tay còn lại thì ban phước lành cho mọi người. Thú cưỡi của ông là một con công – một con chim thánh cùng với đôi chân rắn, nó tượng trưng cho cái tôi và sự mong muốn thèm khát của con người.

Yên Huỳnhchuyển tiếp

%d bloggers like this: