VĂN HÓA VĂN NGHỆ (42)

Logo vannghe A

O Hue 6CHI LẠ RỨA ?? !!

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,

Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.

Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,

Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.

oOo

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,

Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.

Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,

Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn !

oOo

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,

9 Ng Thi hoang 1Bởi vì răng, ai biết được người hè.

Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,

Ni với nớ, có chi mô gần gũi !

oOo

Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi ?

Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau !

Khối tình câm nên không sắc, không màu,

3 O hue 1Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái !

oOo

Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,

Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời ?

Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,

Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.

oOo

Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,

Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.

Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,

Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.

9 Hue 1oOo

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,

Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.

Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,

Mà chi lạ rưá hè, ai hiểu nỗi !

oOo

Tui không điên cũng không hề bối rối,

9 O Hue 1Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương

Tui biết tui là hoa dại bên đường,

Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ ?

oOo

Tui cũng muốn có một người tri kỷ,

Nhưng đường đời như rứa biết mần răng !

Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:

Chờ tui với ! A, cười chi lạ rứa

oOo

Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,

9 Hong VanBởi vì răng tui có hiểu chi mô !

Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,

Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.

Nguyễn Thị Hoàng

Click nghe Hồng Vân diễn ngâm > 

http://www.youtube.com/watch?v=ta2Nwe6Uj4Q

Đọc thêm : “Viết về người một thời” của thụyvi về nhà văn nữ Nguyễn Thị Hoàng. Trên “Một thời Sài Gòn” ngày 6/12/2011. Mời bấm vào đường dẫn :

NS Văn Phụng & Ng ThỊ Hoàng

9 Ng Thi hoang 2VÀI NÉT VỀ

NGUYN THỊ HOÀNG

– Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nguyễn Thị Hoàng (sinh 1939) là một nhà văn, nhà thơ nữ Việt Nam. Bà sinh ngày 11/12/1939 tại Huế. Năm 1957, bà chuyển vào sinh sống ở Nha Trang rồi đến năm 1960 bà vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật nhưng bà bỏ ngang, không học hết mà lên Đà Lạt dạy học.

Đến năm 1966, bà chuyển sang chuyên tâm viết tiểu thuyết. Cùng với văn xuôi, Nguyễn Thị Hoàng còn tham gia sáng tác thơ và từ đó bà trở thành một người nổi tiếng trong giới văn nghệ chuyên viết về những mâu thuẫn nội tại của giới trẻ Sài Gòn trong suốt thập niên 1960. Theo Phạm Chu Sa, Nguyễn Thị Hoàng là một trong những nhà văn nữ tài năng thật sự và tên tuổi đã được khẳng định ở miền Nam trước 1975. Bà có những tiểu thuyết với giọng văn trau chuốt bóng bẩy và là một trong vài tác giả có sách bán chạy nhất thời đó

Sau sự kiện 30/4/75, bà hầu như biến mất khỏi giới nghệ thuật và sống một cuộc sống yên lặng đến tận 1990, khi bà cho ra đời Nhật ký của im lặng. Vào năm 2007, bà lại xuất hiện qua một tùy bút nhan đề “Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan” được đăng trên Tạp chí Văn hoá Phật giáo (số xuân Mậu Tí, 12/2007).

Tác phẩm văn xuôi : Tác phẩm đầu tay của bà có nhan đề Vòng tay học trò được dưới bút danh Hoàng Đông Phương. Đây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. 9 Ng Thi hoang 6Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần.

Ngoài “Vòng tay học trò” (1966), Nguyễn Thị Hoàng còn sáng tác nhiều tác phẩm khác. Một số tác phẩm khác :

Trên thiên đường ký ức (1967) – Tuổi Saigon (1967) – Vào nơi gió cát (1967) – Cho những mùa xuân phai (1968) – Mảnh trời cuối cùng (1968) – Ngày qua bóng tối (1968) – Về trong sương mù (1968) – Ðất hứa (1969) – Một ngày rồi thôi (1969) – Vực nước mắt (1969) – Tiếng chuông gọi người tình trở về (1969) – Vết sương trên ghế hồng (1970)

Các tập thơ: Sầu riêng (1960)Kiếp đam mê (1961) (theo Wikipedia)

VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG

VÀ TIỂU THUYẾT “VÒNG TAY HỌC TRÒ”

– Trần Áng Sơn

Trong số những nhà văn nữ  ở miền Nam, trước 1975 –  Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn nữ có sức sáng tác sung mãn nhất, bà viết rất đều tay, văn phong riêng biệt,  thắm đẫm cảm xúc. Văn thật như chính cuộc sống của nhà văn…

Tr Ang SonNgười theo dõi ngòi bút của bà, đều cảm nhận Nguyễn Thị Hoàng có hoài bão lớn, và để thực hiện, tôi có cảm giác nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bước đi đầu tiên  đặt nền tảng cho một sự nghiệp, mà tác giả có khát vọng trở thành nữ tiểu thuyết gia hàng đầu Mỹ, Pearl Buck.

Tôi viết những dòng này, thời điểm – trong tay – không có 1 tác phẩm nào, như một tài liệu, để gọi  nói có sách, mách có chứng.  Nhưng, vì quá yêu ngòi bút của bà, khởi đi từ chi tiết rất xa xăm – bài thơ Lạ rứa ! – do 1 người bạn ở Huế chép tặng 1957 – tôi thực hiện cuộc trở về trong sương mù, viết bằng ký ức, cảm xúc. Cũng rất có thể, tôi bị lạc lối, nhưng tấm lòng dành cho bài thơ Lạ rứa ! vẫn như xưa.

Từ 1967 đến 1970, bà đã xuất bản được 16 tác phẩm , 2 tái bản, quả là con số kỷ lục, khó 1 nhà văn nào dám ước mơ theo kịp ! Nói một cách khiên cưỡng, liệu có thể ví bà với nhà văn Lê Văn Trương, nhà văn độc nhất vô nhị, số tác phẩm lên tới con số 200 trong 59 năm hiện hữu ở cõi tạm, Lê Văn Trương để lại cho đới 125 tác  phẩm trong số 200 cuốn. Ông là một hiện tượng, có lẽ còn lâu lắm mới có người thứ 2 theo kịp.

Trở về Nguyễn Thị Hoàng, đó là  tên thật , bút hiệu khác Hoàng Đông Phương, nữ sinh Trung học nữ Đồng Khánh (Huế) sinh viên năm thứ 2 Đại học Luật, Văn khoa  Saigon. Bà từng là giáo sư việt văn (trung học) ở Đà Lạt. Viết tiểu thuyết từ năm 25, quả tài năng Nguyễn Thị Hoàng, được xem như, một bối cảnh mang dáng dấp tàng kinh các- chỉ cần nhớ lại bài thơ Lạ rứa! đã là 1 chứng minh  có tài năng,  khi cỏn ngồi trên ghế nhà trường.

Tôi nghĩ, Nguyễn Thị Hoàng có thể tự nhủ như thế, khi đặt tay  lên tác phẩm, cảm thấy chữ nghĩa trong từng trang sách đang ngỏ lời tri  ân đối với người đã viết ra , tạo cho chúng cuộc sống vĩnh cửu. Đó là phút giao cảm giữa tác giả và tác phẩm.

9 Ng Thi hoang 3Là nhà văn, nhà thơ, nếu chưa được những giây phút ấy,  thì kể ra là điều đáng tiếc, và nên xem lại, mình đã tạo ra những đứa con tinh thần ấy trong khung cảnh nào ? …

Hình như, tôi vừa mộng du trên trang giấy, đi tìm một Nguyễn Thị Hoàng của ngày xửa, ngày xưa.

Sau 1975, tôi gặp  một Nguyễn Thị Hoàng hơi hơi khác, thậm chí, có lúc tự hỏi, phải chăng đây còn là Nguyễn Thị Hoàng – Hòang Đông Phương ? Trước mặt tôi, là 1 người đàn bà có dáng dấp sang trọng, sành điệu, có đôi nét như mệnh  phụ, phu nhân ? Một Nguyễn Thị Hoàng như thế, thì thật khó gần, và cho đến bây giờ, tuy gặp vài lần, nhưng tựa hồ chẳng hề quen ! Cái cảm giác gìn giữ, khi đọc bài thơ Lạ rứa ! Hình như nó đang luồn lách xa khỏi tiềm thức của tôi. Tôi nhớ có 1 lần, khi  Euro 1982 vừa kết thúc, bình luận về đá banh (lúc ấy chưa dùng từ bóng đá) là mốt – người ta  nói về đá bóng ở bất cứ nơi nào, dễ dàng đi đến chỗ dễ đồng cảm. … tôi nghĩ về Nguyễn Thị Hoàng từa tựa là một trong số ấy !

Tôi gặp bà ở Câu lạc bộ, khi đang ngồi cùng Phong Sơn, trên bàn có bia hơi. Phong Sơn rủ tôi cùng ngồi chung bàn và giới thiệu Nguyễn Thị Hoàng. Trước tôi, khi ấy, Nguyễn Thị Hoàng, với cách trang phục, như cố níu kéo thời gian chậm lại. Bà nói chuyện say sưa về bóng đá, về đội tuyển Pháp, sau khi đoạt chức vô địch Euro 82, nói về thủ môn  J.Bat (…) .

Ngồi đối diện với Nguyễn Thị Hoàng, nghe say sưa nói chuyện bóng đá, ngắm nhìn gương mặt, tôi chợt liên tưởng đến nét quí phái, đài các trong gia đình cự phú. Bỗng dưng, tôi cảm thấy có 1 khoảng cách so với Nguyễn Thị Hoàng …! Tr Blogger 2Người phụ nữ đắm say trong thế giới hình tượng Vòng tay học trò đâu rồi ?! …

Mấy năm sau, cánh cửa văn học hé mở, không khí văn chương nhộn nhịp hẳn lên. Tôi cặm cụi viết, bù lại thời gian đã mất. Nguyễn Thị Hoàng cũng hoàn thành tác phẩm NHẬT KÝ,với độ dày 5, 6 trăm trang?  Nguyễn Thị Hoàng  rất tự tin thành công, như từng thành công trong quá khứ.

Và, NHẬT KÝ đã nhận lãnh ngay hậu quả của chủ quan thô thiển. Nguyên nhân thì nhiều, lịch sử luôn luôn là bài học bổ ích, một bậc thầy luôn luôn công bình, nghiêm khắc !

Lâu rồi, không gặp lại Nguyễn Thị Hoàng. Gần đây, tôi ghé thăm Phong Sơn, lại được nghe anh nhắc tới người đàn bà  đẹp, theo cách gọi riêng tôi. Mới đây thôi, Nguyễn Đạt cho tôi xem  chân dung ảnh Nguyễn Thị Hoàng chụp chung với  Nguyễn Thị Thụy  Vũ… và dĩ nhiên có cả Nguyễn Đạt – tôi mừng, vì nhận thấy trong ảnh, vẫn còn một Nguyễn Thị Hoàng như thuở nào –  nhưng duyên bút nghiên đã lạt phai. Đúng, biết  lẽ nào bỗng dưng tôi thở dài rồi ! (theo Trần Áng Sơn)

Du Tu Le 1TÌM CHÂN DUNG ĐÍCH THỰC

CỦA TÁC GIẢ ‘VÒNG TAY HỌC TRÒ’

– Du Tử Lê

Trong sinh hoạt văn chương miền Nam 20 năm (1955-1975), Nguyễn Thị Hoàng là một trong vài nhà văn nữ, nổi tiếng ngay với tác phẩm văn xuôi đầu tay “Vòng Tay Học Trò.” Nhưng, nếu Nhã Ca (ở lãnh vực văn xuôi) cũng nổi tiếng ngay với truyện vừa “Ðêm Nghe Tiếng Ðại Bác,” lấy bối cảnh sinh hoạt của một gia đình viết về chiến tranh thì, Nguyễn Thị Hoàng lại nổi tiếng khi bà vượt qua vạch phấn cấm kỵ (taboo) của truyền thống đạo đức xã hội Việt Nam, khi viết về lãnh vực tình yêu và, tình dục giữa một cô giáo và học trò của mình, theo xu hướng hiện sinh.

Trong phần giới thiệu ngắn gọn về tiểu sử nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, trang mạng Wikipedia – Tiếng Việt, cũng ghi nhận như sau : “Tác phẩm đầu tay của bà (NTH) có nhan đề Vòng Tay Học Trò dưới bút danh Hoàng Ðông Phương. Ðây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần.”

Tuy nhiên, theo một vài tư liệu hiện có trên Wikipedia thì, bước chân đầu tiên tìm đến với cõi giới văn chương của người nữ văn sĩ này,vốn là thi ca chứ không phải văn xuôi. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho nhà văn Mai Ninh (hiện cư ngụ tại Paris) năm 2003, tác giả “Vòng Tay Học Trò” cũng xác nhận rằng : “… NTH khởi viết, trước tiểu thuyết, bằng thơ (Tạp chí Bách Khoa 1960), và căn chất mãi mãi cũng chỉ là thơ, rất ‘dốt’ và sợ cái gì liên quan đến khoa học…”

Thực tế cũng cho thấy, bà không chỉ làm thơ đăng báo mà, còn có tới hai thi phẩm đã được xuất bản. Ðó là các tập thơ “Sầu Riêng,” XB năm 1960 và “Kiếp Ðam Mê” XB năm 1961. (1)

9 Ng Thi hoang 4Tuy nhiên, cũng khác với Nhã Ca. Nếu tác giả “Ðêm Nghe Tiếng Ðại Bác” gây xôn xao dư luận những người yêu thơ cũng như văn giới ngay tự những bài thơ thứ nhất của bà, đăng tải trên Tạp chí Hiện Ðại của nhà thơ Nguyên Sa thì, dường như thơ Nguyễn Thị Hoàng lại kém may mắn hơn ! Chúng không nhận được sự chào đón hay, chú ý của dư luận quần chúng. Chính vì thế mà số người biết nhà văn Nguyễn Thị Hoàng là một người làm thơ trước khi viết văn không bao nhiêu – Trừ những người có mối quan tâm đặc biệt, muốn tìm hiểu hoặc, nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của bà.

Trong số những người có mối quan tâm đặc biệt tới lộ trình chữ, nghĩa của Nguyễn Thị Hoàng, tôi trộm nghĩ, chúng ta phải kể tới nhà văn Nguyễn Ngọc Chính. Ông là người có nhiều bài viết nhất về tác giả “Vòng Tay Học Trò”. Với loạt bài nằm trong “Hồi Ức Một Ðời Người,” họ Nguyễn đã sưu tập về cõi thơ Nguyễn Thị Hoàng và, ghi nhận :

“…Trước khi nổi tiếng trong nhóm nhà văn nữ trước 1975, Nguyễn Thị Hoàng là một nhà thơ của xứ Huế với hai tập thơ Sầu Riêng (1960) và Sau Phút Ðam Mê (1961). (2) Nổi bật hơn cả là bài thơ Chi lạ rứa với 40 câu thơ mang đặc những ngôn từ của miền Trung như chi lạ rứa, bởi vì răng, bên ni bờ, đau chi mô, hiểu chi mô (…).

“Những vần lục bát là thế mạnh trong thơ Nguyễn Thị Hoàng với những câu thơ rất da diết nhưng cũng rất tự nhiên như văn viết :

Ng Ngoc ChinhEm mười sáu tuổi tơ măng

Thịt da đốt cháy thiên đường tình yêu

Trong cơn chăn gối rã rời

Im nghe từng chuyến xe đời đi qua

Ðường về không nhịp trùng lai

Chúa ơi con sợ… ngày mai một mình

Nhìn lên thành phố không đèn

Âm u còn một màn đêm cuối cùng

Mắt sâu dòng lệ ngập ngừng

Mình xa nhau đến muôn trùng thời gian

O hue 2Lênh đênh tiếng hát kinh cầu

Ăn năn cổ thụ cúi đầu ngẩn ngơ

Trên cao tháp cũ nhà thờ

Hồi chuông tưởng niệm bây giờ còn vang

“Lối gieo vần trong thơ 8 chữ cũng là một thể nghiệm mới lạ của nhà thơ nữ :

Em đợi anh về những chiều thứ bẩy

Hiu hắt vòm trời buổi sáng thứ hai

Nhạc dạo mơ hồ trong tiếng mưa bay

Thành phố ngủ quên những ngày chủ nhật

9 O hue 2Cho em xin một chiều vui thứ bẩy

Có nhạc phòng trà có lá me bay

Tiếng gió reo vui đêm dài xa lộ

Nửa cuộc đời còn khoác kín vòng tay

“Và cuối cùng là những vần thơ 5 chữ trong bài Lời Rêu:

9 Ng Thi hoang 5Uống cùng nhau một giọt,

Ðắng cay nào chia đôi

Chung một niềm đơn độc,

Riêng môi đời phai phôi.

Say giùm nhau một giọt!

Chút nồng thơm cuối đời.

Vướng giùm nhau sợi tóc,

Ràng buộc trời sinh đôi. (…)

Và người thứ hai, theo tôi, là nhà văn Trần Áng Sơn. Trong bài viết nhan đề “Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng – Người đàn bà đẹp”, họ Trần kể, vào thời điểm tháng 4/2002, khi ông viết bài đó, trong tay ông “… không có 1 tác phẩm nào, như một tài liệu, để gọi nói có sách, mách có chứng. Nhưng, vì quá yêu ngòi bút của bà, khởi đi từ chi tiết rất xa xăm – bài thơ Lạ Rứa ! – do 1 người bạn ở Huế chép tặng 1957- tôi thực hiện cuộc trở về trong sương mù, viết bằng ký ức, cảm xúc. Cũng rất có thể, tôi bị lạc lối, nhưng tấm lòng dành cho bài thơ Lạ Rứa ! vẫn như 3 O Hue 3xưa…” (2)

Tuy chỉ với vài bài thơ do hai tác giả Nguyễn Ngọc Chính và Trần Áng Sơn ghi lại, nhưng cũng đã có một số người tự hỏi, nếu không xẩy ra cuộc tình nhiều tai tiếng giữa tác giả Nguyễn Thị Hoàng và câu học trò tên Mai Tiến Thành và (vẫn nếu), họ Hoàng không viết lại thành truyện thì không biết hôm nay, người đọc sẽ có một Nguyễn Thị Hoàng thi sĩ hay, Nguyễn Thị Hoàng văn sĩ ? Nhất là khi bà từng nhấn mạnh, với bà, trước sau, căn bản vẫn là thi ca ?

Chú thích:

(1) Nđd. Về nhan đề của tập thơ thứ hai, theo tư liệu của nhà văn Nguyễn Ngọc Chính thì lại có tên là “Sau Phút Ðam Mê”. (2) Nđd.

Xin giới thiệu một số bài thơ có âm hưởng giọng Huế khác. Mời click chuột vào các đường links sau để xem :

2 O hue 1Qua mấy ngõ hoa (Thơ Mường Mán)

Chia hai màu chiều (của Lâm Anh)

Gái Huế (Thơ Đặng Lệ Khánh)

Thơ Đinh Thu

Có răng…rồi mới rứa (của T.K)

Tạm Biệt ( Thơ Thu Bồn )

Đây Thôn Vĩ Dạ

Gặp một người nghi rất Huế (Thơ Luân Hoán)

Rất Huế (Thơ Huỳnh Văn Dung)

Nghiêng nón (Thơ Trần Quang Long )

Huế – Xuân – Em ( Thơ Phạm Ngọc )

Huế Buồn Chi ( Thơ Hoàng Xuân Sơn )

O hue 3Mưa Huế ( Thơ Khuê Việt Trường )

Chiếc Nón Bài Thơ Chưa Có Bài Thơ (thơ Nguyễn Thái Dương)

Đồng Khánh – Huyền Trân xưa ( Trần Kiêm Đoàn)

Mắt Huế ( Thơ Trần Dzạ Lữ)

Huế ( Thơ Vương Tuyết Mai)

Nét Huế (Thơ Huỳnh Dung)

Huế mơ ( Thơ Huỳnh văn Dung)

Nhớ bạn (Thơ Nguyễn Duy)

O quai nón tím ( Thơ Phan Thị Ngôn Ngữ)

giọng Huế ( Thơ Tô kiều Ngân )

Hue 4ĐỒNG KHÁNH NGÀY XƯA

Răng mà cứ theo tui hoài rứa

Cái ông ni mới dị chưa tề

Sớm trưa chiều ba bữa đi về

Đưa với đón làm chi không biết

Ôi đôi mắt chi mà tha thiết

Đừng có nhìn làm loạn bước tui đi

Lá thư tình ông gửi làm chi

Cha mạ biết rầy la tui chết

Ông tán tỉnh làm chi không biết

Tui như ma như quỷ dưới âm ty

Nói hoài lời hoa mỹ làm chi

Tui còn nhỏ chuyện tình răng biết được

Tội tui lắm cách cho vài bước

Đừng đi gần hai bước song đôi

9 Cau Hue 1Xa xa cho kẻo bạn tui cười

Mai vô lớp cả trường dị nghị

Theo chi rứa răng mà không biết dị

Thôi được rồi đưa lá thư đây

Mai tan trường đợi ở gốc cây

Tui sẽ tới trả lời cho biết

Bài thơ ni có tràn trên mạng, đa số đều ghi thiếu câu đầu của khổ cuối : Theo chi rứa răng mà không biết dị (Đây cũng chính là “linh hồn” của bài thơ, đủ ba chữ RĂNG, RỨA, DỊ). Tên tác giả họ cũng ghi lung tung:nào là Sơn Nữ,Nga My, Mường Mán, Võ Đình, Lưu Trần Nguyễn…

Yên Huỳnh tổng hợp – chuyển tiếp

Tr Thu thuat

%d bloggers like this: