ĐỒNG VỌNG BOLÉRO

Logo vannghe A

Tr dan ong 3ĐỒNG VỌNG BOLÉRO

- Nguyễn Hùng

Nếu lấy mốc đầu những năm 50 thế kỷ trước đánh dấu điệu bolero du nhập vào Việt Nam, thì đến nay đã ngót sáu thập niên. Dầu có những biến đổi thăng trầm theo thời cuộc và nhân tâm; nhưng không thể không thừa nhận rằng Bolero đã góp phần làm nên diện mạo của nền tân nhạc Việt Nam.

Một thời hoàng kim

Cho đến nay, người ta còn chưa biết đích xác điệu nhạc bolero du nhập Việt Nam vào năm nào và bản bolero đầu tiên do ai sáng tác; chỉ biết đó là lúc phong trào tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhiều nhạc sĩ  sử dụng nhạc điệu phương tây thay cho nhạc điệu phương đông truyền thống. Hòa vào trào lưu phơi phới của các ca khúc lời ta điệu tây ấy, nhiều ca khúc bolero đồng loạt ra đời, và từ thập niên 1960 về sau nó nhanh chóng đạt đến đỉnh cao cả về số lượng tác phẩm lẫn sự mến mộ trong công chúng.

9 Bolero 3Các nhạc sĩ tiêu biểu cho dòng nhạc này như : Anh Bằng, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Trúc phương, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Song Ngọc, Trần Thiện Thanh, Thanh Sơn, Vĩnh Sử, Trịnh Lâm Ngân, Hàn Châu .v.v…

Trả lời cho câu hỏi vì sao dòng nhạc này nhanh chóng chiếm lĩnh được số đông công chúng đến như vậy, mỗi người có một cách lý giải riêng. Tuy nhiên, hầu hết đều thống nhất ở chỗ bolero mang giai điệu bình dân, đơn giản và trữ tình nên dễ đi vào lòng người. Nó chạm tới hoàn cảnh của số đông người nghe, tạo cho họ một khoảng lặng như được an ủi, vỗ về bởi những đồng cảm rất sâu và rất thực.

Từ những bản hoan ca, tụng ca mang âm hưởng đồng quê (Xóm đêm – Phạm Đình Chương, Gạo trắng trăng thanh – Hoàng Thi thơ, Khúc ca ngày mùa – Lam Phương, Lối về xóm nhỏ - Trịnh Hưng, Nắng lên xóm nghèo – Phạm Thế Mỹ, Thương về miền Trung, Ai ra xứ Huế - Duy Khánh .v.v…) mà người nghe như được thấy quê hương Việt Nam đang “nối vòng tay lớn”; đến những bản tự sự trữ tình (Hàn Mặc Tử - Trần Thiện Thanh, Những đồi hoa sim – Dũng Chinh, Chuyện tình Lan và Điệp – Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh .v.v…); 9 Bolero 2hay những bản nhạc hoài niệm về ngày tháng cũ, về thân phận cô đơn và chia ly (Đường xưa lối cũ – Hoàng Thi Thơ, Nắng chiều – Lưu Trọng Nguyễn, Xin thời gian qua mau – Lam Phương, Buồn trong kỷ niệm – Trúc Phương, Hoa mười giờ - Đài Phương Trang, Áo em chưa mặc một lần – Hoài Linh, Yêu một mình – Trịnh Lâm Ngân, Nếu anh đừng hẹn – Lê Dinh – Dạ Cầm .v.v…) là những vần điệu tình tứ và riêng tư về cuộc đời dâu bể đa đoan, về lẽ hợp tan… dìu  người nghe vào tận ngút ngàn  nỗi buồn nhân thế nhưng lại không quá bi lụy hay đẩy cao oán hờn. Ở tận đáy sâu thăm thẳm ấy, người hát bolero như đang hát về hoàn cảnh, tâm sự của mình và người nghe cảm thấy như lòng mình được xoa dịu bằng những nỗi buồn ngọt ngào để ấp ủ những khát vọng hồi sinh, đưa niềm vui về trở lại với  cuộc đời.

Cũng cần nói thêm rằng có bao nhiêu ca khúc bolero là có bấy nhiêu câu chuyện hoàn chỉnh được viết bởi thứ ngôn ngữ rõ ràng, giản dị, mộc mạc nhưng chính đó là ngôn ngữ gần gủi, là thứ duyên ngầm gắn bó với quê cha, đất tổ, với bờ tre ruộng lúa, với tình làng, nghĩa xóm… Điều đó cùng với giai điệu mượt mà như đã nói làm tăng thêm sự ái mộ của công chúng 9 Bolero 1- nhất là tầng lớp bình dân chiếm đa số – qua các dọng ca Hà Thanh, Hoàng Oanh, Kim Loan, Thanh Tuyền, Duy Khánh, Nhật Trường, Trung Chỉnh, Phương Đại, Giao Linh, Hương Lan v.v.

Lại tìm những lối đoạn trường mà đi

Từ sau 1975, có người cho rằng “nhạc vàng” đã chết trong không khí hân hoan mới, bời cơ sở của nó là sự bất lực và bế tắc, thậm chí hoảng hốt của giai cấp tư sản đứng trước cơn lốc quay cuồng của đồng tiền, lợi nhuận, trong một thực trạng xã hội do chính họ xây dựng nên. Đây cũng là dấu mốc thời kỳ “thoái trào” của bolero.

Về “lý luận” người ta cho rằng Bolero là thứ nhạc vàng vọt “lảng tránh những đề tài nóng hổi của thời đại”, chỉ rền rỉ về “cái quá khứ vàng son hoặc nếu chưa thật là vàng là son thì cũng được sơn son thếp vàng bằng nỗi niềm nuối tiếc về quá khứ”, nguy hại của nó là “đã dẫn đưa con người về với quá khứ được thi vị hóa để ru người ta ngủ ngon trong cái thế giới lung linh ảo mộng”. Elvis PhuongDo vậy, “xã hội đang đào huyệt chôn nó”, “nó đang trên con đường đi tới nghĩa địa”, nó là “những âm thanh của một thời “oanh” nhưng nay đã “liệt”. Thế là một bộ phận không ngại ngần dè bĩu, rẻ rúng và cho đó là thứ nhạc nũng nịu, vòi vĩnh, hoặc ai oán, trách móc, hờn dỗi đã quê mùa.

Mặc dầu trong một thời gian dài gần như trên các sân khấu ca nhạc, các phương tiện phát thanh- truyền hình, các ấn phẩm âm nhạc… vắng bóng nhạc phẩm bolero; mặc dầu phải trải qua nhiều thời điểm gian truân nhưng bolero chưa bao giờ chết. Vẫn là cái giai điệu êm ái, du dương muôn thuở, vẫn là nhịp điệu chách chách… chách bùm chách chậm rãi, khoan thai; bolero sống âm ỉ nhưng dữ dội bằng cách len lỏi vào cuộc đời con người trong mọi tình huống. Hát mừng tân hôn đôi vợ chồng trẻ, hát vui họp mặt bạn bè, hát tiễn người thân lên đường đi xa thậm chí là đi vào quân ngũ .v.v… không hề thiếu giai điệu bolero.

Trong những nỗi “đoạn trường” ấy, sân khấu ca nhạc được đạo diễn, dàn dựng hẳn hoi thì vắng bặt bolero, nhưng ở sân chơi cuộc đời luôn có bolero son sắt như hình với bóng. Sức sống ấy làm cho những ai từng dè bĩu bolero có khi phải giật mình và sửng sốt bởi đồng vọng rất mênh mông của nó.

Bolero không còn tội nghiệp

Ở vào giai đoạn “thoái trào” của bolero, khi viết về số phận những bài ca mang giai điệu này có người vì quá “yêu” mà cảm thán “Tội nghiệp Bolero!” (*). Nhưng dầu có đợi chờ lâu thì cũng đến ngày “tan sương đầu ngõ vén mây cuối trời” (Truyện Kiều), bằng chính “chất liệu” còn cần cho đời sống, bolero đã trở lại với công chúng ái mộ.

9 Bolero 4

Không khó để nhận thấy rằng trong vài năm gần đây bolero đã tạo ra một làn sóng trên internet. Các báo, các trang mạng, diễn đàn … đăng tải rất nhiều bài viết, ý kiến đồng cảm hoặc là “chiêu tuyết” cho dòng nhạc này. Còn trong đời sống thì người hát, người nghe trở lại với bolero ngày càng đông. Nhiều câu lạc bộ bolero ra đời, hầu như ở địa phương nào cũng có; quy mô nhất phải kể đến hai câu lạc bộ bolero ở Sài Gòn và Cần Thơ. Ở đây ngoài những người bình thường còn quy tụ rất nhiều trí thức, doanh nhân, công chức v.v…

9 Bolero 5Khi đã có công chúng, dĩ nhiên sẽ có “sân chơi” và thị trường phục vụ. Từ các quán cà phê, quán bar, phòng trà “tiết điệu bolero”, đến những chương trình ca nhạc tầm cỡ đã dành cho bolero những không gian trang trọng để đưa cảm xúc con người hòa vào cuộc sống. Trong giới ca sĩ chuyên nghiệp gắn bó với bolero, ngoài những “dọng ca dĩ vãng” một thời vang bóng như Hương Lan, Giao Linh, Duy Quang, Evis Phương … nay có điều kiện quay trở lại với ánh đèn sân khấu phục vụ khán giả trong nước còn có những ca sĩ thành danh sau này như Quang Linh, Quang Dũng, Ngọc Sơn, Phi Nhung, Đan Lê … Và, khi dòng nhạc trẻ đang loay hoay mà chưa thể định hình bởi giai điệu và lời ca na ná, ai cũng viết được, thì nhiều dọng ca mang “thương hiệu” của nhạc trẻ một thời như Phương Thanh, Lệ Quyên, Đan Trường … đã quay sang thử sức và “bén duyên” với bolero.

Sự quy tụ của các thế hệ ca sĩ đã mang lại cho bolero một luồng gió mới. Dĩ nhiên là cái hồn cốt thuần Việt trong ca từ, trong giai điệu (đã được các thế hệ nhạc sĩ dày công Việt hóa) vẫn được gìn giữ, nhưng bolero đã được cách tân bằng một SG Mai Tr Tin 3ít chất kỹ thuật trong giọng ca mà vẫn sáng rõ, mượt mà, vừa ý người nghe khó tính.

Vậy là sau những truân chuyên như số phận nàng Kiều, “trời còn để có hôm nay” – bolero thực sự đã có cuộc “đoàn viên” xúc động với công chúng, trọn vẹn như chính nó một thời.

Chú thích: (*) Tội nghiệp Bolero! là tiêu đề một bài viết và cũng là tên tập sách của một tác giả xuất bản năm 2005) (theo Nguyễn Hùng)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

- Xem thêm trên blog “Cà phê văn nghệ” vào ngày 1/9/2011. Xin bấm vào đường link : Luận bàn về ‘nhạc sến”

9 Pqris 1PARIS CÓ GÌ LẠ

KHÔNG EM ?

- Nguyễn thị Cỏ May

Tuần này, Cỏ May xin mượn lại cái tít của mục hằng tuần “Paris có gì lạ không em ?” để làm tít cho Thư Paris. Paris đẹp muôn thuở. Paris cổ kính nhưng tình tứ và lảng mạn. Hằng năm, có nhiều chục triệu du khách tới thăm viếng Paris cho thỏa lòng ngưởng mộ. Thường có khi người ngoại quốc lại biết Paris nhiều hơn người dân paris . Điều này đúng bởi có không ít người Pháp ở trong lòng Paris hay ngay sát Paris đã hơn năm mươi năm mà vẫn chưa biết tháp Eiffel !

Cỏ May có lẻ là một trong số những người sống cạnh Paris từ khá lâu mà vẫn còn lắm ngở ngàng với Paris . Những người có kinh nghiệm giao thiệp thường khuyên khi hỏi tìm tên đường của một thành phố mình vừa tới, nên tìm hỏi thăm người ngoại quốc . Hay nhứt là tìm hỏi thăm người da đen là ăn chắc.

Một hôm ngồi trên xe điện Paris, cầm tờ báo ngày loại phát không như báo Việt ở Mỹ để ở tiệm phở dành cho khách ăn phở, do một hành khách đọc xong bỏ lại, liếc mắt qua. Bổng Cỏ May dừng lại ở một bài phóng sự ngắn tựa bằng anh ngữ “Wall of Love” với nhiều hình ảnh minh họa. 3 Thap Eiffel 1Vội đọc qua để biết bức tường ấy ở đâu ? Biết rỏ chổ có Bức tường Tình yêu đó, hôm sau, Cỏ May bèn tới để xem cho biết thực tế như thế nào .

Café “Chào Bà”

Tiệm Café “Chào Bà” tọa lạc tại số 22 trên Đại lộ Clichy, trước Métro Pigalle, thuộc Paris XVIII. Cơ sở này có từ lâu lắm. Khi tới Paris vào cuối thập niên 70, Cỏ May đã nghe nói và có vài lần đi ngang qua nhưng chưa vào. Bởi dáng vẻ rất bề thế của một nhà hàng café sang trọng. Mặt tiền màu đỏ vua chúa. Bên trong bàn ghế sang trọng, cách xếp đặt cổ kính và trưởng giả. Không dám bước chơn vào tuy bị thu hút bởi tên việt nam vì Cỏ May mặc cảm mặt mày còn dính phèn của đồng ruộng miền nước măn.

Lúc này, tính hiếu kỳ nổidậy, muốn tới xem qua cho biết . Rủ bạn cùng đi cho có bạn vì đây là khu phố đầy rẩy sex shop, bài ba lá, móc túi, dập dìu dân đen, á-rập, … sẳn sàng dao búa.

Một buổi trưa năm 1990, bà “chị em” khách hàng quen thuộc, như thường lệ, tới uống café vừa xem TV theo dõi biến cố Đông Âu, tay vẫn mân mê bức tượng bác. Bổng bác ngã xuống bể nát. Không biết phải vì cử chỉ vụng về của bà “chị em” hay vì bác cảm động, chịu không nổi, mà ngã xuống ?  Từ đó, nhà hàng không thay bức tượng khác. Có lẽ vì cái thời thượng không còn nữa . Cả Liên-sô và Đông âu còn bổng chốc sụp đổ sạch trơn. Lớp người chạy theo thời thượng cũng đã già nua cả và nhứt là đã biết mình đã từng ngu muội một thời !.

3 Eiffel 3Hôm rồi, mục tiêu chủ yếu của Cỏ May là đi xem bức tường “Anh yêu em” (Le mur des Je t’aime) ở Métro Abbesse, trên đồi Montmartre. Vô tình xuống Métro Pigalle, chợt nhớ lại café “Chào Bà”, Cỏ May muốn vào một lần cho biết. Không phải vì hôm nay, mặt hết phèn nước mặn, mà thật lòng muốn ghi lại vài chi tiết về nơi đây để giới thiệu bạn đọc“Paris có gì lạ không em ?”.

Nhớ vị trí của café “Chào Bà”phải ở đây, nhưng không thấy hai chữ “Chào Bà” thật lớn, nổi bật trước mặt tiền cửa hàng. Đi dọc theo Đại lộ, qua lại vài ba lượt để tìm. Sau cùng, đành tìm người lớn tuổi ở khu phố hỏi thăm. Cỏ May bèn chận một bà đầm đang dẩn chó đi dạo giửa Đại lộ là lối đi dành cho người đi bộ và ghế đá ngồi nghỉ chơn, hỏi nhờ chỉ giúp café “Chào Bà”. Bà đầm chỉ đúng café trước Métro Pigalle như Cỏ May nhớ .

Cảm ơn bà đầm, Cỏ May bước thẳng vào tiệm, tiến tới quầy hàng, gọi một cái expresso. Cô chiêu đải trẻ, người gốc dân đảo, đem tới tách café đen. Cỏ May hỏi cô có phải trước kia nơi đây đúng là tiệm café “Chào Bà ? Cô đầm  trẻ xác nhận đúng nhưng từ tháng 10/2013, tiệm đã đổi chủ nên chủ mới gở bỏ tên củ. Cô hàng mời Cỏ May lên lầu xem “bảo tàng của Chào Bà”. Quả thật, trên lầu, chủ nhơn giử lại những kỷ niệm của cửa hàng. Ghế mây chân thấp bọc nệm, xếp đặt rộng rải. Chung quanh tường lót gương với nhiều hình ảnh tài tử, ca sĩ, vũ nữ một thời vang bóng .

9 Pqris 4Tại sao giửa Paris lại có một tiệm café nhà hàng ăn (Café Restaurant) mang tên hoàn toàn Việt Nam như vậy ? Chính đó là lý do thu hút sự chú ý của không ít người Việt khi tới Paris và cả du khách ngoại quốc bởi khu Montmartre vốn là khu du hí. Đi xa qua khỏi “Chào Bà” vài mươi thước là “Moulin Rouge” nổi tiếng từ thập niên 50 với điệu vũ tung bùng rền “Frenk Cancan”.. .

Café “Chào Bà” do 4 người bạn say mê Á châu lập ra. Chọn danh hiệu “Chào Bà” vì cả 4 người đều mê Việt Nam. Bên trong tiệm thật sự là một nơi ấm cúng, xa cách cái ồn ào, xô bồ bên ngoài đường .

Ngày nay, vẫn còn một ít khách hàng quen thuộc lớn tuổi thường lui tới hoặc ăn trưa, ăn tối, hoặc chỉ uống tách café, ngồi trầm lặng hằng giờ đọc sách, báo. Ngăn cách những dảy bàn là những kệ sách báo dành cho khách hàng. Trên tường cũng đầy kệ sách. Lúc trời lạnh, người ta có thể vào đây ngồi đọc sách từ sáng cho tới tối về ngủ, tiết kiệm sưởi ở nhà.

Đồi Montmartre và Bức tường “Anh yêu em”

Đồi Montmartre là một danh lam thắng cảnh của phía bắc Paris. Trên đồi có ngôi nhà thờ Sacré-Coeur cổ kính. Từ đây, người ta có thể nhìn bao quát Paris. Bên cạnh là “chợ nghệ thuật”.Nói “chợ nghệ thuật” vì đây là một diên tích trống khá rộng lộ thiên, họa sĩ, nhiếp ảnh, cằt hình, nặn tượng tập trung, mỗi người chiếm một khoảnh nhỏ vừa đủ để đồ nghề như giá vẻ, kệ hàng,… Khách nhờ vẻ, nắn tượng chân dung, chụp ảnh nghệ thuật,… Những nghệ sĩ này phần lớn là sinh viên, sau vài năm học ở trường, ra đây tập sự. Rồi theo thời gian và cuộc sống khó khăn, một số người không trở lại trường nữa.

Trong những nghệ sĩ này, có vài người Việt Nam. Cỏ May có quen một người đã tốt nghiệp Trường Beaux-Arts Paris (Mỹ Nghệ Paris) cũng ra đây vẻ chân dung. Anh để tóc dài thắt cái bím sau lưng.  Vẽ là để kiếm sống qua ngày. Cái “ưu tư” hay “đam mê” của anh là Triết lý Đông phương. 9 Pqris 5Mỗi khi gặp anh, cả lúc đang vẻ, đều muốn bạn lắng  nghe anh nói Triết lý…Nhất Âm, nhất Dương chi vị đạo”. Cỏ May chỉ còn nhớ mấy chữ đó để nhớ lại anh. Ngày nay nghe tin anh về Sài gòn sống tiếp tuổi già .

Đồi Montmartre thât sự là khung cảnh của đời sống nghệ thuật. Nhưng ít người biết phía sau nhà thờ Sacré-Coeur có một vườn nho 1700m2 trồng nho làm rượu từ năm 1935. Hằng năm sản xuất lối 2000 chai rượi nho loại 50cl, bán vào dịp lễ hội Mùa gặt, còn gọi với một cái tên nên thơ hơn là “Lễ Hội Gặt hái Tình yêu” do Thị xã Paris XVIII tổ chức. Đây là biến cố thứ ba của Paris tổ chức được đông đảo người tham dự (400 000 người), sau “Đêm Trắng Paris”“Paris bải biển mùa hè”. Tiền bán rượu chuyển vào Quỉ Văn hóa Xã hội của Quận XVIII Paris.

Biết mình đã đi lạc, Cỏ May vội tìm tới Bức Tường “Anh yêu em – Le Mur des Je t’aime”. Ra khỏi Métro Abbesse, trước mặt, phía bên kia đường là Công viên Jehan Ristuc. Thấy du khách tấp nập đang vào Công viên, Cỏ May nghĩ chắc bức tường ở trong đó nên Cỏ May vội băng qua đường, đi theo đoàn du khách ngoại quốc. 9 Pqris 6Quả thật vừa tới cổng Công viên thì có một đoàn du khách khác tập họp trước một tấm bảng đá xanh đậm rất lớn gắn trên tường của hông tòa nhà. Họ đang đưa mắt cùng nhìn chắm chú vào bức tường.

Đúng đó là Bức tường “Anh yêu em”, một tác phẩm nghệ thuật của nghệ sĩ Frédéric Baron thực hiện năm 2000, nay đã thật sự trở thành một chứng tích vinh danh tình yêu toàn thế giới. Còn gì đẹp hơn, xứng đáng hơn cho Paris, Thủ đô của Tình yêu, của Văn chưong và của Nghệ thuật lảng mạn ?

Chẳng những Bức tường “Anh yêu em” là một tác phẩm nghệ thuật, mà nó còn là một kết tinh nổ lực của Frédéric Baron đi suốt thời gian dài tìm gặp những sắc dân khác nhau để thu lượm 1500 câu “Anh yêu em ”, sàng lọc và đối chiếu để còn lại 311 câu, do nghệ sĩ Claire Kito viết lại bằng 280 loại chữ viết khác nhau, cả thổ ngữ, lên bức tường đá mài nhẳng thính, diện tích 40 m2. 9 Pqris 2Mỗi câu thề “Anh yêu em” nằm gọn trong một ô chữ nhựt 21x 27,9 cm. Trên mặt phẳng xanh đậm của bức tường, người xem thấy hiện ra rải rác những vết đỏ thắm như những chiếc lá úa mùa thu. Theo sự tưởng tượng của nghệ sĩ, đó là những mảnh vở của những con tim đau khổ vì tình yêu sụp đổ !

Cỏ May đứng gần lại bức tường để tìm cho được câu “Anh yêu em” bằng tiếng Việt. Không ngờ câu ấy lại chiếm ô thứ nhứt, trên cùng, bên trái bức tường. Đứng đầu bảng vì mẫu tự A hay vì người đàn ông (Anh) Việt Nam đa tình hơn những dân tộc khác ?

Mà xưa nay, có người học trò trai nào không khắc lên bàn viết bằng mủi dao tên của người yêu đầu đời của mình ? Một cậu trai trẻ khác lại không khắc lên tường gạch của khu phố câu “Anh yêu em” ? Chẳng những khắc tên người yêu hay câu “Anh yêu em” lên tường, lên bàn viết hay thân cây trong công viên, những người yêu nhau ngày nay khắc tên nhau lên ông khóa HNg Huynh V. Yen 3đem khóa vào hàng rào kẻm của cầu Pont des Arts ở Paris rồi ôm nhau hôn, cùng liệng chìa khòa xuống sông Seine để thề nguyền tình yêu không bao giờ tan vở !

Mỗi năm, những người yêu nhau chỉ có một Ngày Tình yêu. Nay mọi người có Bức tường “Anh yêu em” để hẹn nhau suốt năm dài. Để Paris vẫn là Thủ đô Tình yêu của cả thế giới ! (theo Nguyễn thị Cỏ May)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo nhan vat

9 Charlot 1“VUA HỀ SÁC-LÔ” CHIA TAY

VỚI… 2.000 NGƯỜI TÌNH

Sinh thời, Charlie Chaplin là một trong những “gã đào hoa” nhất Hollywood, chính ông từng thú nhận đã qua lại với hơn 2.000 phụ nữ. Nhưng vì sao ông luôn chia tay họ?

Tuổi thơ bi kịch và “di chứng” ở tuổi trưởng thành

Khi mới ngoài 20 tuổi, Chaplin đã là một hiện tượng thành công “khủng khiếp”, là gương mặt nghệ sĩ hài nổi tiếng khắp thế giới. Thực tế, Chaplin không phải một người đàn ông cao lớn, có thể nói là hơi thấp, đầu ông khá to so với thân người nhỏ gầy.

Tuy vậy, Chaplin là một người đàn ông ưa nhìn với đôi mắt xanh sâu thẳm, mái tóc xoăn đen, hàm răng trắng bóng, đôi môi quyến rũ…

Chaplin có thể chiếm được trái tim phụ nữ một cách dễ dàng, ông cũng chia tay họ bất cứ khi nào ông muốn. Khi trả lời phỏng vấn trên tờ Vanity Fair năm 1926, người ta hỏi đối với ông thế nào là một người tình lý tưởng, Chaplin trả lời : “Đó là người mà tôi không thực sự yêu nhưng cô ấy thì chết mê chết mệt tôi”.

Chaplin không bao giờ đặt lòng tin vào phụ nữ. Ông luôn sợ sự mất mát và phản bội, ông là một người dễ bị khiêu khích và cũng dễ bị tổn thương, thường nổi cơn ghen chỉ vì những lý do rất nhỏ.

9 Charlot 2Sự phức tạp trong tính cách của Chaplin đã được phản ánh trong những bộ phim của ông. Trong các vai diễn của mình, Chaplin thường tỏ ra bẽn lẽn, rụt rè trước những phụ nữ đứng đắn, ông tiếp cận họ rất ngập ngừng, đầy thăm dò. Đối với những phụ nữ “dễ dãi”, nhân vật của Chaplin có cách ứng xử khiếm nhã và táo tợn, thường dùng gậy để… kéo cổ hoặc kéo chân cô gái lại gần.

Đạo diễn Mack Sennett, người từng hợp tác với Chaplin cho rằng Chaplin là “một người đàn ông bé nhỏ và nhút nhát, luôn bối rối, lúng túng vì đủ chuyện trên đời”.

Thuở mới vào nghề, không ai đặt nhiều kỳ vọng vào Chaplin, không ai nghĩ ông sẽ thành công, nhưng rồi ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa nổi tiếng, được yêu thích ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Trên màn ảnh, Chaplin là “vua hề”. Trong tình trường, Chaplin là “vua tình ái” nhưng cách mà ông đối xử với các người tình chắc chắn từng khiến vô số cô gái cảm thấy kinh hoàng.

Charlie Chaplin sinh tháng 4/1889. Mẹ của ông vốn là một ca sĩ – bà Hannah Chaplin. Trước khi kết hôn với ông Charles Chaplin, bà đã có một cậu con trai ngoài hôn thú. Sau khi lấy chồng, 9 Charlot 3bà vẫn tiếp tục những mối quan hệ ngoài luồng và sinh ra Charlie Chaplin. Dù chồng bà cho cậu bé được mang họ mình nhưng chỉ một năm sau, ông rời bỏ gia đình.

Mẹ con Charlie rơi vào cảnh cùng quẫn. Bà Hannah phải kiếm sống nuôi con bằng đủ nghề. Có những giai đoạn nghèo khó nhất, 3 mẹ con đã phải sống vất vưởng ngoài hè phố.

Nói về tuổi thơ mình, Charlie Chaplin chia sẻ: “Nếu ai muốn đong đếm hàm lượng đạo đức trong gia đình tôi bằng cách đem áp dụng những chuẩn mực thông thường, điều đó sẽ sai lầm giống như đem nhiệt kế nhúng vào nồi nước sôi”.

Tuổi thơ của Chaplin bị ông coi như đã kết thúc từ năm lên 7, khi đó, ông phải vào trại tế bần, bị mẹ bỏ rơi. Thực tế, đây là cú sốc mà không bao giờ Charlie có thể vượt qua được: “Tôi hầu như chẳng bao giờ biết thế nào là khủng hoảng bởi tôi đã luôn sống trong khủng hoảng từ khi còn là một cậu bé. Tôi tự cho phép mình thoát ra khỏi mọi rắc rối bằng cách lãng quên chúng”.

Đời sống tình cảm đầy sóng gió

Có lần, Charlie Chaplin đăng một mẩu quảng cáo trên báo rằng : “Cần tìm cô gái xinh đẹp nhất California tham gia một bộ phim cảm động”. Edna Purviance chính là cô gái được lựa chọn. Edna là một cô gái ít đòi hỏi, sống khiêm tốn và luôn biết cách chịu đựng sự lo lắng, bất an cùng những trạng thái cảm xúc khó đoán của Chaplin. Họ dần trở nên gần gũi, yêu nhau và thậm chí còn chuẩn bị cưới.

Charlie Chaplin và nữ diễn viên Edna Purviance trong phim “The Bond” (1918). Charlie gặp Edna năm 1915, khi đó, cô 19 còn Chaplin 25. Edna chưa hề có kinh nghiệm diễn xuất. 9 Charlot 4Đối với Chaplin, đó là điều tuyệt vời nhất, bởi ông sẽ có thể “nhào nặn đất sét thành bất cứ hình thù nào mong muốn”.

Nhưng rồi sự nghiệp của Charlie lên như pháo thăng thiên, ông say mê công việc và dành chọn tâm sức cho công việc. Trên phim trường, mỗi cảnh quay Charlie đều yêu cầu tập đi tập lại tới 50 lần, quay đi quay lại 20 lần và sau đó ngồi lì trong phòng biên tập. Edna bị lãng quên.

Sau đó, Chaplin gặp nữ diễn viên 16 tuổi Mildred Harris tại một bữa tiệc năm 1918. Lúc này, Chaplin 29 tuổi, đã là nam diễn viên giàu có bậc nhất Hollywood. Ông thường gửi hoa hồng đến tặng Mildred và kiên nhẫn ngồi trong xe đợi cô hàng giờ, họ nhanh chóng trở thành một cặp.

Khi Mildred cho Chaplin biết cô đã mang thai, đó là một tin kinh hoàng đối với ông. Nhưng để tránh lùm xùm, họ đã tổ chức một lễ cưới giản dị. Hóa ra Mildred đã “bẫy” Chaplin và cô không hề mang thai. Mưu đồ này đã khiến cuộc sống hôn nhân của cô trở thành địa ngục kinh hoàng. Chaplin lúc thì buồn rầu lúc lại cáu gắt.

Mildred đã có lúc suy sụp đến phải nhập viện vì thường xuyên lo lắng. Thế rồi cô cũng mang thai khi Chaplin đã bắt đầu ngoại tình, hoàn toàn lãng quên vợ. Con trai của họ qua đời sau 3 ngày lọt lòng mẹ. Sự việc khiến cuộc hôn nhân không thể cứu vãn. Họ chia tay năm 1920.

Mildred là người đâm đơn ra tòa, cô cũng là người đầu tiên hé lộ cho công chúng biết về sự thật cuộc sống đằng sau màn ảnh của “vua hề”. Sự việc này là một vết thương lớn đối với lòng tự tôn và phong cách sống kín đáo của Chaplin.

Sau cuộc hôn nhân thất bại, Chaplin hẹn hò với vô số diễn viên Hollywood. Khi làm phim “The Pilgrim” (1923), ông qua lại với Peggy Hopkins Joyce. Chaplin ước tính trong suốt cuộc đời, ông đã có quan hệ với hơn 2.000 phụ nữ.

9 Charlot 5Mối tình với nữ diễn viên 15 tuổi Lita Grey cũng là một bi kịch. Họ gặp nhau trên phim trường “The Gold Rush” (1925). Khi phim hoàn tất, Lita nói rằng cô đã mang thai.

Chaplin đề nghị Lita phá thai, rồi lại đề nghị sẽ thuê một người đàn ông kết hôn với cô để làm cha hợp pháp cho đứa trẻ nhưng tất cả đều bị Lita gạt đi. Nếu Lita kiện Chaplin tội quan hệ với trẻ vị thành niên, ông sẽ bị phạt 30 năm tù. Về sau Chaplin kể lại rằng: “Ở thời điểm đó, tôi đã sốc và thậm chí nghĩ tới chuyện tự tử”. Họ tổ chức một hôn lễ bí mật ở Mexico. Ngay sau khi kết hôn, mối quan hệ của họ coi như đã tan vỡ. Chaplin càng lúc càng trở nên khó ưa và hành xử kỳ quặc.

Charlot 6Năm 1927, họ ly dị, người đâm đơn là Lita. Lita tiếp tục “nối gót” Mildred đưa ra nhiều thông tin gây sốc, làm xấu trầm trọng hình ảnh Charlie Chaplin trong mắt công chúng. Lần này, Chaplin đã suýt nhảy từ tầng cao của một khách sạn ở New York nhưng may có người tài xế ngăn kịp.

Sau sự việc này, mái tóc đen của Chaplin bạc trắng. 9 năm sau, ở tuổi 47, con tim ông “vui trở lại” với nữ diễn viên Paulette Goddard, cô 22 tuổi nhưng nói dối rằng mới 17. Họ nhanh chóng chuyển về sống chung, Chaplin giao cho cô vai chính trong phim “Modern Times” (1936).

Trong ngày đầu tiên bấm máy, Paulette xuất hiện với tạo hình lộng lẫy, Charlie lắc đầu và nói: “Không phải phong cách này”. Ông bảo Paulette cởi giày, thay đồ, tẩy trang, rồi dội một xô nước lạnh lên người nữ diễn viên.

Paulette Goddard là đời vợ thứ 3 của Chaplin. Trong cuộc hôn nhân này, Chaplin tiếp tục đóng vai người kiểm soát, ông cũng luôn gây áp lực cho vợ trên phim trường.SG My Nhan 3Họ chia tay năm 1940 khi bộ phim “The Great Dictator” vừa ra mắt. Lúc này, Charlie 51 tuổi, ông đã trải qua một thiên tình sử đầy tai tiếng.

Ở tuổi 54, ông tìm thấy tình yêu đích thực của đời mình – cô gái 18 tuổi Oona O’Neill – con gái của một biên kịch. Trong hồi ký của mình, Chaplin coi việc gặp được O’Neill là “sự kiện hạnh phúc nhất đời” và nói cô chính là “tình yêu hoàn hảo” mà ông vẫn kiếm tìm. Oona tôn thờ Charlie.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: