VĂN HÓA VĂN NGHỆ (40)

Logo vannghe A

Tr thay tro 4Thư của cô giáo ca sĩ Hoàng Oanh

BÀI THƠ XƯA

VÀ NGƯỜI HỌC TRÒ CŨ

Hoàng Oanh xin mến gửi đến quý vị bài viết của Giáo sư Trịnh Thị Minh (là cô giáo của Hoàng Oanh) viết về kỷ niệm của cô với Hoàng Oanh cách đây hơn 50 năm tại trường Gia Long ở Sài Gòn thưở trước. Bài viết được trích trong đặc san Trăm Năm Áo Tím – Gia Long 2013 (Ca sĩ Hoàng Oanh)

Bài Thơ Xưa Và Người Học Trò Cũ

Hồi tưởng về quá khứ là điều vô cùng thú vị, vì trong quá khứ đó có tuổi trẻ của mình, có quê hương, có tình yêu, có ngôi trường Gia Long cổ kính đầy ắp kỷ niệm. Thế nhưng, trong trí nhớ hư hoại của tuổi già, kỷ niệm ngày xưa trở về chập chùng, khi rõ khi mờ, chợt có chợt không, có khi mất hút vào vùng tối tăm nào trong tiềm thứ.

Giữa bao quên lãng, tôi còn nhớ được một ít về cái năm đầu tiên tôi đặt chân lên bục giảng của trường Gia Long cách đây hơn 50 năm (Ôi ! Thời gian qua mau). Xin ghi lại như là để tìm kiếm một chút niềm vui cuối đời.

3 Hoang OanhTôi bắt đầu vào dạy niên khóa 1959 – 1960, sau khi rời trường Sư Phạm, còn tuổi trẻ, lạc quan, yêu nghề. Tại đây, một quãng đời dài gần 20 năm thầm lặng nhỏ nhoi làm cô giáo dạy các lớp Đệ Nhất Cấp buổi chiều, tôi bỗng thấy mình gắn bó mật thiết với các em nhỏ thơ ngây, trong lành, bụi đời chưa hề vướng gót chân.

Nơi sân trường Gia Long, mỗi ngày tôi đến đó chỉ thấy chiều xuống mà không thấy nắng lên, chỉ nghe tiếng bước chân hấp tấp của học sinh tan trường sau cơn mưa chiều lê thê mà không nghe được tiếng cười khúc khích tinh nghịch của học sinh lớp buổi sáng. Ngày tháng êm đềm trôi qua, mấy dãy lầu cao vọi bao quanh như cố giữ cho cái thiên đường của những nàng tiên áo trắng được nguyên vẹn bình yên giữa bao dồn dập của thời thế. Những biến động của đất nước, bao lớp sóng phế hưng vẫn không ảnh hưởng gì đến ngôi trường Gia Long. Trường vẫn sừng sững uy nghi bảo vệ cho nền giáo dục tự do, bảo vệ cho nhiều thế hệ học sinh được an lành trao dồi học vấn và phẩm hạnh.

Từng lớp học sinh vào trường rồi ra trường, dù có địa vị ngoài xã hội hay làm người nội trợ trong gia đình đều có một giá trị riêng xứng đáng với sự giáo dục của nhà trường. Cho mãi đến một ngày, cái ngày đau thương trường bị mất tên, cái thiên đường Gia Long mới thật sự tan biến vào dĩ vãng. Thầy trò buồn bã tứ tán. Muôn ngàn trái tim đau thắt nhớ về một thời vàng son đã qua. Kỷ niệm nào còn sót lại, còn nhớ được đều trở thành quý báu, ai ai cũng muốn níu giữ những vưu vật trong đời.

Tr Gia LongCòn nhớ, ngày đầu tiên tôi nhận lớp là Đệ Lục B11, lớp học nằm phía dãy đường Đoàn Thị Điểm, có 55 học sinh nhỏ bé, vô tư hồn nhiên. Tôi dạy môn Việt Văn, vừa là giáo sư hướng dẫn hiệu đoàn nên gặp các em nhiều giờ trong tuần. Giờ học, các em ngồi khoanh tay trên bàn, đôi mắt nai tơ mở tròn, nghe mà như nuốt vào lòng lời giảng của cô giáo. Giờ ra chơi thì tung tăng đùa giỡn, có khi cột áo dài lại nhảy dây hay rượt bắt, nói cười rộn rã một góc sân. Ôi ! Cái khung trời Gia Long thần tiên ấy, tuổi thơ của các em mà tuổi trẻ của tôi, bây giờ nhắc lại vẫn là cái gì đẹp đẽ, êm ái, xoa dịu.

Môn Việt Văn (lớp Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ) gồm có Kim Văn và Cổ Văn. Kim Văn có hai phần văn xuôi và văn vần. Tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thường được trích để giảng trong phần văn xuôi. Về văn vần, tôi hay soạn những bài thơ hay của các tác giả nổi danh thời tiền chiến như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… với các thể thơ quen thuộc, khuôn phép, chuẩn mực, nội dung thường tả cảnh, tả tình thích hợp với trình độ học sinh. Lúc bấy giờ phong trào thơ tự do đã xuất hiện nhiều trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn.

Một hôm, tôi bình giảng bài “Tiếng Sáo Thiên Thai” của Thế Lữ. Đây là lần đầu tiên các em được học một bài thơ mới so với các bài thơ cổ điển trong phần cổ văn. Các em ngồi im phăng phắc, mắt mở to ngời sáng. Ngoài sân trường, nắng vàng rực rỡ. Cạnh lớp, sân bóng rỗ vắng lặng, vài con chim nhỏ sà xuống nền xi măng nhảy nhót reo vui. Qua khung cửa lớp, tôi thoáng nhìn thấy những cánh phượng vĩ trên cao, cành lá xanh um đong đưa trước gió. Hình ảnh và âm điệu của tiếng sáo trong thơ Thế Lữ đã làm cho thầy trò mơ màng quên đi cõi trần tục :

9 Hoang Oanh 1“Khi cao vút tận mây mờ

Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh

Êm như lọt tiếng tơ tình

Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không

Thiên thai thoảng gió mơ màng

Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay…”

Bài giảng chấm dứt. Thấy các em hớn hở, tôi hỏi thử cho vui : “Có em nào biết ngâm thơ ?” Không ai giơ tay cả, nhưng cả lớp nhao nhao chỉ vào em học sinh nhỏ nhất ngồi ở đầu bàn, trên bàn đầu : “Kim Chi, Kim Chi!”. Đó là em Huỳnh Kim Chi rất đáng yêu, hễ các bạn yêu cầu là không hề từ nan, thường là được yêu cầu hát vì em ở trong Ban Nhi Đồng Nguyễn Đức, một ban ca nhạc thiếu nhi có tiếng lúc bấy giờ. Em đứng lên, nhoẻn miệng cười và đọc lại bài thơ với một chút âm điệu trầm bổng.

Không biết ngâm nhưng vì biết hát nên giọng em đã làm cho bài thơ trở nên êm ái, linh động, có hồn hơn. Có lẽ đó là lần đầu tiên Kim Chi tiếp xúc với thơ, cất giọng ngâm thô sơ vụng về bài thơ đầu tiên trong đời mình. (Thật không ngờ, em Huỳnh Kim Chi sau này là Ca Sĩ Hoàng Oanh và là một trong những người ngâm thơ nổi tiếng).

Em rất giỏi môn luận văn. Mỗi lần đến giờ trả luận, mặt em sáng rỡ vì biết bài sẽ được điểm cao và đôi khi còn được đọc cho cả lớp nghe. Một vài em khác trong Đệ Lục B11 cũng giỏi Việt Văn mà tôi còn nhớ loáng thoáng : Kha Quỳnh Châu, Nguyễn Trinh Phương Nga, Lâm Thị Hía, Triệu Thị Chơi, Nguyễn Thị Chính v.v… mà sau này các em cũng nổi tiếng trong lãnh vực thi văn, gia chánh thẩm mỹ, từ thiện xã hội… đều góp phần làm rạng danh cho trường Gia Long.

6 Gia long 3Riêng em Kim Chi, ngồi ngay bàn đầu trước mặt cô giáo, lại xinh xắn dễ thương nên hình ảnh em trở thành quen thuộc thân yêu với tôi. Mỗi lần vào lớp, bước lên bục giảng vừa đặt cặp sách xuống bàn là tôi bắt gặp ánh mắt, môi cười rạng rỡ của em. Lướt nhìn qua cả lớp, tất cả các học sinh đều tươi vui hồn nhiên như những bông hoa mới nở, lòng tôi thấy lâng lâng nhẹ nhàng. Có lẽ vì thích môn văn hay vì lúc đó tôi còn trẻ, yêu đời, cởi mở mà Kim Chi đặc biệt rất quý mến tôi.

Không biết nói gì để bày tỏ tấm lòng, em đem hình chụp riêng mặc áo đầm be bé xinh xinh đến ấp úng rụt rè tặng tôi với lời viết phía sau, nét chữ thơ dại đầy tình cảm mặn nồng thương yêu cô giáo. Ảnh này cùng với ảnh các lớp tôi đã từng dạy suốt mấy mươi năm dài (mỗi năm nhà nhiếp ảnh Duy Hy vào trường một lần để chụp hình lưu niệm cho từng lớp với thầy cô), tôi vẫn còn giữ trong rương hành trang của đời mình. Mỗi khi xem lại, vừa vui vừa buồn, vừa ngậm ngùi tiếc nhớ những gì đã qua không bao giờ trở lại nữa.Vào những ngày nắng đẹp, tôi cùng vài chị bạn đồng nghiệp dạy cùng lớp, chị Nguyễn Võ Lệ Hạnh, chị Hoàng Thị Hạ, chị Nguyễn Thị Thư hướng dẫn các em đi du ngoạn Long Hải – Nước Ngọt bằng xe hiệu đoàn ; vừa xem ruộng muối vừa vui chơi vùng biển rất thích thú. Đó cũng là kỷ niệm khó quên.

Dịp Tết Nguyên Đán, khoảng giữa niên học, học sinh thường tổ chức ăn tất niên trong lớp trước khi về nghỉ Tết. Các em xếp dọn bàn học lại, bưng bàn cô giáo xuống bày bánh mứt hạt dưa rồi lăng xăng đi mời giáo sư đến dự. Em Kim Chi phụ trách ca hát giúp vui, còn trổ tài đánh muỗng rất tài tình và vui nhộn.

Những buổi văn nghệ của nhà trường, em luôn luôn có mặt, múa hát hay đóng kịch, phần nào cũng lột tả xuất sắc, như hứa hẹn một thiên tài nghệ thuật.

Niên học trôi qua. Cuối năm học, vào tháng 6, khi hoa phượng nở đỏ, thầy trò chia tay. Tôi còn nhớ, buổi tạm biệt, đứng bên hành lang dãy lớp, Kim Chi và một số em ngập ngừng bịn rịn chào tôi. Trong đôi mắt ướt của thầy trò hình như đều có vài giọt nước mắt long lanh. Ôi ! Mấy giọt lệ của thời hoa mộng ấy là những hạt ngọc, hạt kim cương quý giá mà suốt đời ta sẽ không tìm lại được. Các em tiến lên mãi trên đường học vấn, rồi đường đời trải rộng, tuổi thơ sẽ không còn trở lại với các em.

9 Hoang Oanh 5Nhiều năm sau đó, tôi cũng không còn những xúc động dễ cảm như lúc ban đầu mặc dù mỗi năm tôi đều có học trò mới, cũng ngây thơ dễ thương và tình nghĩa cũng ngọt ngào tròn đầy. Rồi thế sự thăng trầm cùng với những bận rộn gieo neo trong đời sống, tôi không còn theo dõi bước chân của người học trò tài hoa năm xưa. Rồi vật đổi sao dời, thầy trò lưu lạc khắp bốn phương, trôi dạt khắp chân trời góc bể. Ngôi trường cũ, quê hương thân yêu và những người cùng có với ta nhiều kỷ niệm nay đã xa thật xa rồi, chỉ còn gặp lại trong giấc mơ mà thôi.

Sau hơn 50 năm, tôi có dịp gặp lại em Huỳnh Kim Chi, người học trò từng một thời nào thưở ấu thơ đã yêu thương tôi, đã say mê nghe tôi giảng bài và đã cố gắng vụng về cất giọng ngâm bài thơ “Tiếng Sáo Thiên Thai” để vừa lòng cô giáo, vừa lòng bạn, vì yêu bài thơ hay vì trong tự thân đã tiềm ẩn tài năng thiên phú.

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, Hoàng Oanh Huỳnh Kim Chi ngoài sự nghiệp âm nhạc còn nổi danh về ngâm thơ, đã diễn ngâm không biết bao nhiêu những tuyệt tác của các thi sĩ danh tiếng, đã đưa những lời thơ diễm tuyệt, đã chuyển tải thi tứ, nguồn cảm hứng của thi nhân vào tận ngõ ngách của tâm hồn người nghe, đã ve vuốt lòng người, làm đẹp cuộc đời và đóng góp vào việc giữ gìn cái kho tàng thi ca Việt Nam.

Vẫn đằm thắm dịu dàng, vẫn kính trọng thương mến cô giáo cũ, em nhỏ nhẹ tâm sự : “Em còn nhớ bài thơ “Tiếng Sáo Thiên Thai” mà cô bình giảng và ngày ấy chỉ là cô bé ngây thơ, em nào có biết ngâm thơ là gì…” Lòng tôi bỗng dưng chợt vui. Biết đâu bài thơ lục bát giản dị mà tuyệt mỹ đó đã thầm kín ươm mầm cho một niềm đam mê vần điệu thi ca, khơi nguồn cho em bay cao vào vùng trời nghệ thuật.

Và tôi cũng thật vui khi biết em, giống như hầu hết các cựu nữ sinh khác đã rất xứng đáng với truyền thống giáo dục của trường Gia Long: Đầy đủ khoa bảng và vẹn toàn đức hạnh.

Xa cách nghìn trùng nhưng mỗi khi nghe đâu đó giọng ngâm thơ óng chuốt của em, quá khứ lại trở về trong tôi. Tôi mường tượng lại những khuôn mặt trong sáng thơ ngây của đám học trò đầu tiên ấy, sân bóng rổ loang nắng có chim nhảy nhót trên nền xi măng, nhành lá phượng vĩ rung rung, bảng đen, phấn trắng, bài thơ năm xưa và tuổi trẻ tươi đẹp của riêng mình. Nỗi nhớ đó vừa là niềm đau vừa là niềm hạnh phúc.

9 Hoang Oanh 6

Trong tuổi già bóng xế, lưu lạc nơi xứ lạ quê người với đầy dẫy những nỗi khổ niềm đau, hôm nào đó, trên đường phố hay chốn tiệc tùng lao xao bất chợt có người phụ nữ lạ, bước tới, lễ độ, e dè khẽ nói bên tôi: “Cô ơi ! Em đã từng học với cô ở Gia Long.” Chao ôi ! Còn nỗi vui nào hơn. Có khi một ánh mắt, một lời nói ân cần thăm hỏi của người học trò cũ có thể làm dịu được nỗi khổ đau trong đời. Và cái nhân cách tuyệt vời ấy của nữ sinh Gia Long là một thứ trang sức sáng ngời lộng lẫy hiếm quý trên thế gian.

Đó đây, tôi đã từng gặp những CARNOT của Gia Long như vậy. Nghề dạy học trầm lặng khiêm tốn ít được đền bù, may ra chỉ có niềm vui tinh thần như thế thôi.

Cho đến hôm nay, Gia Long đã đi vào quá khứ rồi, chỉ còn trong tưởng tượng, vậy mà những tình cảm thâm trầm kín đáo các em còn dành cho Thầy Cô như là một quà tặng, một lời cám ơn nồng nàn, an ủi biết bao cho buổi hoàng hôn của những người đã từng một thời đứng trên bục giảng, từng có cái duyên dạy dỗ các em trong một chặng thời gian nào đó.

Thì ra, những hạnh ngộ trong một niên học, chỉ một lần trong đời đó thôi tưởng chừng có thể bị cát bụi thời gian vùi lấp, nhưng thật ra vẫn còn như một dấu ấn mãi mãi không phôi pha.

Ai trong chúng ta, chẳng đã từng, chỉ một phút giây gặp gỡ mà hệ lụy cả cuộc đời dài thì sao ?

Đối với dòng thời gian trôi chảy bất tuyệt, một niên học chỉ là khoảnh khắc nhưng khoảnh khắc ấy trong tâm tư của người học trò, của người thầy hình như trở thành thiên thu. Nhất là khi tuổi đời chồng chất, mọi thứ đều vuột khỏi tầm tay, khoảnh khắc ở Gia Long là một gốc rễ không ai muốn bứng ra khỏi cuộc đời mình.

SG Dinh My ChonHôm nay chúng ta còn có nhau, thật là một hạnh phúc lớn. Bằng tâm tưởng, hãy về thăm trường xưa, nơi ta đã có một phần đời gắn bó mà đành lỗi hẹn cuộc hội ngộ trăm năm :

“Trăm năm bến cũ hẹn hò

Cây đa còn đó, con đò khác xưa.”

(Ca Dao)

Giáo Sư Trịnh Thị Minh - Sydney mùa đông 2013

Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp

9 Hoang Oanh 4Một chút hiểu biết về Hoàng Oanh

Hoàng Oanh là nghệ danh của một ca sĩ người Việt, tên thật là Huỳnh Kim Chi, nổi tiếng là một giọng hát bền bỉ và chuyên về các dòng nhạc vàng và nhạc tiền chiến. Hiện nay, bà trình diễn ở hải ngoại, là giọng ca trụ cột cho trung tâm Thúy Nga và cũng đóng góp nhiều lần cho các trung tâm khác như ASIA, Van Son.

Khởi đầu sự nghiệp: Hoàng Oanh sinh ở Mỹ Tho nhưng trưởng thành ở Sài Gòn trong một gia đình có sáu chị em. Gia đình tuy có sự giáo dục nề nếp nghiêm khắc, nhưng cũng tạo điều kiện cho bà phát triển tài ca ngâm. Lên năm tuổi bà học hát với thân phụ cũng là một nghệ sĩ. Bà được thân phụ cho lên sân khấu lần đầu tiên tại Liên trường Võ khoa Thủ Đức với hai bản nhạc “Hương lúa miền Nam” và “Có một đàn chim”. Sau đó bà học nhạc tại lớp đào tạo ca sĩ Nguyễn Đức trong tốp ca sĩ thành đạt đầu tiên. Bà có khiếu ngâm thơ và thường ngâm thơ trước khi hát, điều đã tạo nên sự khác biệt cho các phần trình diễn của bà suốt sự nghiệp và được đánh giá là “đủ tài ca ngâm”.

Phát triển và nổi tiếng : Bà xuất hiện trong nhiều chương trình nhạc và thơ uy tín của đài phát thanh cũng như đài truyền hình thời bấy giờ : Bam Việt Nhi của NS Nguyễn Đức, Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng, chương trình Phạm Mạnh Cương, Tiếng Hát Đôi Mươi của Nhật Trường, Trường Sơn của Duy Khánh, Nhạc Vàng của Phó Quốc Lân, Tiếng Thùy Dương của Châu Kỳ, Tao Đàn của Đinh Hùng, Tiếng Thơ của Thanh Nam, Ly Tao của Thái Thủy…

Về khía cạnh băng đĩa, Hoàng Oanh được đánh giá là một trong những nữ ca sĩ được mời thâu dĩa nhiều nhất thời bấy giờ. Suốt sự nghiệp của mình bà đã thâu khoảng hơn hai trăm dĩa với các hãng Asia, Sóng Nhạc, Việt Nam, Sơn Ca, Thiên Thai, Continental v.v…

Một đặc điểm nữa có thể thấy ở Hoàng Oanh là bà không xuất hiện ở các vũ trường, phòng trà. Khi được hỏi, bà giải thích : “Hồi nhỏ, Oanh ở với ông cậu rất nghiêm khắc nên ông không cho Oanh hát phòng trà hay vũ trường, thỉnh thoảng chỉ cho hát đại nhạc hội mà thôi.”

9 Hoang Oanh 3Vang danh tại hải ngoại: Rời Sài Gòn ngày 28/04/1975, ban đầu Hoàng Oanh định cư ở tiểu bang New Jersey ở một thành phố gần New York và sau chuyển về hoạt động tại tiểu bang California. Bà mở trung tâm âm nhạc và tự vạch cho mình một lối đi: “Làm sao để bảo tồn văn hóa cổ truyền và nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam trong cộng đồng người Việt cũng như trong lớp ca nhạc sĩ trưởng thành ở hải ngoại.”

Bà xuất hiện thường xuyên nhất tại hải ngoại trong loạt chương trình “Paris by Night” của trung tâm Thúy Nga và được nhiều yêu mến từ khán giả với các bài hát Huế cũng như các dòng nhạc quê hương luôn đi kèm với giọng ngâm thơ ngọt ngào của bà.

Các lần xuất hiện gần đây của bà là: “Sao chưa thấy hồi âm” (Paris By Night 78), “Một người đi” (Paris By Night 95), “Chiều tàn” (Paris By Night 88), “Thương về xứ Huế” (Minh Kỳ) (Paris By Night 91), “Những đồi hoa sim” (Paris By Night 96)…

Kết luận : Hoàng Oanh được đánh giá là một giọng hát đa diện, có khả năng trình bày tất cả các loại nhạc cũng như lối ngâm. Từ những nét sang trọng, dịu dàng, quý phái của nhạc tiền chiến đến những bản dân ca ba miền, những bài tình tứ quê hương, từ những câu hò mái đẩy miền Trung đến bài vọng cổ miền Nam hay câu “sa mạc”, hát ví của miền Bắc.

Về sự nghiệp : Bà có một cuộc đời nghệ sĩ không sóng gió. Hoàng Oanh đi hát, đi học, sống êm đềm trong hạnh phúc gia đình, trong tình thân bằng hữu và trong cảm tình nồng hậu của thính giả. Bà có nhiều tác phẩm thành công, tiêu biểu là: Chuyến đò vĩ tuyến,SG Ng Viet 4 Anh tiền tuyến em hậu phương, Một người đi, Sao chưa thấy hồi âm, Về đâu mái tóc người thương,..

Hiện nay, Hoàng Oanh vẫn xuất hiện thường xuyên trong các chương trình Paris by Night, Asia cũng như các hoạt động nghệ thuật ở hải ngoại. Tiếng hát của bà được xem là vượt thời gian và vẫn sống trong lòng nhiều thính giả và được đánh gà là 10 nữ ca sĩ ảnh hưởng lớn nhất tại Việt Nam thời bấy giờ.(theo LT)

Nguyễn Việt chuyển tiếp và hiệu đính

(Nhóm thân hữu ký giả Điện Ảnh Tân Nhạc Nam VN)

9 Thanh Thuy 1KIỀU NỮ LÀM “ĐIÊN ĐẢO” 

GIỚI NHẠC SĨ MỘT THỜI

Những áng thơ, những nốt nhạc rung lên ngợi ca nhan sắc, tài năng của giọng hát Thanh Thuý… Điều ít người biết, khúc ca Ứớt mi nhạc phẩm được công bố đầu tiên, mở đầu sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã sâu nặng bóng hình Thanh Thúy…

Thanh Thúy ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn những năm trước 1975 là bóng hồng của bao thi nhân, mặc khách. Đã bao người yêu Thanh Thuý (còn được gọi …

Nàng thơ một thủa của nhiều thi nhân

Ca sĩ Thanh Thuý nổi tiếng trong những hộp đêm của Sài Gòn từ những năm 60 của thế kỷ trước với khuôn mặt đẹp phảng chút buồn. Tiếng hát ấy như ru hồn người nghe vào cõi mê đắm, mơ hồ. Tiếng hát cứ thế làm say đắm nhiều trái tim thi nhân, rất nhiều ngòi bút đã viết về giọng ca Thanh Thuý.

Người ca sĩ ấy sinh năm 1943, đi hát từ khi mới 15 tuổi và ở độ tuổi 20 đã rất nổi tiếng với nhiều người đưa rước. Sau năm 1975, ca sĩ Thanh Thuý ra sống ở hải ngoại, cùng với chồng Ôn Văn Tài và tiếp tục ca hát kinh doanh với trung tâm băng nhạc mang tên bà.

Sau này Nguyên Sa viết : “Thanh Thuý là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ : Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy, triết gia Nguyễn Văn Trung. Bởi vì Thanh Thuý chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ bén nhạy bắt được cảm xúc riêng tư mà diễn đạt cái khách quan mênh mông trong cái chủ quan, 9 Thanh thuy 4riêng lẻ sống thực và chân thành Trịnh Công Sơn những ngày đầu đời đã viết ca khúc ướt mi cho Thanh Thuý”.

Vào tuổi 15-16, Thanh Thuý xuất hiện tại phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh với giọng ca trầm trầm, mang nỗi buồn man mác, nghẹn ngào, nức nở dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông lơi trên vai gầy trong tà áo dài màu trắng hoặc lam nhạt mang sắc thái đặc biệt để lại thương nhớ cho biết bao người. Trong thời gian đó, Thanh Thuý xuất hiện trước công chúng trên Đại nhạc hội của ban thoại kịch Kim Cương.

Nguyễn Văn Trung, giáo sư triết Đại học Văn khoa Sài Gòn, cây bút không chuyên về ca nhạc cũng bị cuốn hút vào giọng ca và bóng dáng nên đã gọi “Tiếng hát Liêu trai”. Hồ Trường An viết về Thanh Thuý Tiếng hát khói sương chiêu niệm: “Cô là một nhà ảo thuật âm thanh. Cô giỡn vọt âm thanh, bẻ vặn tiết điệu, bỏ đứt nền nếp chân truyền trong lối hát. Chính ở cách phá thể, ở những quái chiêu táo bạo đó cô thành công rực rỡ”.

Hoạ sĩ Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ với bốn câu thơ: “Liêu trai tiếng hát khói sương/ Nghẹn ngào nhung nhớ dòng Hương quê mình/ Nghiên sầu từng nét lung linh/ Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương”.

Nhiều thi nhân, nhiều cây bút có tên tuổi đương thời, trong bồng bềnh cảm xúc đã không ngần ngại phóng bút ngợi ca tiếng hát Thanh Thuý khiến cho Thanh Thuý đi vào con đường âm nhạc rộng thênh thang với hàng triệu trái tim yêu háo hức, hâm mộ.

Mối tình câm sâu nặng         

Thanh Thuý xuất hiện trong thời gian ngắn và nhanh chóng đạt đỉnh vinh quang trong lung linh ánh đèn sân khấu. 9 Mot thoi 4Có ai biết, đằng sau cuộc sống của sân khấu, Thanh Thuý ôm một nỗi sầu. Mẹ Thanh Thuý ốm nặng, Thanh Thuý vừa đi hát để kiếm tiền trang trải thuốc thang cho mẹ, vừa phải nuôi những đứa em nhỏ.

Rồi mẹ cô cũng qua đời để lại những đứa con bơ vơ bên đời. Thanh Thuý nhiều khi cứ ra ôm mộ mẹ mà khóc, mong được theo mẹ về trời. Nhưng còn bốn đứa em nhỏ dại, cô phải gắng gượng sống mà thay mẹ nuôi các em khôn lớn. Mang tâm trạng đau buồn tiếng hát Thanh Thuý càng u sầu, não nùng, bi cảm, trong âm điệu ngọt ngào, du dương chất chứa nỗi đắng cay làm sao khỏi xúc động, tái tê?

Theo Vương Trùng Dương kể lại: Hình ảnh Thanh Thuý giẫm lên trái tim Trúc Phương, là nguồn cảm hứng cho chàng nhạc sĩ đam mê sáng tác. Và, ngược lại, Thanh Thuý nổi danh, được yêu thích nhiều qua nhiều ca khúc của Trúc Phương. Duyên phận không thành, nhưng hai người vẫn giữ mối giao cảm âm nhạc. Người đi theo chồng, tiếng hát chơi vơi, bồng bềnh trên đỉnh cao người ở lại đau nhói lệ buồn, trái tim chôn vùi trong vực thẳm tiếp tục kiếp tằm nhả tơ mà vương vấn bóng hình xưa.

Khi Trúc Phương qua đời, ở bên kia Thái Bình Dương, Thanh Thuý đã nhỏ lệ thương sầu. Nhưng mấy ai biết, trong ca khúc cuối đời, hình ảnh Thanh Thuý, người yêu trong mộng tưởng của người nhạc sĩ đa sầu vẫn còn hiển hiện: “Gửi người xưa bỏ ta để đôi mắt lại, giọt vắn giọt dài mãi đọng vũng bùn nhỏ,9 Thanh tHuy 3. ta và em trót đã thiên thu nhầm lỡ, khóc mình khóc người, đỏ hoe suốt đời”.

Từng nốt nhạc, cung bậc rớm máu trên đầu ngón tay nhấn trên phím đàn để viết nên cung điệu như dòng thơ của Bích Khê: “Dây đàn yêu thương rung trong mơ/ Tôi mang lên lầu lên cung thương/ôi tôi bao giờ thôi yêu nàng/Tình trong tôi nghe như tình tang”.

Nguồn cảm hứng cho ca khúc Ướt mi của Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn khi ấy mới 16 tuổi đã đến phòng trà Thanh Thuý hát mà cảm sầu, đắm đuối với con người đa cảm ấy. Trịnh Công Sơn khi ấy chưa có danh gì trong giới nghệ thuật. Chàng trai 16 tuổi cảm thấy buồn, nhớ tiếng hát Thanh Thuý khi không còn tiền vào quán uống trà nghe hát. Chắt bóp chi tiêu, người thanh niên ấy chỉ mong có đủ tiền trả cho một ly nước chanh để được vào phòng trà nghe Thanh Thuý hát những bài ca sầu nhớ.

Thanh Thuý hát như tiếng lòng nức nở khiến trái tim của chàng trai đa tình gốc Huế đang lang bạt vào Sài Gòn cuối thập niên 50, bắt gặp bóng dáng đồng hương Thanh Thuý say đắm. Và  đó cũng là cơ hội tạo nguồn rung cảm, đem cung đàn dẫn nhập vào mối tình si qua ca khúc  ướt mi. Trịnh Công Sơn đã gọi tiếng hát buồn não nề của Thanh Thuý như “khóc trong đêm mưa, than trong câu ca”.

SG Mai Tr Tin 3Chính Trịnh cũng không biết đó có phải là một mối tình câm lặng hay không? Vì: “Nói yêu thì cũng khó, bởi tôi nhỏ tuổi hơn nàng”- Trịnh đã nói vậy. Chỉ biết rằng, Trịnh thấy ở Thanh Thuý có một sự đồng cảm. Sau những ngày mê đắm với người con gái có tiếng hát liêu trai ấy, Trịnh đã theo một bóng hồng khác, một giọng ca khác lên vùng đất mộng mơ xứ sương mù. Trịnh rời Sài Gòn theo bóng hồng mới lên Đà Lạt. Còn Thanh Thuý chắc cũng chẳng bận lòng với chút tình con con ấy.. (theo Vương Anh)

Mai Trung Tín chuyển tiếp

Logo thu gian 2

Tr thu gian 3Lời ước

Một người đàn bà đem cây đèn Aladin ra lắc một cái thì thấy bà tiên xuất hiện. Bà tiên nói :

- Chị là một phụ nữ ngoan hiền ta cho chị một lời ƯỚC đó.

Chị đàn bà xin:

- Bà thấy Con mèo kia không. Tôi ƯỚC gì nó trở thành một chàng trai trẻ đẹp và giầu sang.

Bà tiên OK liền và phẩy tay một cái liền hiện ra một chàng trai giống hệt như Brad Pitt vậy. Nàng phóng ngay ngồi lên đùi chàng trai và hỏi :

- Chàng có điều gì muốn nói trước khi chúng ta vào buồng … đây.

- Có chứ ! Ta biết nàng hiện nay đang ước rằng tuần trước nàng đừng đưa ta đi … thiến chứ.

Tr thu gian 4Biết hết sự thật rồi !    

Một chú bé được một cậu bạn cùng lớp rỉ tai rằng tất cả người lớn đều có những bí mật riêng và rất dễ tống tiền họ bằng câu : “Tôi biết tất cả sự thật”. Về nhà, chú bé quyết định sẽ thử điều này với mẹ :

- Con đã biết tất cả sự thật.

- Đừng nói gì với bố nhé !

Mẹ cho cậu 10 nghìn đồng. Hiệu nghiệm quá, bố đi làm về, cậu lại đọc “thần chú” vào tai ông. Ông bố ngay lập tức rút ví cho cậu 50 nghìn đồng cùng một đề nghị giữ kín chuyện. Vô cùng hài lòng với phương pháp kiếm tiền mới của mình, hôm sau, khi gặp bác đưa thư trước cửa nhà, cậu nói ngay:

- Bây giờ tôi đã biết tất cả sự thật rồi !

Bác đưa thư đứng lặng người, cặp kính trắng mờ đi, ông giang hai tay ra và nghẹn ngào nói với cậu bé :

- Nếu con đã biết hết sự thật rồi thì … lại đây với bố đi con !

Yên Nhàn chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (39)

Logo su kien 2

9-bach-yen-1THƯ CỦA

CA SĨ BẠCH YẾN

Từ vụ lường gạt xảy ra bởi Quang Lê  ?! Có lẽ ca sĩ về VN hát bắt đầu đói rồi !!!… Đến những kỷ niệm với nhà báo Đoàn Thạch Hãn (người vừa mới qua đời)

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Việt Tide phát hành ngày 3 và ngày 10 tháng 10 năm 2014)

Cách đây không lâu, người viết có nhận được một bài báo từ VN nói về ca sĩ Bạch Yến khá chi tiết do cậu em Hải Triều gửi sang, H.T ghi : “Anh đọc đi, bài viết của nhà báo Đoàn Thạch Hãn viết về tiếng hát Đêm Đông thú vị lắm..”. Đọc xong, tôi đinh ninh tác giả bài viết và người ca sĩ được đề cập chắc phải là thân thiết lắm nên Ông mới nắm rõ những thông tin chính xác như thế..

Đến khi có dịp gặp lại chị Bạch Yến tại Mỹ, chị cho biết : “Khi bài này được đăng lên các báo, chị chưa hề gặp, chưa quen, chưa biết gì về anh ĐTH”. Ôi trời.. chuyện này mới thật hấp dẫn đây. Nhân dịp nghe tin anh Đoàn Thạch Hãn từ trần 2 tuần trước, nhớ lại chuyện cũ, tôi gửi email đến chị hỏi lý do nào một người không quen, không biết lại nắm rõ mọi chuyện của chị như vậy, Bạch Yến hứa khi rảnh rỗi sẽ viết về  anh ĐTH và sự gặp gỡ ngộ nghĩnh kỳ lạ buổi đầu tiên.

Tr Quoc BaoVà khoảng 3 tuần sau ngày mất của nhà báo Đoàn Thạch Hãn, lá thư của ca sĩ Bạch Yến đã hồi âm trong tuần này:

“Em Trần Quốc Bảo ơi,

Chị tình cờ đi Saigon thâu thanh theo lời mời của một ca sĩ trẻ bên Canada, nhân dịp này chị được gặp quen anh Đoàn Thạch Hãn (ĐTH) tên thật là Đoàn Kế Tường. Từ năm 2012 anh chị được nhiều bạn chuyển bài viết của một văn sĩ viết rất rõ về chị. Chị vừa ngạc nhiên vừa thích thú và rất tò mò nên mỗi khi đi diễn bất cứ gặp nhà văn, nhà báo nào cũng hỏi tìm từ Pháp tới Mỹ.

Rồi một hôm sắp hát cho “live show” của Ca sĩ Hiền Thục ở Việt Nam tới phỏng vấn lại quên vì đông ký giả quá lu bu không dám hỏi !

Một hôm có một ký giả trẻ xin hẹn để phỏng vấn riêng vì hôm họp báo chưa phỏng vấn kịp. Không chút ngần ngại chị cho hẹn liền vì hôm sau đó chị không đi thâu. Người ký giả trẻ đó là Mai Quỳnh Nga (MQN).

Hôm cô tới gặp chị đang đứng ngoài ngõ chờ, tuy nơi chị ở nằm trên đường lớn nhưng số nhà đổi tới lui sao không biết mà ai tới địa chỉ này đều bị đi lạc khoảng 15 tới 20 phút vì vậy muốn cho người tới đó không bị lạc, chị phải ra đường đứng. Đỡ quá, cô Mai Quỳnh Nga tới đúng chốc rủ chị đi với cô, cô hỏi chị dám đi “xe máy” (xe Honda/moto/scooter) không ? Chị chẳng suy nghĩ trả lời liền “dám chớ” (dù lo nhưng không thối lui) vì xe gắn máy bên Việt Nam chạy bạo tới đèn đỏ lòn sau xe hơi chạy tới tắp không ngừng. Rất nguy hiểm.

Vừa leo lên xe chị tự nhiên hỏi : “Em có quen nhà văn hay nhà báo Đoàn Thạch Hãn không ?”. Cô MQN trả lời gọn “dạ biết”. Mình chỉ hỏi bâng quơ thôi thì không ngờ cô MQN biết, Doan Thach Hanrất ngạc nhiên vì cô MQ Nga rất trẻ.  Sau phỏng vấn hai chị em chia tay vui vẻ bình thường nhưng không ngờ sáng hôm sau cô MQ Nga gọi cho số đt của anh Đoàn Thạch Hãn (ĐTH) chị mừng quá gọi liền để xin được gặp người viết về chị quá cặn kẽ thật hay mà chị chưa hề quen.

- A lô, xin lỗi anh có phải anh Đoàn Thạch Hãn không ?

Đầu dây bên kia trả lời với giọng hơi rụt rè chị liền tự giới thiệu : “Tôi là ca sĩ Bạch Yến…” Anh ĐTHãn vui lên liền xin phép cho anh kể vì sao anh biết về chị (Bạch Yến) rõ như vậy. Năm anh lên 18 đã nghe chị hát bài Đêm Đông rất lạ không giống ai và cũng không ai giống cách hát của chị. Anh rất thích và còn văng vẳng tiếng hát của chị mỗi lần nghe bất cứ ai hát Đêm Đông. Anh rất lịch sự xin phép chị cho anh nói vài lời… Chị vui vẻ để anh tự nhiên mà điện thoại hết bin (battery/batterie) hồi nào không hay! Cũng may lúc anh ĐT Hãn vừa trả lời điện thoại chị đã ngỏ ý mời anh hôm nào cho phép chị mời tách cà phê. Chị chưa quen nên không dám sổ sàng mời mộc huyên thiêng. Anh lễ phép nhận lời.

Lát sau chị gắn điện một hồi điện thoại reo trở lại thì được anh ĐTH gọi lại kể tiếp; …. Nghe anh kể chị rất cảm động nhứt là khi anh nói : “tôi có ý định tới cuối đời “chưa làm được những điều tôi mơ ước” anh nghĩ khi anh về hưu sẽ trở về quê anh ở Quảng Trị để khi lìa trần anh chỉ muốn được chôn cạnh mộ cha mẹ anh vì một đời tuổi trẻ thì đi lính xa vợ xa con mà bây giờ vợ con cũng di tản gần bốn mươi năm rồi, nhứt là vợ con anh sống bên Mỹ đầy đủ tiện nghi…, trong khi anh bị đi tù 14 năm trời ra tù vợ con đều đi xa qua sống bên Mỹ tốt quá rồi, nếu ở lại Việt Nam sống với anh chỉ thêm khổ !

9 Bach Yen 1Vợ anh đã lấy chồng con anh vì xa anh lâu quá trở thành xa lạ. Anh ở lại dù tương lai không sáng lạng nhưng thà vậy còn hơn. Anh may mắn được trời cho chút khiếu viết văn cũng tạm vui. Anh nói đỡ : tôi có đông bạn yêu mến tôi, tôi rất vui. Tuổi trẻ của anh chỉ có bạn thân nhứt là những cuốn băng nhạc cassette cạnh anh hằng đêm ngoài chiến trường. Lẽ thường các anh chiến sĩ xa nhà trẻ thì trông thư tình. Lớn tuổi hơn thì nhắn gởi những thức ăn nọ kia hoặc xin gởi cho thuốc lá… Còn anh ĐTHãn chỉ xin băng nhạc thôi nhờ vậy anh thuộc rất nhiều bài và nhứt là những bài của anh Lam Phương anh thuộc làu.

Hôm sau lúc chị vừa thâu xong còn sớm (khoảng gần 6 giờ chiều) được rảnh, chị liền gọi anh Đoàn Thạch Hãn mạo muội mời anh đi dùng cơm tối gần chỗ chị ở cho khi về đên có hơi khuya chị sẽ gọi người nhà tới chở về cũng tiện. Vì chị gọi bất ngờ anh không chuẩn bị nên xin gặp thẳng ở nhà hàng. Chị dặn anh cứ từ từ đến gặp chị. Chị tới tiệm cơm chờ đúng một tiếng không thấy ai, chờ thêm tiệm sắp đóng phía chị đang ngồi tức phía bên ngoài có nước chung quanh có cá vàng lội tung tăng óng ánh trông rất vui mắt.

Tiệm bắt đầu thưa khách và người làm cũng bắt đầu vô bên trong. Chị nghĩ anh ĐT Hãn chắc bị có gì thay đổi giờ chót nên đã hơn một tiếng mà vẫn không tăm hơi… Chị kiên nhẫn chờ thêm trời ơi bỗng thấy có người ôm bó bông Hồng bước vội vã về phía chị ngồi cười tươi vồn vã xin lỗi vì anh ở tận Quận 2 ra đây hơi xa… Anh không nói từ nhà anh vội chạy ngược ra Bến Thành để mua tặng chị bó hoa Hồng thật đẹp.  Cái đẹp hơn nữa là tấm lòng. Anh ấy thật lịch lãm dễ thương quá.

Chị nghĩ sự gặp gỡ anh ĐT Hãn là định mệnh phải đúng ngày giờ có duyên mới gặp được anh ấy. Anh có tiền sống hằng ngày nhờ nghề viết kịch bản. Cùng lúc đó chị gặp lại Quang Lê tại Saigon đang có ý định thực hiện phim về cuộc đời anh Lam Phương và cần gấp người viết thành “truyện” về cuộc đời anh Lam Phương … Chị giới thiệu Quang Lê cho anh ấy hai bên gặp nhau tính toán xong xuôi hôm sau gặp lại anh đưa đề cương9-bach-yen-2 10 trang cho Quang Lê hớn hở lấy hứa gởi tiền trả nhưng … Chị cũng đã quay cho Quang Lê rồi cũng hứa trả nhưng…”

Em Trần Quốc Bảo thân mến,  

Anh Đoàn Thạch Hãn bị tiểu đường rất nặng mà không cho chị biết. Hôm chị gặp anh lần đâu tiên chị thấy anh lui cui với cái điện thoại di động gọi ca sĩ Hồng Vân rồi gọi ca sĩ Lan Ngọc vì chị hỏi thăm hai người này ngay lúc vừa gặp anh. Không ngờ nơi chị dùng cơm tối hôm đó lại có phòng trà của ca sĩ Lan Ngọc.  Sẵn có mặt tại đó chị nán lại thêm chút để xuống phòng trà được nghe hai cô đó và các ca sĩ “trẻ” hát. Sau buổi gặp gỡ anh ĐTHãn lần đó anh xin phép được thỉnh thoảng gọi thăm chị.

Anh chỉ kể nhiều về những người cùng chung tù với anh như Duyên Anh, bác sĩ Nguyễn Đan Quế là ông xã chị Tâm Vấn ca sĩ …  Anh Duyên Anh được thả ra sớm rồi được đoàn tụ gia đình bên vợ đi Pháp sống. Nhiều người khác được thả ra vẫn còn ở lại Việt Nam như anh ấy phải sống vất vưởng như nhiều anh em sau khi đi tù ra. Anh nói : “Chuyện đó chắc chị được nghe nhiều rồi tôi không cần kể ? Rồi anh chỉ thở dài nhè nhẹ”.

Chị đổi đề tài cho không khí đỡ nặng, liền nói : “Thưa anh tôi sẽ hát tại phòng trà WE vào thứ Sáu 28 tháng 2 (2014) nếu anh có rảnh tôi xin phép mời anh đến nghe. Anh nhận lời mời không chút do dự. Đó là lần đầu tiên anh ĐTHãn thật sự được nghe chị hát bằng xương bằng thịt, một “live show”. Sau buổi diễn anh nói : “Được nghe chị hát rất vui, mà chị còn hát hay hơn tôi tưởng tượng là điều tôi rất mừng. Vì bây giờ đã trên năm mươi năm rồi từ ngày tôi nghe chị hát đầu tiên mà không ngờ gặp được chị còn hát khoẻ.

Hôm 28/2 anh ĐTHãn lại tặng chị một lẵng hoa thật đẹp chị rất thích nhưng rất thương người văn sĩ tài ba bất hạnh phải sống trong hoàn cảnh chật vật thiếu tình yêu, tình gia đình, thiếu sức khoẻ, thiếu vật chất… Nhưng anh chưa hề một lần hé môi trách đời hay trách ai. Anh có quan niệm rất can đảm chấp nhận những thiếu thốn, những bất công mà anh đã và đang sống. Anh không hận thù không than vãn về bất cứ gì.

9 Bach Yen 2Một hôm chị được ca sĩ Cẩm Vân kể nhân một buổi cơm thân mật do cô Cẩm Vân đãi. Cô trách khéo ĐTHãn đã có lần vừa cưới một thiếu nữ vừa đẹp vừa yêu quý anh nhưng tại sao chỉ một ngày thôi mà đã chia tay ? Anh không trả lời chỉ cười nhẹ. Khi anh và chị gặp riêng thì anh tự kể lý do vì sao anh chia tay người phụ nữ đó sớm tới vậy ?

Anh nói : “hai người muốn sống chung thì ít nhứt anh phải có điều kiện trước tiên là vật chất tuy đôi bên đã rõ hoàn cảnh nhau trước rồi mới đi tới hôn nhân. Nhưng khi đưa cô dâu về nhà anh thấy mình thiếu thốn quá, cô dâu mới, đẹp trẻ mà lủi thủi sống trong căn gác trọ nhỏ bé cực khổ khó khăn với anh, anh thấy thương tội nghiệp quá nên không dám giữ thiếu phụ đó. Anh thấy tương lai của hôn nhân là một ích kỷ, chỉ được phần anh vì người ta yêu “Văn và Thơ” của anh mà phải chịu đựng cảnh sống chật vật này mãi rồi sẽ có ngày đổ vỡ. Hôm đó chị mới thật sự khám phá anh ĐT Hãn vừa rất chật vật vừa đang có bịnh tiểu đường rất nặng, bịnh gan… Mà không than thở chán đời, quá can đảm ! Lúc nào cũng bình thản cười nhẹ.  Anh ĐT Hãn chưa lần nào để chị trả một lần dù chỉ một tách trà hay cà phê. Thật là một con người lịch lãm.

Em Trần Quốc Bảo ơi,

Chị không đánh bóng thổi phồng về người bạn chị vừa mới gặp mới quen vỏn vẹn trong vài tuần mà thật sự chị có cảm tưởng như quen anh từ lâu lắm rồi. Vì mỗi lần chị nhắc tới ai hay một toà nhà hay một bản nhạc cổ xưa, anh đều có quan niệm rất “trung lập” (neutral) không méo mó không thiên vị. Anh giải thích phân tách một cách rành mạch lưu loát những tìm hiểu thắc mắc của chị về quê hương yêu dấu mà chị đã rời xa từ năm 1961. Chị ngạc nhiên nhứt là anh phân tách về nhạc của anh Lam Phương một cách rất sâu sắc với đầy quý mến. Anh ĐT Hãn nói : “Thưa chị, tôi xin phép nói về 9 Lam Phuong 1cảm nghĩ của tôi về nhạc anh Lam Phương (LP); Anh LP là người miền Nam lời ca của anh rất chân tình mộc mạc không chải chuốt bóng bẩy như văn anh miền Bắc hay thâm sâu như anh miền Trung. Anh LP viết lời đúng theo tình cảm của con tim anh ấy. Anh “Nam Kỳ” dễ thương là ở điểm đó chị B.Y. à.

Tôi nhớ câu trong bài Thu Sầu : “Trên cao bao vì sao sáng. Rừng vắng có bao lá vàng là bấy nhiêu sầu…”

Bài Chờ Người : “Cầu xin cho Mây về vui với Gió. Dù có bao nhiêu đắng cay, muôn đời anh vẫn chờ em”. Người đàn ông mà chờ ! Chuyện đó mới hiếm và nói lên nỗi nhớ thiết tha.

Bài Duyên Kiếp ngộ nghĩnh đượm màu quê hương rất dễ thương.

Chị nghe anh say sưa nói về nhạc của anh LP mà ngẩn cả người. Liền nói : “Thưa anh, từ trước tới giờ tôi không hề biết về nhạc anh LP hay và nổi tiếng cỡ nào,  không phải tôi chê nhạc anh ấy… Sến hay bình dân như nhiều người nghĩ. Không phải vậy đâu, vì sau khi anh LP đi lấy vợ, tôi không gặp lại rồi bận rộn hát nhạc ngoại quốc rồi ra đi sống xứ người… Nên hoàn toàn không biết hoạt động sáng tác của anh LP ra sao !

Lúc đang nói với anh ĐT Hãn xong chị đang có bài Duyên Kiếp vừa thâu mở ra cho anh ĐT Hãn nghe. Lần này tới phiên anh ĐTHãn ngẩn người có lẽ vì anh không ngờ chị hát không bay mùi Bơ (vì chị chuyên hát tiếng ngoại quốc) mà cũng không Sến ?

Anh ĐT Hãn buộc miệng hỏi: “Anh LP có biết chị sẽ hát bài của anh không ?”

- “Dạ chỉ biết tôi sẽ hát vài bài với một ca sĩ trẻ từ Canada qua thâu với tôi thôi”.

- Anh LP nghĩ sao ?

- Anh LP ừ à dửng dưng và có lẽ nghi tài tôi hát bài của anh không chuẩn ? Thưa anh điều đó là lẽ tất nhiên vì tôi hát tiếng Việt không giỏi như những ca sĩ Việt khác ? Nhứt là tôi sống xa quê hương trên năm mươi năm.

Anh ĐT Hãn buộc miệng nói an ủi chị : “Chị Bạch Yến ơi chị còn nói tiếng Việt rất chuẩn, 9 Quang Letôi nghĩ chị nên thâu cả CD  toàn bài của anh LP dành cho khán thính giả ngạc nhiên chị rất Việt Nam ở ngoài đời cũng như trên sân khấu chị vẫn còn cả tâm hồn rất Việt. Tôi vui mừng được quen và hàn huyên tâm sự chia sẻ vui buồn cùng chị…

Một hôm chị vừa ở phòng thâu về bỗng điện thoại reo bên kia đầu dây giọng quen quen : “Dạ cô Bạch Yến, con là ca sĩ Quang Lê (QL) đây, cô ơi, cô có rảnh không con có chuyện này hay lắm, con muốn gặp để ngỏ cùng cô. Hơi do dự nhưng vì ngày thâu vừa xong nên rảnh nhận lời cho QL tới gặp. QL trông phương phi đạo mạo như một anh xì thẩu “Chợ Lớn” chị xuýt nhìn không ra vì lúc này béo phì khác hẳn người ca sĩ trẻ mà chị gặp vài năm trước. Vừa gặp chị, QL liền kể líu lo là đang có dự án quay một cuốn phim về cuộc đời của chú Lam Phương mà trong cuốn phim này không thể thiếu cô Bạch Yến…. Và xin ngay cái hẹn để quay cô trong lúc cô đang có mặt ở Việt Nam…

Khi lên taxi QL hẹn liền ngày thâu hình 24 tháng 03 năm 2014. QL cần quay trong một căn nhà khang trang chị liền hỏi bạn chị cũng làm bữa tiệc tiễn chị đúng vào ngày 24/03/2014. Lo được cái nhà xong, QL cần người viết kịch bản cũng nhờ chị giới thiệu. Chị liền giới thiệu anh ĐT Hãn vì kịch bản là nghề của anh và nhứt là anh biết rõ về anh Lam Phương thì không ai đúng hơn. Chị gọi giới thiệu QL cho anh ĐT Hãn đôi bên hẹn cùng gặp nhau tại nhà bạn chị.

Tr bang hoangSáng ngày 24/03 anh ĐT Hãn mang tới một tập đề cương đưa QL mừng rỡ lấy liền. Sau bữa tiệc hôm đó ê kíp quay phim thâu hình QL phỏng vấn chị. Chiều 24/3/2014 chị linh tánh đưa phong bì cho Anh ĐT Hãn $250 USD chị nói dối anh đó là tiền QL ứng trước.  Hôm sau chị gọi QL để thanh toán chi phí chị và anh ĐT Hãn thì QL cho biết đang ở Huế hứa sẽ có người tới trả tiền cho chị và anh ĐT Hãn. Chiều 25/03 có người gọi hẹn sẽ tới khoảng 6, 7 giờ chiều. Anh ĐT Hãn và chị chờ gần cả đêm tới 2 giờ sáng hôm sau 26/03 chẳng thấy ai tới mà vài giờ sau đó (ngày 26/3) chị phải đi phi trường để bay về Paris.

Sau khi anh ĐT Hãn và chị chờ cả đêm và mấy ngày sau khi chị đã rời Saigon vẫn không người nào tới thanh toán như đã hứa. Riêng chị thì muốn giúp anh có chút tiền để anh chữa bịnh mà không làm cách nào để anh nhận thì đây là lý do chính đáng nhứt nên anh vui vẻ nhận. Nhưng sau khi chị rời Saigon vẫn chưa ai tới thanh toán.  Anh ĐT Hãn khám phá ra tiền đó là của chị, anh đã trao lại số tiền $250 (5 triệu VNĐ) này cho người nhà chị tuy anh rất cần tiền chữa chạy thuốc men nhưng thà chết chớ không làm chuyện tồi bại nhơ danh con người lịch lãm của anh. Khi anh giao lại tiền cho người nhà chị, anh nói dối là đã nhận tiền rồi.

Chị rất hối tiếc và xấu hổ đã giới thiệu Quang Lê cho anh ĐT Hãn trong hoàn cảnh thiếu thốn tận cùng này. Đang viết lại những dòng chữ này mà lòng chị se thắt thương cho người bạn bất hạnh trước khi lìa trần còn bị lừa gạt. Hng Ng Toan NangChị rất bất mãn QL đã nhẫn tâm gạt gẫm anh ĐT Hãn. Em ơi, lòng chị chân thật nên tưởng lòng người cũng chân thật ngay thẳng như chị! Bây giờ anh ĐT Hãn đã lìa trần. Tuy vậy chị đã sắp xếp việc bảo vệ đề cương mà anh ĐT Hãn đã trao QL và hình ảnh của chị đã quay hôm 24/03/2014 không ai có thể sử dụng nếu không thanh toán mọi việc sòng phẳng như đã hứa.

Chị Bạch YếnNgày 08 tháng 10 năm 2014 

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo tam su 2

5 Huu Loan 2SỰ ĐAU ĐỚN CỦA CHA ĐẺ 

“MÀU TÍM HOA SIM”

. Màu tím hoa sim – Phạm Duy & Elvis Phương

http://youtu.be/6V3iDx3NJ4o

Vài ngày gần đây, những tự sự của nhà thơ Hữu Loan, cha đẻ “Màu tím hoa sim nổi tiếng” đã tạo ra niềm xúc động lớn trong với cộng đồng mạng. Tự sự đớn đau này được chia sẻ  rất nhiều trên Facebook tạo nên nhiều thổn thức.

“Rất cảm động, vì sự chân thành, vì tình người, tính người. Và có thể hình dung cả bối cảnh một thời cuộc tao loạn. Mỗi số phận cá nhân đều chứa trong lòng nó những bi kịch của lịch sử” – (Kim Dung)

Những người yêu thơ tình, không ai không biết đến bài thơ “Màu tím hoa sim đầy xúc động”. Đằng sau đó là một câu chuyện còn sâu sắc hơn, đau đáu hơn của tác giả Hữu Loan.

Đọc nguyên văn bài thơ xin bấm vào đây –>  Tho MAU TIM HOA SIM

- Những đồi hoa sim – Sơn Tuyền : http://youtu.be/mpkZCdCXn70

Đây là những dòng tự thuật của chính nhà thơ Hữu Loan :

“Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.

5 Huu Loan 1Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuấn, Đỗ Thiện và… tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên.

Ở Thanh Hóa, bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí : ”Em chào thầy ạ !” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.

Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.

Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…

5 Huu Loan 3Có lần tôi kể chuyện ”bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận ! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ…

Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi…

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì.

Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: – Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ…

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. – Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo ! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến.

Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

5 Huu Loan 5Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi.

Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp… Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ”soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là : ”yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”.

Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng.

Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…

Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Tr buon 1Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…

Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu tím hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2/4/1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – 5 Huu Loan 4nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim…

Những đồi sim, những đồi hoa sim… Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt… Và chiều hoang tím có chiều hoang biết… Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi ”hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá !

oOo

Năm 1988, tôi ”tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.

SG Dinh My ChonVào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu tím hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.

Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán”.(trích bài của Nhà thơ Hữu Loan)

Đinh Mỹ Chơn chuyển tiếp

CHUYỆN TÌNH LẬN ĐẬN CỦA KIM DUNG

Logo bay gio ke

4 Kim Dung 1CHA CON NHÀ VĂN KIM DUNG

TÌNH LẬN ĐẬN CỦA “VUA”

TRUYỆN CHƯỞNG KIM DUNG

Kim Dung từng nói rằng : “Cuộc sống tình ái của tôi không thực sự viên mãn, cũng chẳng thể nói là đẹp”.

Kim Dung là cái tên không xa lạ gì với nhiều thế hệ, đặc biệt là những người mê tiểu thuyết và những bộ phim kiếm hiệp Hồng Kông. Ngoài tiểu thuyết, Kim Dung còn là người sáng lập nên tờ Minh Báo nổi tiếng của Hồng Kông và là Tổng biên tập đầu tiên của tờ báo này. Tuy nhiên, vốn là người ít khi nói về những chuyện riêng tư, cuộc sống hôn nhân của tác gia kiếm hiệp cho tới nay vẫn còn là một bí mật mà ít người biết tới…

Mối tình đầu lỡ dở

Cuộc đời Kim Dung trải qua 3 cuộc hôn nhân nhưng cả 3 cuộc hôn nhân đều không khiến vị tác giả của những bộ tiểu thuyết kiếm hiệp kinh điển cảm thấy thỏa mãn. Kim Dung từng nói rằng : “Cuộc sống tình ái của tôi không thực sự viên mãn, cũng chẳng thể nói là đẹp. Nói chung là không viên mãn, cũng chẳng lấy gì làm lý tưởng”.

Cái lý tưởng mà Kim Dung nói ở đây chính là nhất kiến chung tình, vừa gặp đã yêu, là bách niên giai lão và ông nói rằng, mình đã không làm được. Trong cuộc sống hôn nhân, Kim Dung nói rằng, ông có lỗi với người khác và người khác cũng có lỗi với ông. Nói chung, với ông, hôn nhân là thứ không hề hoàn mỹ.

9 Kim dung 5Người vợ đầu tiên của Kim Dung xuất thân cành vàng lá ngọc, là mối tình đầu của ông. Để đến được với nhau, Kim Dung đã phải nỗ lực rất nhiều. Đáng tiếc, kết hôn không bao lâu, người đẹp lặng lẽ bỏ ông mà đi vì không chịu được cuộc sống cô đơn, nghèo khó. Đây chính là điều mà Kim Dung cho rằng “người khác đã có lỗi với ông”.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Kim Dung là sản phẩm của tình yêu sét đánh. Chuyện xảy ra vào khoảng mùa hè năm 1947, Kim Dung khi đó 23 tuổi, là một biên tập viên trẻ tuổi được giao đảm nhiệm chuyên mục “Giải đáp thắc mắc của tiến sĩ Meo Meo” trên tờ Đông Nam nhật báo ở Hàng Châu.

Đây là chuyên mục giải đáp tất cả các thắc mắc về các tri thức khoa học thường thức của các độc giả, chính vì vậy, rất được độc giả thời bấy giờ yêu thích. Trong số các độc giả đặc biệt yêu thích chuyên mục này có một người tên là Đỗ Dã Thu. Người này thường xuyên gửi các câu hỏi rất hay nên khiến Kim Dung chú ý.

Vì thế, mỗi khi nhận được câu hỏi của độc giả này, Kim Dung thường ưu tiên trả lời trước. Nhờ vậy, hai người bắt đầu liên hệ qua lại nhiều hơn. Một thời gian sau, Kim Dung thấy đây là một cậu bé thú vị, do vậy muốn được làm quen, kết bạn. Sau khi hẹn thời gian, Kim Dung tới thăm nhà Đỗ Dã Thu.

Tại nhà họ Đỗ, ngoài độc giả nhỏ tuổi Đỗ Dã Thu, Kim Dung còn gặp cha mẹ của cậu bé và cả cô chị tên là Đỗ Dã Phần, năm đó mới 17 tuổi.9 Kim Dung 2 Ngay từ lần đầu gặp mặt, Kim Dung đã có ấn tượng rất tốt với Dã Phần, cảm giác như đây chính là cô gái mà mình tìm kiếm lâu nay. Vì vậy, ngày hôm sau, Kim Dung gửi tới nhà họ Đỗ bốn tấm vé mời nhà họ Đỗ đi xem kịch.

Ấn tượng của nhà họ Đỗ với anh chàng biên tập Kim Dung cũng không tệ, do vậy đối xử với ông rất khách khí. Từ đó, Kim Dung bắt đầu thường xuyên qua lại nhà họ Đỗ. Không lâu sau đó, nhà họ Đỗ phát hiện ra rằng, Kim Dung có ý với cô chị Đỗ Dã Phần. Nhà họ Đỗ là gia đình giàu có có tiếng, do vậy, cảm thấy mối quan hệ này không mấy môn đăng hộ đối, tuy nhiên, may mắn là ấn tượng nhà họ Đỗ với Kim Dung khá tốt nên cũng không ngăn cản tình cảm giữa hai người.

Tháng 10 năm 1947, Kim Dung thi vào tờ “Đại Công Báo” tại Thượng Hải làm biên tập viên. Kể từ đó, Kim Dung rời khỏi Hàng Châu và bắt đầu ít qua lại nhà họ Đỗ. Trong thời gian này, Kim Dung và Đỗ Dã Phần vẫn thường xuyên thư tín qua lại. Tình cảm giữa hai người vẫn tiến triển khá tốt. Tới tháng 3 năm 1948, Kim Dung được chuyển tới làm biên tập viên tiếng Anh của tờ “Đại Công Báo” tại Hong Kong.

Lúc đó, chuyện tình giữa Dã Phần và Kim Dung mới bước vào giai đoạn nồng cháy nhất, do vậy, Kim Dung hoàn toàn không muốn rời Thượng Hải. Đỗ Dã Phần cũng không muốn Kim Dung đi Hong Kong. Trước khi Kim Dung lên đường, Đỗ Dã Phần đã tới Thượng Hải để đưa tiễn, nói : “Mỗi ngày chúng ta sẽ cầu nguyện một lần, để mong anh sớm quay trở về”.

9 Kim dung 2Lúc bấy giờ, ông chủ của tờ Đại Công Báo hứa rằng, Kim Dung chỉ đi Hong Kong khoảng nửa năm là có thể trở về. Tuy nhiên, nửa năm sau, vẫn chưa có ai tới thay cho Kim Dung. Lúc bấy giờ, tình cảm giữa Kim Dung và Dã Phần vẫn tiếp tục phát triển, hai người đã bắt đầu tính tới chuyện lập gia đình.

Vì thế, Kim Dung từ Hong Kong bay về Hàng Châu, chính thức cầu hôn Dã Phần. Sau khi nhà họ Đỗ đồng ý, vào mùa thu năm đó, hôn lễ của hai người được tổ chức một cách long trọng tại Thượng Hải. Chuyện tình yêu sét đánh kết thúc trong viên mãn.

Không lâu sau đó, Dã Phần theo Kim Dung tới Hong Kong. Do sống ở Hàng Châu đã lâu, Đỗ Dã Phần không biết tiếng Quảng Đông mà lúc bấy giờ, người Hong Kong cũng không nói tiếng phổ thông. Chính vì vậy, Dã Phần gần như không thể giao tiếp với bên ngoài, cuộc sống gặp nhiều điều bất tiện.

Trong khi đó, Kim Dung một mình làm công tác biên dịch tin tức tiếng Anh khá bận rộn, thường xuyên về muộn. Nhiều hôm, Kim Dung làm việc xuyên đêm tới sáng mới về. Ở nhà một mình lại không có con nên Dã Phần cảm thấy rất cô đơn.

Thêm vào đó, vốn xuất thân “cành vàng lá ngọc”, từ nhỏ đã quen với cuộc sống cơm bưng nước rót, nay lại phải sống nơi đất khách quê người, thu không đủ chi, Đỗ Dã Phần bắt đầu cảm thấy không thể tiếp tục cuộc sống ở Hong Kong được nữa. Sau nhiều lần căng thẳng, Đỗ Dã Phần quyết định một mình về Hàng Châu, hai vợ chồng trẻ chưa cưới nhau được bao lâu đã sống ly thân. Tới năm 1953, sau gần 5 năm kết hôn, Kim Dung và Đỗ Dã Phần quyết định ly hôn.

Nguyên nhân khiến hai người ly hôn cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Có người nói rằng, Đỗ Dã Phần cảm thấy chán ghét cuộc sống nghèo khổ ở Hồng Kông nên muốn về quê, hai vợ chồng không thể thống nhất được chuyện này nên mới ly hôn.

9 Kim dung 6Lại có người nói, do Đỗ Dã Phần không thể có con nên Kim Dung mới quyết định ly hôn. Cả hai giả thuyết này đều có sự hợp lý nhất định. Chỉ có điều, cho tới nay, dù nhiều người đã gặng hỏi, song Kim Dung vẫn nhất định không chịu tiết lộ nguyên nhân thực sự.

Lại một cuộc hôn nhân thất bại

Mọi chuyện trong cuộc đời con người đôi khi là sự sắp đặt đầy mỉa mai của tạo hóa. Nếu như người vợ đầu tiên bỏ Kim Dung mà đi vì không thể cùng ông chung vai sát cánh vượt qua những ngày tháng khó khăn thì chính Kim Dung lại là người đã bỏ rơi người vợ thứ hai của mình.

Người ta nói rằng, chỉ vì một câu nói khách khí của cô nhân viên quán rượu đã khiến Kim Dung kết thúc cuộc hôn nhân với Chu Mai – người vợ thứ hai – người đã cùng ông bước qua nhiều hoạn nạn. Có lẽ, đây chính là điều mà Kim Dung nói rằng ông “từng có lỗi với người khác”.

Người vợ thứ hai của Kim Dung tên là Chu Mai, còn gọi là Chu Lộ Tây hay Rosy. Chu Mai sinh năm 1933 tại Hong Kong, tốt nghiệp Đại học Hồng Kông, là một nữ phóng viên tài hoa và đầy nhiệt tâm với nghề. Chu Mai và Kim Dung kết hôn vào tháng 5 năm 1956, 3 năm sau khi Kim Dung ly hôn với người vợ đầu tiên. Hai người là đồng nghiệp, lại cùng là những người có kinh nghiệm phong phú trong nghề báo.

Lúc bấy giờ, ngoài công việc biên tập, Kim Dung bắt đầu sáng tác tiểu thuyết võ hiệp và trở nên nổi tiếng. Thu nhập từ việc xuất bản sách của Kim Dung không tệ, bản thân Chu Mai là phóng viên lâu năm, tích lũy cũng khá. Chính vì vậy, hai người quyết định chung tay sáng lập nên tờ Minh Báo.

Đây là một tờ báo hoàn toàn do hai vợ chồng Kim Dung gây dựng. Kim Dung làm tổng biên tập, nắm việc kinh doanh tổng thể, còn Chu Mai phụ trách phần tin tức. Ban đầu, lượng tiêu thụ của Minh Báo không tốt, áp lực của vợ chồng Kim Dung rất lớn. Nhất là kể từ khi con trai của hai người chào đời, gánh nặng kinh tế càng lớn hơn.

Thời gian đó, hai người gần như làm việc thâu đêm suốt sáng nhưng hai vợ chồng rất gần gũi. Một cốc cà phê để khỏi buồn ngủ, hai vợ chồng cũng uống chung.4 Kim Dung 2 Cứ như vậy, với sự nỗ lực phi thường, hai vợ chồng Kim Dung và Chu Mai đã duy trì được tờ Minh Báo.

Đặc biệt là khi tờ Minh Báo trở thành nơi đăng tải độc quyền các tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, lượng tiêu thụ của tờ Minh Báo đã tăng lên đáng kể. Cho tới năm 1966, tờ Minh Báo đã phát triển lên tới quy mô của tập đoàn, trở thành một trong những tờ báo lớn nhất ở Hồng Kông.

Lúc bấy giờ, Chu Mai đã lần lượt sinh cho Kim Dung 2 đứa con trai và 2 đứa con gái. Với sự phát triển của Minh Báo, đáng ra, Chu Mai có thể yên tâm ở nhà chăm sóc gia đình con cái. Tuy nhiên, Chu Mai lại là một người phụ nữ tham vọng và thích theo đuổi sự nghiệp hơn là gia đình.

Sau tờ Minh Báo, Chu Mai một mình sáng lập nên các tờ Hoa Nhân Dạ Báo Minh Báo Vãn Báo, dồn toàn bộ tâm sức của mình vào sự nghiệp. Cũng vì thế, Chu Mai đã không tính được rằng, Kim Dung vì sự thiếu hụt trong tình cảm vợ chồng mà tìm đến người phụ nữ khác. Sau đó không bao lâu, Kim Dung và Chu Mai quyết định chia tay.

Lúc đó con trai cả của Kim Dung và Chu Mai là Tra Truyền Hiệp đang học tại Đại học Columbia ở Mỹ từng nhiều lần gọi điện, viết thư khuyên cha mình không nên ly hôn với mẹ. Tuy nhiên, tình cảm giữa Kim Dung và Chu Mai đã rạn nứt tới mức không thể hàn gắn được.

9 Kim dung 4Lúc bấy giờ, để bảo vệ quyền lợi của các con mình, Chu Mai đã đưa ra hai điều kiện ly hôn với Kim Dung : một là, Kim Dung phải đưa ra một khoản tiền bồi thường cho mình. Hai là, người phụ nữ mà Kim Dung kết hôn sau này phải “làm kế hoạch” để đảm bảo Kim Dung không có thêm người con nào khác. Kim Dung đồng ý cả hai điều kiện này. Sau khi ly hôn, tất cả những người con mà Chu Mai sinh cho Kim Dung đều sống với bố.

Kể từ sau khi ly hôn với Kim Dung, Chu Mai sống độc thân. Cho tới mùa đông năm 1998, Chu Mai mắc bệnh qua đời, thọ 63 tuổi. Chu Mai là người đã cùng với Kim Dung bước qua giai đoạn nhiều sóng gió và khó khăn nhất trong cuộc đời. Đáng tiếc, vào thời điểm sự nghiệp của Kim Dung huy hoàng nhất, bà lại phải chịu cảnh cô đơn một mình. Có lẽ đây cũng là một lý do khiến Kim Dung mãi tới sau này vẫn cảm thấy rằng, mình là người có lỗi với Chu Mai.

Tình yêu tuổi xế chiều

Lâm Di Lạc là người vợ thứ ba của Kim Dung. Xét về tuổi tác, Lâm Di Lạc kém Kim Dung tới 29 tuổi, thuộc vào hai thế hệ hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, cặp uyên ương vong niên này dù kết hôn hơn 20 năm nay vẫn thân mật như những đôi tình nhân thuở ban đầu. Có lẽ, cuộc hôn nhân có chút lệch pha này lại giúp cuộc sống những năm cuối đời của tác giả kiếm hiệp Kim Dung có thêm chút màu sắc.

Kim Dung gặp Lâm Di Lạc trong một lần rất tình cờ. Những năm 1970, khi vợ của Kim Dung là Chu Mai sáng lập tờ “Hoa Nhân Dạ Báo”. Đây cũng là một tờ báo thuộc tập đoàn Minh Báo. Tuy nhiên, sau đó, Chu Mai và Tổng biên tập của tờ báo này là Vương Thế Du có bất đồng ý kiến. Mâu thuẫn không được giải quyết triệt để nên càng ngày càng thêm trầm trọng.

Vương Thế Du cho rằng mình bị chèn ép, nổi giận từ chức, mang theo toàn bộ đội ngũ phóng viên do Vương xây dựng. Điều này khiến Hoa Nhân Dạ Báo rơi vào tình trạng ngưng trệ. Chuyện của Vương Thế Du khiến một người phụ nữ tham vọng như Chu Mai cảm thấy mất mặt và bao nhiêu nỗi tức giận đối với Vương Thế Du, Chu Mai đều đem đổ lên đầu Kim Dung.

Bản thân Kim Dung thì cho rằng, trong sự việc của Vương, Chu Mai đã xử lý không tốt. Đến khi sự việc không như ý lại đổ lên đầu Kim Dung nên cảm thấy rất bực bội. Vì thế, hai người cãi nhau một trận lớn. Sau khi cãi nhau, Kim Dung cảm thấy rất buồn bực, quyết định tới một quán rượu ở gần cơ quan uống cà phê để giải khuây.

Tại đây, Kim Dung đã gặp cô nhân viên phục vụ 16 tuổi Lâm Di Lạc. Lúc bấy giờ, như rất nhiều cô gái trẻ thời bấy giờ, Lâm Di Lạc rất thích tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Vì vậy, khi thấy Kim Dung bước vào quán thì cô nhận ra ngay, phục vụ rất nhiệt tình, đon đả. Kim Dung thấy cô gái trẻ tuổi, xinh đẹp và đầy sức sống thì cũng có cảm tình.

Nhân lúc đó, quán vắng người nên hai người ngồi nói chuyện và cảm thấy rất vui vẻ. Khi thanh toán, Kim Dung đã boa cho Lâm Di Lạc 10 tệ tiền phục vụ. Lâm Di Lạc nhìn thấy đồng 10 tệ thì rất kinh ngạc vì trước nay chưa có vị khách nào lại hào phóng với nhân viên phục vụ ở quán tới như vậy. Bởi lẽ, vào thời bấy giờ, 10 tệ mà Kim Dung đưa cho Lâm Di Lạc bằng cả nửa tháng lương của cô.

9 Kim dung 7Lâm Di Lạc băn khoăn một hồi, cảm thấy rằng số tiền quá lớn và cô không thể nhận được nên trả lại cho Kim Dung và nói : “Chú viết sách để kiếm tiền, cũng chẳng dễ dàng gì. Cháu thích sách của chú, có cơ hội quen biết chú là cháu đã vui lắm rồi. Cháu không thể nhận tiền của chú”.

Mấy câu nói khách khí của cô gái trẻ tuổi và xinh đẹp đã khiến một nhà văn đình đám thời bấy giờ cảm thấy lòng dạ lâng lâng. Không ai ngờ rằng, câu nói đó sau này đã biến Lâm Di Lạc trở thành người vợ thứ ba của tác gia võ hiệp Kim Dung.

Sau cuộc gặp đó, trong đầu Kim Dung lúc nào cũng luẩn quẩn hình ảnh của cô gái trẻ Lâm Di Lạc. Sau đó, bất cứ khi nào có thời gian rỗi, Kim Dung lại tới quán của Lâm Di Lạc, khi uống cốc cà phê, lúc uống ly rượu. Lâu dần, Kim Dung và Lâm Di Lạc bắt đầu qua lại mật thiết hơn. Một lần, Kim Dung cao hứng uống khá nhiều rượu, bị say và gục xuống bàn ngủ luôn tại quán.

Lâm Di Lạc cùng một nhân viên phục vụ khác dìu Kim Dung vào ghế sôfa nằm nghỉ. Lâm Di Lạc cũng có cảm tình với Kim Dung nên tranh thủ lúc giải lao để vào thăm ông. Đúng lúc Lâm Di Lạc bước vào thì Kim Dung cũng vừa tỉnh dậy. Lâm Di Lạc nói : “Chú Kim, chú thấy khỏe hơn chưa ? Vừa nãy chú uống nhiều quá”. Nói xong, Lâm Di Lạc rót cho Kim Dung một cốc trà nóng uống để giải rượu. Kim Dung cầm cốc trà nóng từ tay Lâm Di Lạc rồi đột ngột nắm lấy đôi tay nhỏ nhắn của cô gái trẻ, đột ngột nói : “Em có muốn lấy anh không ? Em có sợ anh quá già không ?” Những câu hỏi dồn dập và đột ngột của Kim Dung khiến Lâm Di Lạc lúng túng không biết trả lời ra sao.

9 Kim Dung 1Một hôm sau, Kim Dung lại tới quán rượu, lặng lẽ quan sát Lâm Di Lạc với hy vọng rằng, cô sẽ trả lời câu hỏi của mình. Lâm Di Lạc lúc này mới bước lại gần, nói nhỏ với Kim Dung: “Em rất thương anh và em sẽ chăm sóc anh thật tốt”. Kể từ đó, đôi tình nhân một già một trẻ bắt đầu đến với nhau. Không lâu sau đó, Kim Dung mua một căn nhà để hai người dọn tới sống cùng nhau.

Ban đầu, vợ của Kim Dung là Chu Mai không hề biết chuyện này. Lúc đó, Kim Dung vì bận viết các bài xã luận cho Minh Báo rất muộn mới về nhà, có hôm không về nên Chu Mai không nghi ngờ gì. Sau đó, Chu Mai phát hiện ra rằng, Kim Dung mặc dù không về nhà nhưng lại vẫn sai người đi ra bên ngoài lấy bài viết của mình để mang về in. Cảm thấy nghi ngờ, Chu Mai đã vặn hỏi người này. Kết quả, Chu Mai phát hiện Kim Dung có người phụ nữ khác.

Khi mọi chuyện vỡ lở, Kim Dung là người đề xuất chuyện ly hôn. Sau khi chấp nhận các điều kiện do Chu Mai đưa ra, Kim Dung và Lâm Di Lạc tổ chức một hôn lễ đơn giản rồi chính thức về ở với nhau. Sau đó, Kim Dung đưa Lâm Di Lạc sang Úc du học. Bốn năm sau, Lâm Di Lạc lại quay trở về bên cạnh Kim Dung, trở thành một trợ thủ đắc lực của ông.

Khác với Chu Mai, một người phụ nữ đầy tham vọng, Lâm Di Lạc là một người vợ hiền lành và an phận đúng nghĩa. Không được phép sinh con với Kim Dung, song Lâm Di Lạc vẫn chăm sóc 3 đứa con của Chu Mai và Kim Dung một cách rất ân cần và không một lời oán thán.

Cách hành xử của Lâm Di Lạc khiến ngay cả Chu Mai cũng không thể nói nửa câu bất mãn với cô. Có điều, việc không thể có con với nhau cũng là một thiệt thòi ghê gớm đối với một người phụ nữ trẻ tuổi và hiền lành như Lâm Di Lạc.

CON TRAI KIM DUNG CHẾT THẢM RA SAO ?

Cái chết của cậu con trai cả đã trở thành vết thương không bao giờ lành trong lòng của “đại gia võ hiệp” lừng danh Kim Dung.

6 Kim Dung 3Tháng 10 năm 1976, khi đang học tại Đại học Colombia, Mỹ, Tra Truyền Hiệp đã treo cổ tự vẫn tại ký túc xá của trường. Tuy nhiên, câu hỏi được nhiều người đặt ra là, điều gì đã khiến một thanh niên mới 19 tuổi như Tra Truyền Hiệp chọn cái chết thê thảm như vậy ?

Cái chết thê thảm

Trong số những đứa con của Kim Dung, cậu con trai cả Tra Truyền Hiệp là người được cho là có nhiều gen của cha mình nhất. Khi Tra Truyền Hiệp chỉ mới bi bô học nói, Kim Dung đã dạy cho cậu học “Tam Tự Kinh”. Khi lên 4 tuổi, Tra Truyền Hiệp đã thuộc làu cuốn sách này. Mọi người đều gọi cậu cả nhà họ Tra là “thần đồng”.

Được sự hun đúc của gia đình, Tra Truyền Hiệp từ nhỏ đã rất hứng thú với tiểu thuyết. Năm 1965, khi tiểu thuyết “Hiệp Khách Hành” của Kim Dung được đăng tải trên tờ “Minh Báo”, Tra Truyền Hiệp đã đọc ngấu nghiến, tới mức cha mình đến bên cạnh, gọi liền mấy tiếng mà không biết.

Tới năm 14 tuổi, Tra Truyền Hiệp bắt chước cha, viết một bài văn nói rằng cuộc đời là bể khổ, chẳng có ý vị gì, có ý định “rời bỏ cuộc đời”. Mọi người đọc bài văn của Tra Truyền Hiệp nói rằng cần phải ngăn chặn những ý nghĩ điên rồ như vậy.

Tuy nhiên, Kim Dung thì lại cho rằng cảm giác của con trai là đúng, thậm chí còn khen ngợi con trai mình là thông minh, tư tưởng sâu sắc. Có lẽ vào thời điểm ấy, Kim Dung không thể nghĩ được rằngcậu con trai cả mà mình hết sức yêu quý lại chọn cái chết để rời bỏ cuộc đời khi mới chưa đầy 20 tuổi.

Tháng 10 năm 1976, khi đang học tại Đại học Colombia, Mỹ, Tra Truyền Hiệp đã treo cổ tự vẫn tại ký túc xá của trường. Cái chết của cậu con trai cả đã trở thành vết thương không bao giờ lành trong lòng của “đại gia võ hiệp” lừng danh.

Sau này, Kim Dung có kể lại rằng : “Khi nhận được tin con trai qua đời tại Mỹ, tôi vô cùng đau xót và thương tâm. Tuy nhiên, hôm đó, tôi vẫn phải lên tòa soạn để viết xã luận. Vừa viết mà nước mắt tôi không ngừng chảy xuống. Thế nhưng tôi vẫn phải viết…”.

9 Kim DungSau đó, Kim Dung tự mình bay sang Mỹ mang hài cốt của con trai về Hồng Kông an táng. Vài tháng sau đó, trong phần “Lời cuối sách” của cuốn “Ỷ Thiên Đồ Long Ký”, Kim dung viết : “Tuy nhiên, sự bi thương, đau xót khi Trương Tam Phong nhìn thấy Trương Thúy Sơn tự vẫn hay khi Tạ Tốn nghe tin về cái chết của Trương Vô Kỵ, tôi đã viết thật nông cạn.

Trong cuộc sống đời thực, mọi chuyện không hề diễn ra như thế. Nguyên nhân cũng là vì lúc viết tác phẩm này, tôi vẫn chưa hiểu rõ nên không thể viết ra được nỗi đau xót và bi thương vô hạn của họ”. Kim Dung viết “Ỷ Thiên Đồ Long Ký” năm 1961, khi đó, ông vẫn chưa có những trải nghiệm thực tế về nỗi bi thương, đau xót mà Trương Tam Phong hay Tạ Tốn đã trải qua khi chứng kiến cái chết của Trương Thúy Sơn và Trương Vô Kỵ.

Tuy nhiên, tới tháng 3/1977, khi Kim Dung cầm bút viết những dòng này, cũng là lúc con trai Tra Truyền Hiệp tự vẫn mới vỏn vẹn 5 tháng. Nỗi đau mất con, sự xót xa cho đứa con trai trẻ dại vẫn còn mới nguyên. “Đại gia võ hiệp” Kim Dung đã viết những lời chân thật nhất từ tận đáy lòng. Tuy nhiên, câu hỏi mà nhiều người đặt ra là vì sao Tra Truyền Hiệp lại tự sát khi mới có 19 tuổi ?

Hai giả thuyết

Cho tới nay, Kim Dung rất ít khi nói tới chuyện đời sống riêng tư của mình. Về cái chết đau đớn của con trai cả Tra Truyền Hiệp, ông gần như không hề nhắc tới. Tuy nhiên, nhiều người suy đoán rằng, việc cậu con cả nhà họ Tra lựa chọn cái chết là vì hai nguyên nhân và cả hai nguyên nhân đều vì một chữ: Tình.

Nhiều người nói rằng, việc Tra Truyền Hiệp tự vẫn có liên quan tới chuyện ly hôn của cha mẹ. Năm 1959, khi Tra Truyền Hiệp chào đời cũng là lúc Kim Dung cùng người vợ thứ hai là Chu Mai sáng lập tờ “Minh Báo”. Đây là những tháng ngày khó khăn nhất trong cuộc đời của Kim Dung.

2 Hap tinh 3Và chính nhờ có sự động viên, giúp đỡ của Chu Mai cùng với động lực từ đứa con trai, Kim Dung đã vượt qua được những khó khăn đầu tiên, giúp tờ “Minh Báo” đứng vững và trở thành một tờ báo có tiếng tăm. Lúc bấy giờ, Chu Mai đã sinh cho Kim Dung 4 người con, 2 trai 2gái. Tuy nhiên, Chu Mai lại là một người phụ nữ quá tham vọng.

Sau tờ “Minh Báo”, Chu Mai một mình sáng lập nên các tờ “Hoa Nhân Dạ Báo” và “Minh Báo Vãn Báo”, dồn toàn bộ tâm sức của mình vào sự nghiệp. Cũng vì thế, Chu Mai đã không ngờ được rằng Kim Dung vì sự thiếu hụt trong tình cảm vợ chồng mà tìm đến người phụ nữ khác. Sau đó không bao lâu, Kim Dung và Chu Mai quyết định chia tay.

Khi biết tin cha mẹ ly hôn, Tra Truyền Hiệp khi đó đang học tại Mỹ đã nhiều lần viết thư, gọi điện khuyên Kim Dung không nên ly hôn với mẹ. Tuy nhiên, khi đó, Kim Dung đã có người phụ nữ khác (chính là người vợ thứ 3 của Kim Dung) nên chuyện ly hôn là không thể tránh khỏi.

Sau khi Kim Dung chấp nhận yêu cầu chia tài sản của Chu Mai, hai người chính thức ly hôn. Nhiều người cho rằng Tra Truyền Hiệp lớn lên trong sự bảo bọc của cha mẹ, 6 Kim Dung 1được cha mẹ dồn cho tất cả sự yêu thương nên tình cảm gia đình rất sâu nặng.

Thêm vào đó, Tra Truyền Hiệp là một người sống khá cầu toàn nên không thể nào chịu đựng được việc cha mình có người phụ nữ khác và bố mẹ ly hôn với nhau. Đây chính là lý do đã khiến Tra Truyền Hiệp quyết định tự sát. Và đây cũng chính là nguyên nhân khiến Kim Dung sau này vô cùng đau lòng và hối hận trước cái chết của con trai.

Một giả thuyết khác thì lại cho rằng, Tra Truyền Hiệp treo cổ tự vẫn không phải vì chuyện ly hôn của cha mẹ mà vì mâu thuẫn trong chuyện tình cảm của mình. Nhiều người nói rằng, lúc bấy giờ, Tra Truyền Hiệp đang học đại học năm thứ nhất, vẫn còn chưa chọn chuyên ngành. Lúc đó, cậu cả nhà họ Tra có một cô bạn gái ở thành phố San Francisco.

Hôm đó, hai cô cậu gọi điện cho nhau. Trong cuộc nói chuyện, hai người nảy sinh mâu thuẫn và cãi nhau. Vì chuyện cãi cọ với người yêu, Tra Truyền Hiệp đã rất đau khổ và nảy ra ý định không muốn sống nữa. Trong giây phút nông nổi nhất thời, cậu con trai của Kim Dung đã quyết định treo cổ tự vẫn.

Nhiều người nói rằng việc Tra Truyền Hiệp từ khi 14 tuổi đã viết những câu chữ “đời vô nghĩa, muốn rời bỏ cuộc đời” là dấu hiệu cho thấy việc tìm đến cái chết đã “tiềm ẩn” trong đầu Tra Truyền Hiệp từ lâu. Đáng tiếc, khi biết chuyện này, Kim Dung không những không ngăn cản ý nghĩ ấy như lời khuyên của mọi người, ngược lại, còn cổ động, khen ngợi con trai của mình là người thông minh.

HNg Huynh V. Yen 3Đây cũng có thể là lý do khiến Kim Dung cảm thấy hối hận và đau xót trước cái chết quá trẻ của con trai. Trên thực tế, cả hai giả thuyết nói trên vẫn chỉ là… giả thuyết và vẫn chưa được kiểm chứng. Kim Dung cho tới nay vẫn chưa tiết lộ nửa lời về những bí ẩn phía sau cái chết thảm của cậu con trai.

Tuy vậy, có thể dự đoán rằng việc Kim Dung và vợ ly hôn đã gây ra cho Tra Truyền Hiệp một cú sốc lớn. Và rất có thể, chuyện cãi nhau với người yêu chỉ là giọt nước làm tràn ly đẩy Tra Truyền Hiệp tới cái chết.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo thu gian 2

Tr Ong gia 2“BỆNH LÃNG TRÍ DO TUỞI GIÀ”

Bệnh này phát triển như sau :

Tui quyết định sẽ đi tưới khu vườn sau nhà. Ngay khi vừa bật vòi nước ở bên hè, tui nhìn thấy chiếc ô tô và nghĩ là nó cần được tắm rửa liền. Khi bước về phía nhà xe, tui thấy đống thư từ vừa lấy từ thùng thư mà chưa mang vô nhà.  Tui quyết định mang thư vô trước rồi rửa xe sau.

Tui để chùm chìa khóa trên bàn, bỏ những thư rác vào giỏ rác dưới bàn rồi thấy giỏ rác quá đầy. Do đó tui quyết định bỏ những hóa đơn xuống và đi đổ rác trước. Nhưng tui nghĩ lại, nếu sẵn đi đổ rác gần thùng thư, tại sao không ký để gởi những hóa đơn nợ luôn.

Tui lấy tập chi phiếu ra từ ngăn kéo nhưng xui quá chỉ còn tấm cuối cùng. Các tập chi phiếu trống thì lại bỏ trong phòng làm việc. Tui đi vô nhà đến bàn giấy thì thấy lon Pepsi bèn cầm lên uống luôn. Đang tìm tập check tui tìm chỗ để lon Pepsi cho khỏi đỗ. Tui quyết định bỏ lon Pepsi vào tủ lanh.

Anh dongCầm lon Pepsi vào bếp, tui chợt thấy bình hoa trên quầy bếp đã cạn nước. Vừa để lon nước xuống tui bỗng nhìn thấy cặp kính lão tui đi tìm từ sáng đến giờ. Tui quyết định sẽ đem để cặp kính vào bàn giấy ngay sau khi tưới hoa.

Để kính xuống bàn, tui định hứng nước vào bình tưới thì bỗng thấy cái remote control của TV ai để trên bàn bếp. Tui biết là tối nay xem TV tui lại phải đi tìm cái remote control này nên quyết định sẽ đem để nó trên bàn ngủ ngay sau khi tưới hoa.

Khi hứng nước vào bình không khéo nên bị đỗ vương vãi ít nước trên sàn nhà. Bởi vậy tui để remote control lên bàn, lấy khăn lau khô chỗ nước đọng. Xong xuôi tui bước lên nhà trên và ráng nhớ xem mình đang định làm việc gì.

Anh dong 2Kết quả cuối ngày hôm đó :

* Ô tô chưa rửa * Hóa đơn chưa ký * Lon Pepsi ấm còn ở trên bàn * Bình hoa vẫn còn thiếu nước * Tập chi phiếu còn tấm cuối cùng * Remote TV vẫn còn bị lạc * Cặp kính lão còn chưa tìm thấy * Quên bẵng mình đã làm gì với chùm chìa khóa xe *  Tui ráng nghĩ coi tại sao cả ngày không làm được việc gì * Tui hoang mang nhớ là tui rất bận bịu cả ngày và bây giờ mệt nhừ

Tui biết đây là những triệu chứng không ổn. Tui cần phải tìm người cố vấn về chuyện này. Nhưng đầu tiên tui phải vào check email trước. Xin làm ơn giúp tui một việc: chuyển email này đến mọi người. Nhưng tui không nhớ tui đã gởi email này đến cho ai. Đừng cười vì sẽ có ngay bạn như vậy

Yên Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (15)

Logo vannghe A

NS Anh BangNGHI ÁN NHẠC PHẨM

“NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI” 

CỦA NHẠC SĨ ANH BẰNG 

Bấm vào đây để nghe Tâm Hảo hát Nỗi lòng người đi và với Tuần Ngọc : http://youtu.be/O-HSGY5J7ko

Cùng ca khúc “Tôi xa Hà Nội” để tham khảo :

http://youtu.be/MBSelq0sRQ8

Ca khúc Nỗi lòng người đi - của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1 trong chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 tới. Tuy nhiên, cách đây 2 năm có một người đứng ra nhận mình là tác giả bài hát này. Ông là Khúc Ngọc Chân – nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.

Theo nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha – người công bố những nghi vấn tác giả của Nỗi lòng người đi thì “bài hát vốn được mang tên thật là Tôi xa Hà Nội với vài lời ca khác Nỗi lòng người đi“. Thethaovanhoa.vn đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha gặp Khúc Ngọc Chân tìm hiểu rõ hơn về sự thật này.

* Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi lòng người đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không ? 9 Noi long 2Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không ?

- Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được. Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi. Tôi sinh năm 1936 tại phố Tô Tịch, Hà Nội. Năm 1954 tôi tròn 18 tuổi, cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng ta sắp vào hồi kết. Bởi vậy, tôi cũng như các thanh niên Hà Nội nơm nớp sợ bị bắt lính, tống ra các chiến trường và gia đình xin tôi làm sửa chữa máy vô tuyến điện trong thành Hà Nội. Vốn yêu âm nhạc, tôi tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây và quen một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém 2 tuổi. Chúng tôi đã có những ngày đầu yêu thương bên bờ Hồ Gươm thơ mộng.

Tuy nhiên, vài tháng sau, gia đình người yêu bất ngờ xuống Hải Phòng chờ di cư vào Nam. Lúc đó, tôi tìm xuống Hải Phòng tiễn người yêu. Với cây đàn guitar luôn mang theo bên mình, tôi đã viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng diễn tả những ngày tháng xa Hà Nội, ước hẹn cùng nhau, mong người yêu hãy gắng chờ đợi, tôi sẽ tìm nàng ở Sài Gòn, bởi lúc đó nàng mới 16 tuổi, chúng tôi chưa thể cưới nhau được.

9 Noi long 5Toàn bộ ca khúc Tôi xa Hà Nội như sau:

Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều

Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ

Ai đứng trông ai bên hồ

Khua nước chơi như ngày xưa

9 Noi long 3Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say

Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy

Bạn lòng ơi, thuở ấy tôi mang cây đàn

Quen sống ca vui bên nàng

Nàng khóc tơ duyên lìa xa…

Giờ đây biết ngày nào gặp nhau

9 Noi long 4Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu

Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời

Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi

Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ

Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui

Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi

Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời

9 Noi long 8Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi

Ngay sau khi viết xong Tôi xa Hà Nội, tôi tập cho người yêu hát thuộc lòng. Khi ấy đã là cuối tháng 11/1954. Sau ngày tiễn người yêu xuống tàu há mồm di cư vào Nam tôi trở về Hà Nội. Năm 1956, tôi vào trường nhạc (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam hiện nay) học đàn cello, rồi tốt nghiệp và công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Còn nàng, vào Sài Gòn mưu sinh và đầu quân cho một quán bar. Và ca khúc của tôi thường được người yêu hát trong những đêm thương nhớ. Những năm 1960, vì gia đình thúc ép, tôi buộc lòng phải lấy vợ nhưng không đăng ký kết hôn (và chỉ đăng ký khi đã 74 tuổi).

Ngày đất nước thống nhất, khi cùng Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, tôi đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo khi mới vào tuổi 30. Tuy nhiên, khi vào đây tôi mới thấy bài hát chính thức của tôi được đổi tên thành Nỗi lòng người đi nhạc Anh Bằng, đề là phổ thơ Nguyễn Bính…

Nguyen Binh 2* Sau này rồi có ai biết có bài nào nhác nhác như thế của ông Nguyễn Bính không ?

- Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế. May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi lòng người đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không có nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà.

* Ông nói rằng Nỗi lòng người đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông ?

- Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao ?

Bây giờ, tôi mong muốn Tôi xa Hà Nội của tôi trở về đúng lời, đúng giai điệu đẹp, đúng nội dung tâm tình của tôi bởi phải Người Hà Nội với nếp sống Hà Nội, địa dư Hà Nội, gốc tích Hà Nội mới hiểu được câu Ai đứng trông ai bên hồ / Khua nước chơi như ngày xưa. Anh Bằng sữa chữ chơi thành trong là sai, vì nước hồ Gươm hay còn gọi Lục Thủy không có khái niệm “trong” mà là nước “xanh” hẳn hoi.9 Noi long 9 Còn ngồi khua nước bao giờ, ở chỗ nào? Hỏi nhiều người bây giờ khó mà tìm thấy. Xin thưa, đó là đằng sau đền Ngọc Sơn, chỗ có cây si rễ sà xuống mặt nước. Chúng tôi ngồi chơi rồi, té nước vào nhau. Những từ như thế này ngay cả Nguyễn Bính cũng không có, phải là từ của tôi, người sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.

Khi tôi viết Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi là viết rất thực về những ngày luồn lủi, nơm nớp sợ bắt lính, sống không yên chút nào trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm. Hay câu Sài Gòn ơi mộng với tay cao hơn trời tôi viết để miêu tả dáng dấp của tượng nữ thần Tự Do, đồng thời cũng thể hiện mộng ước xa vời gặp lại người yêu.

Còn câu cuối Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi là lời bài hát của Anh Bằng. Lời của tôi là Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi. Tôi cũng không đồng tình với chữ tan trong câu Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều mà phải là bay, vì hai người vẫn hẹn ước gặp lại nhau, chứ không phải đoạn tuyệt. Tương tự: Nàng khóc tơ duyên lìa xa, chứ không phải lìa tan. Bài của Anh Bằng nhịp slow 4/4, bản của tôi lả lướt hơn theo nhịp 3/8, bởi tôi viết nhịp đó theo luật của lời thơ.

* Khi nhận Nỗi lòng người đi hay Tôi xa Hà Nội là của mình, ông khẳng định không có ý tranh chấp tác quyền. Vậy ông mong muốn điều gì ?

- Đúng vậy. Tôi đã không công bố Tôi xa Hà Nội cũng như các bản tình caHng Ng Toan Nang khác của mình vì thời đó ở Hà Nội, những bài hát kiểu này được coi là không phù hợp. Với tôi bây giờ, tên ai không thành vấn đề, vì giai điệu của tôi được hát chỗ này chỗ kia là thích rồi. Bài này của tôi bình thường, tôi còn nhiều bài hay hơn, tiếc là chưa bài nào được vang lên ! (theo báo Tiền Phong)

* Xin cảm ơn ông !

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo bay gio ke

9 Song Nha BeSỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

(Truyện Thủ Huồn [1])

Ngày xưa ở đất Gia-định (thuộc đất Biên Hòa và Quận Bình Thạnh ngày nay) có một người tên là Thủ Huồn. Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của. Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết. Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn “giạ” lúa.

Khi thấy cuộc sống quá sung túc, hắn mới thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả.

Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng Yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng sáu, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra miền Trung, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu.

Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:

9 Nha Be 1- Mình lâu nay làm gì ?

- Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ.

Hắn nói:

- Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không ?

- Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm.

Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng:

- Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.

Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói :

- Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích.

Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.

9 Nha Be 2Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục :

- Thứ gông này để làm gì ?

- Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông to hay nhỏ thì biết tội ác của nó.

Thủ Huồn lại hỏi :

- Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai ?

Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc : “Hắn là Võ Thủ Hoằng tức là Thủ Huồn”. Rồi nói tiếp :

- Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện…

Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm :

- Thế nào ? Hắn có tội gì ?

Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách.

9 Nha Be 3- Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này : năm Ất sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm…
Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng.

- Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông ?

- Ồ! Ai làm người ấy chịu chứ ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.

Thủ Huồn lại hỏi gặng :

- Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào ?

Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp :

- Đã vay thì phải trả ! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.

Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ :

9 Nha Be 4- Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe !

Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng cơm, tốn kém kể tiền vạn.

Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau :

- “Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi !” hay là :

- “Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt”.

Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay. Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.

Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa: cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay,… Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục :

9 Nha Be 5- Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.

- Đúng đấy ! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.

Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí và cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng. Hồi đó ở ngã ba sông Đồng-nai và sông Gia-định việc đi lại rất bất tiện. Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng-nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp.

Thủ Huồn liền quyết định ở lại đây. Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo. Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại, nhất là những người nghèo khó. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.

oOo

Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: “Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng”, nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở cõi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc.

Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên-hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn: chỗ ngã ba sông Đồng-nai và Gia-định 9 Nha Be 6còn gọi là sông Nhà-bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách hộ hành Nam Bắc qua con sông đó [2].

Có câu tục ngữ:

Nhà bè nước chảy phân hai,

Ai về Gia-định Đồng-nai thì về.

Khảo dỊ

Truyện trên giống với truyện Người đi dạo âm phủ cũng do Jê-ni-bren (Génibrel) sưu tập :

Có hai vợ chồng một người ở Nam-định, nhà giàu có lớn. Họ sinh được một cô con gái rất xinh và khôn ngoan tên là Trần Thị Xuân. Đặc biệt là mỗi bàn tay có sáu ngón. Không may năm nàng mười ba tuổi thì bị lên đậu trời mà chết. Thương nhớ con gái, hai vợ chồng không thiết làm ăn gì nữa. Nghe nói ở Quảng-yên có chợ Mạnh-ma, ở đấy dương gian và âm phủ có thể gặp nhau được, hai vợ chồng bèn tìm đến, mong được gặp con. Họ có mang theo một cái quả bằng bạc sắm cho cô gái lúc còn sống.

Nhằm ngày mồng một tháng Sáu họ đến chợ giả bày hàng ra bán. Lát sau, người con gái đến hàng mua trầu, trông thấy cái quả của mình liền hỏi chuyện. Cha mẹ nhận ra con nhờ có bàn tay sáu ngón của cô và được con mời đi dạo cảnh âm phủ.

Chồng của cô là một viện quan giám thành, đưa cha mẹ vợ đi coi các cửa ngục. Khi đến cửa thứ nhất, hai vợ chồng thất kinh thấy tên tuổi của họ có yết ở cửa ngục. Họ vờ hỏi chàng rể tại sao có tên yết ở cửa, thì hắn bảo :

- “Hai người đó ở dương gian cho người ta vay nợ một lớp vốn năm bảy lớp lời làm cho người ta phải bán vợ đợ con nên yết lên để chờ làm tội”.

Hai vợ chồng lại hỏi :

- “Vậy chúng nó muốn khỏi tội thì phải làm thế nào ?”

- “Phải làm chay bố thí cho hết của đó, mới mong khỏi được”.

Trở về làng cũ hai vợ chồng dốc của cải ra đón sư làm chay và mạnh tay bố thí. Sau khi hết của họ lại lần mò ra chợ Mạnh-ma tìm con gái và định đòi xuống âm phủ xem thế nào. Nhưng cô gái vừa gặp cha mẹ đã bảo :

- “Cha mẹ đã sạch tội rồi, không còn thấy tên ở cửa ngục nữa. Vậy chả cần xuống làm gì”.

Cả hai truyện trên có lẽ chịu ảnh hưởng từ một số Phật thoại ngoại lai trong đó có truyện Mục Liên thăm mẹ ở địa ngục khá phổ biến ở Việt-nam. Phần cuối truyện Thủ Huồn tương tự với Sự tích sư ông Huyền Chân Truyện bà Hiếu.

9 Nha Be 7Sự tích sư ông Huyền Chân : Xưa, ở chùa Quang Minh, xã Hậu-bổng (Hải-dương) có một hòa thượng nổi tiếng chân tu. Lúc về già, Phật Di-đà hiện lên báo mộng rằng :

- “Nhà người có công với đạo Phật, kiếp sau sẽ cho giáng sinh làm vua Trung-quốc”. Khi hòa thượng chết, đệ tử vâng lời thầy viết vào vai mấy chữ “Hòa thượng Huyền Chân chùa Quang Minh “.

Về sau có lần sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc. Khi yết kiến, chánh sứ Nguyễn Tự Cường được vua Minh Hy Tông cho biết là mình sinh ra trên vai có mấy chữ, rửa mấy cũng không sạch, không biết đầu đuôi vì sao. Nguyễn Tự Cường về dò hỏi mới biết câu chuyện sư Huyền Chân, vội mang nước giếng chùa Quang Minh sang cho vua Trung-quốc. Kết quả, nước rửa đến đâu chữ mất đến đấy [3].

Truyện bà Hiếu : Ở làng Linh Chiểu Đông (Gia-định) có người đàn bà tên là Hiếu nhà giàu, không có con cái. Bà bèn lập chùa Hòa Nghiêm bao vây một khoảng đất rộng để cho kẻ nghèo chôn cất làm phúc. Nhờ có công đức đó nên khi chết được đầu thai làm con gái vua Trung Quốc. Công chúa khi đẻ ra có chữ son “Gia-định, Linh-chiểu Đông, chùa Hoa-nghiêm” vua Trung-quốc cho là sự lạ, gửi giấy sang hỏi bên ta. HNg Huynh V. YenSau đó vua sai cúng vàng bạc vào chùa và xin đưa bài vị sang để thờ. Làng không chịu, chỉ làm một bài vị khác đưa sang cho vua Trung Quốc [4].

[1] Theo Trương Quốc Dụng trong Thoái thực ký văn.

[2] Theo Jê-ni-bren (Génibrel), sách đã dẫn, và tham khảo Thơ ông Thủ Huồn của Nguyễn Hữu Rằng.

[3] Theo Vũ Phương Đề. Công dư tiệp ký.

[4] Theo Lăng-đờ (Landes). Sách đã dẫn.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo thu gian

Tr thu gian 1Tr thu gian 2

TÂM SỰ CÙNG NHAU

Logo tam su 1

Bia dac san 4MỰC TÍM

Tùy bút : Uyên Sồ

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường

Sợ thư tình chưa đủ nghĩa yêu đương

Anh pha mực cho vừa màu áo tím

Những vần thơ của NGUYÊN SA dìu ta vào cõi nhớ mênh mông.

Nhớ về mảnh trời hồng thuở xa xăm thơ ấu.

Nhớ về một màu sắc học trò đã thấm sâu vào máu thịt hàng nửa thế kỉ.

Màu tím của mực. Màu tím của xuyến xao những lá thư tình. Màu tím của những cuốn vở nhem nhuốc.

9 Muc tim 1Ngày ấy, những tháng ngày của thập niên 50, ai đã từng cắp sách đến trường ắt hẳn chưa quên cái lọ mực mỗi ngày theo chân ta vào lớp. Mực dính chân tay, vào quần, vào áo và cả mặt mũi nữa. Đó chính là dấu ấn của tuổi thơ hồn nhiên như những cánh hoa phơi phới giữa nội ngàn bát ngát.

Những đứa trẻ ở thôn quê làm gì có cái cặp sách (thời ấy gọi là cạc- táp) để đựng đồ dùng học tập. Sách vở cặp nách. Bút, thước cầm một tay, còn tay kia cầm lọ mực. Lúc cần đánh nhau thì bỏ tất cả xuống vệ đường (hoặc nhờ bạn cầm hộ) rồi xông vào mà đấm, mà đá, mà vật

Ngày tạnh tháng ráo thì không sao, chứ còn ngày mưa thì khốn khổ vô cùng. Hình ảnh một cô học trò nghèo thôn quê đi học gặp ngày mưa trong một bài học thuộc lòng hồi lớp BA vẫn còn hằn in trong trí nhớ :

Tr Tinh nhan 3Hôm nay trời lại mưa phùn

Đường em đi học lầy bùn khổ chưa

Trên đầu không nón che mưa

Có đôi guốc vẹt lại vừa đứt quai

Tay em che vạt áo dài

Một tay xách guốc xách hai ống quần

Bùn sâu đến mắt cá chân

Sách em ấp ngực mấy lần chực rơi

Xa xa trống đã điểm hồi

Em còn dọ dẫm ngoài trời đội mưa

Trong đống đồ dùng học tập có một thứ không thể nào thiếu được. Đó là tờ giấy thấm (học sinh miền Nam gọi là giấy chậm). Khi viết xong một trang, trước khi lật sang trang khác thì phải dùng giấy thấm để làm cho mực khô đi, nếu không thì trang viết sẽ bị lem luốc và chắc chắn sẽ bị thầy cho ăn đòn no nê (chưa kể khi về nhà lại còn bị ăn thêm nữa). Nếu lỡ khi chấm bút vào lọ mực đầy thì rất có thể mực sẽ rớt xuống tập. Khi đó phải vội vàng lấy giấy thấm thấm cho thật khô. Còn gì khổ cho bằng mấy đứa ngồi bàn trên đùa nghịch làm cho lọ mực đổ. Thế là ta lãnh đủ. Và thế là cãi cọ om sòm rồi dẫn đến đấm đá.

9 Muc tim 2Sau này, nhà trường có sáng kiến rất tuyệt vời :mỗi học sinh phải có một nửa cái lon sữa bò, dùng đinh đóng chặt vào bàn học rồi để lọ mực vào trong đó. Nhờ vậy mà chuyện làm đổ lọ mực không còn xẩy ra nữa.

Nói đến mực thì phải nói đến vở. Người miền Nam gọi vở là tập. Đấy là nói riêng từng loại. Thế nhưng, khi gộp hai loại vào để có danh từ kép thì cả hai miền đều gọi là SÁCH VỞ. Ôi ! Tiếng Việt mình mới phong phú làm sao ! Học trò thời ấy bao vở bằng giấy báo cũ hoặc bất cứ thứ giấy gì, như bao xi-măng chẳng hạn. Thế cho nên, khi nộp vở cho thầy đem về nhà chấm thì mới nhận ra được một điều thú vị : trên bàn thầy đủ mọi màu sắc. Ai được thầy cho ôm chồng vở ấy về nhà thầy thì là một vinh hạnh. Chưa hết đâu nhé ! Mỗi cuốn vở phải dán một tờ ê-ti-két (étiquette) ở bên trên, phía tay trái. Tờ ê-ti-két đó có những hàng chữ sau đây:

9 Muc tim 4- Họ, tên :

- Lớp     :

- Trường :

- Niên khóa :

Học sinh bây giờ thì khác. Cả lớp phải dùng chung một loại giấy bao tập. Có cô còn bắt học sinh phải bao hai lớp giấy. Hỏi tại sao thì đứa bé hồn nhiên trả lời : “Cô bảo làm như vậy để khi có phái đoàn thanh tra đến thì bỏ tờ bên ngoài đi – vì tờ bên ngoài chắc chắn cũ và dơ hơn tờ bên trong. Và thế là cô và trò (nói đúng ra là cô) được khen là biết giữ gìn sách vở !!! Và như thế, cô sẽ không bị ảnh hưởng gì đến việc xét thưởng thi đua hàng tháng !!!

Học sinh Tiểu học thời đó bắt buộc phải viết bằng bút thường (Gọi là “bút thường“ để phân biệt với “bút máy”- cho dù cái bút ấy chẳng gắn một thứ động cơ nào cả. Phải chăng vì nó không phải chấm mực thường xuyên như bút thường ?). Nhờ thế mà chữ viết của lớp người thế hệ 50, 60 rất chuẩn, nếu không nói là đẹp- một thứ đẹp tự nhiên, không khiên cưỡng. Có những người viết chữ rất bay bướm, nhất là các cô. Mỗi niên khóa chỉ cần mua một lọ mực thôi. Khi nào mực cạn thì ra tiệm tạp hóa mua mấy viên về bỏ vào lọ, dùng quản bút hoặc cái que quậy lên một lúc là có mực sài.

Sang đến bậc Trung học, học sinh mới được sử dụng bút máy, nhưng vẫn dùng mực. Có hai loại mực: tím và xanh. Đại đa số sử dụng mực tím. Lên Đại học cũng vậy.

9 Nu sinhVề bút máy thì có nhiều loại. Thập niên 60 có loại Pilot. Loại này có hai đời . Đời đầu tiên hình dáng to, không đẹp mắt lắm; đời thứ nhì nhỏ nhắn, xinh xinh. Hình như còn bút Paker thì phải. Lâu quá rồi nên nhớ không rõ nữa.

Trở lại với mực tím.

Cho đến tận bây giờ, nó vẫn là biểu tượng của thời học sinh. Chả thế mà hiện nay, người ta thấy xuất hiện một tạp chí dành cho lứa tuổi học trò mang tên MỤC TÍM. Như vậy mới thấy rằng mực tím dễ thương làm sao !

Nhắc tới mực tím thì không thể không nhắc đến những lá thư, những cánh thiệp (đúng ra phải gọi là “thiếp”).

Ngày đó chưa có nhiều phương tiện thông tin như bây giờ, ngay cả điện thoại cũng thế; chỉ có những vị có chức quyền cao hay các thương gia “ gộc” mới được quyền có mà thôi. Bởi vậy, sợi dây gắn kết tình bạn, tình yêu ( gia đình, đôi lứa…) chính là những lá thư.

Ôi ! Còn gì thú cho bằng gửi thư đi rồi là khắc khoải chờ mong hồi âm. Ngày lại ngày, khi bước chân của bưu tá đi ngang nhà là tim lại rôn ràng, háo hức. Phải nói thật rằng, nhờ viết thư mà nhiều người đã trở thành thi sĩ, văn sĩ. Sao hồi ấy văn chương lai láng đến thế nhỉ ? Ngày nay, cái điện thoại di động hữu ích thậy đấy, nhưng nó lại phá hủy đi cái tinh cảm thân thương giữa bạn bè với nhau. Chỉ cần a- lô một tiếng hay vài dòng tin nhắn là xong. Mất đi rồi cái cảm giác thắc thỏm chờ mong. Mất đi rồi những chuyên chở tình cảm sâu đậm. Chắc những ai sống trong thời kì này đều không thể quên được những cảm giác đó.

Ta cũng không thể quên được những lối nói mang tính “sáo ngữ”, nhưng lại rất chân thành : giấy vắn tình dài; gủi đến… những tình cảm nồng nàn nhất… Vào thời kì khói lửa ngút ngàn trên quê hương, người trai 9 Muc tim 3“vốn dòng hào kiệt” nên “ xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung”. Lúc ấy, những cánh thư là sợi dây liên kết duy nhất giữa người trai và gia đình cùng với bao người thân thương khác.

Đã có bao nhiêu người cha, người mẹ, người vợ mỏi mòn trông đợi thư con, thư chồng. Chắc hẳn chưa ai trong chúng ta quên được nhạc phẩm “Tình thư của lính” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh với những ca từ rất NGƯỜI, rất mộng mơ và đa tình : “…thư của lính không xanh màu trời như mong ước đâu em. Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa đa tình. Thư của lính ba- lô làm bàn nên nét chữ không ngay. Thư của lính ghi giữa rùng cây khi nhớ em thật đầy… Thư của lính, thư không được dài như mong ước đâu em. Thư của lính chấm dứt ở đây, sau khi đề thêm hai chữ yêu em”. Những ai đã từng đi lính, khi nghe nhạc phẩm này ắt sẽ không cầm được xúc động vì nó diễn tả đúng tâm trạng của người lính chiến thời đó. Nó không có những câu hô khẩu hiệu rỗng tuếch và sặc mùi máu, sặc mùi tuyên truyền rẻ tiền, hạ cấp.Nói nhạc phẩm này ( và tất cả những nhạc phẩm của miền Nam trước 1975 ) rất NGƯỜI là thế đó.

Tr tinh nhan 2Mỗi độ xuân về, các trường học đều phát động phong trào viết thư thăm hỏi các anh chiến sĩ nơi tiền tuyến. Ôi ! Những cánh thư mới chân tình, ngây thơ làm sao! Đã có không ít những cuộc tình được vun đắp qua những cánh thư này. Lại những cánh thư rất NGƯỜI.

Cũng vào dịp xuân và trước đó là lễ Noel, các hiệu sách bày bán la liệt những tấm thiếp đủ màu, đủ loại. Những lời chúc nồng nàn. Những lời chúc tha thiết được gửi đi, ngay cả khi người nhận ở sát bên người gửi, hằng ngày gặp gỡ trò chuyện. đấy phải chăng là một nét văn hóa cao quí? Tiếc rằng bây giờ nó không tồn tại nữa.

Là học sinh, có lẽ chưa ai một lần trong đời không biết đến quyển LƯU BÚT. Hằng năm, khi hoa phượng nở đỏ sân trường là lúc người ta thấy những cuốn LUU BÚT được chuyền từ tay người này qua tay người kia với những nét chữ lả lướt. Có tác giả của bài viết còn cố công trang điểm hoa hòe hoa sói cho bài viết của mình nữa chứ. Đẹp làm sao thời kì đó, bạn nhỉ? Một nhạc sĩ (lâu lắm rồi nên quên tên) đã sáng tác nhạc phẩm LƯU BÚT NGÀY XANH với câu cuối cùng như sau : “Và đôi lúc nhớ nhau lưu bút còn để lại chuyện buồn vui”. Quả đúng vậy. Lưu bút chính là nơi giữ lại tình cảm bạn bè, là nơi cất giữ kỉ niệm thời học sinh trong sáng.

Học trò hôm nay đâu có được tính cách lãng mạn, mộng mơ như thế. Kẻ viết bài này còn nhớ, trong một buổi “ học tập chính trị” sau ngày 30/4/1975, một ông cán bộ cấp trung, trên bục giảng hùng hồn kết án những quyển lưu bút tội nghiệp đó: nào là ủy mị, nào là đồi trụy, nào làm tha hóa giói trẻ…Thôi thì có bao nhiêu chữ để kết án thì ông ta tuôn ra cho bằng hết. Tội nghiệp cho quyển lưu bút chan chứa tình cảm học trò bị đấu tố oan uổng. Và thế là từ đó, quyển lưu bút bị “ lưu đày SG Kieu Dac Them 2biệt xứ và bị bức tử oan nghiệt”.

Mực tím ơi !

Rưng rưng giọt lệ ta gọi tên ngươi.

Trong nấm mộ quá khứ quên lãng, ngươi hãy ngẩng cao đầu hãnh diện vì đã một thời vang bóng.

Mực tím ơi !

Uyên Sồ - SG, 12/10/ 2014

Logo tam su 2

9 Trac nghiem 1TRẮC NGHIỆM TÌNH YÊU

VỚI BẠN GÁI

Sau khi chia tay, tôi nói với cô ấy thực ra tôi là một đại gia

Vài ngày trước, người bạn gái tôi hẹn hò được 3 tháng đột ngột đề nghị chia tay, mặc dù tình cảm giữa chúng tôi vẫn rất tốt. Theo như lý do mà cô ấy nói là tài sản của tôi chỉ có một chiếc xe máy cũ và một ngôi nhà thuê. Nguyên văn lời cô ấy như sau : ”Em họ của em tìm được người bạn trai có nhà có xe, sao anh lại thế này, tiền không, xe không, nhà không. Bạn bè em muốn đến chơi, em cũng ngại chẳng dám đưa đến”. Lúc nói với tôi những lời này tôi cảm nhận được cô ấy đang khinh rẻ mình.

Từ lúc chúng tôi quen nhau đến lúc chính thức yêu nhau, chúng tôi đã sống chung cùng nhau gần 2 tháng rồi. Nhưng trước giờ cô ấy đối xử với tôi có chút hờ hững, lạnh nhạt. Cô ấy không hài lòng với điều kiện kinh tế của tôi, luôn cảm thấy tôi không đủ khả năng để cho cô ấy một cuộc sống giàu sang. Thực ra thì, cô ấy tình nguyện đến sống chung với tôi cũng chỉ vì có thể tiết kiệm được ít tiền thuê nhà.

Lúc cô ấy đề nghị chia tay, tôi cũng thử níu giữ lại mối tình này, nhưng thái độ cô ấy rất kiên quyết, tôi đành phải đồng ý. Nhưng trước lúc chính thức đường ai nấy đi, tôi nói dẫn cô ấy đi xem ít đồ. Cô ấy hỏi đi xem gì.9 Trac nghiem 2 Tôi nói đến lúc đó sẽ biết. Hai chúng tôi cùng nhau xuống lầu, tôi tiến về phía chiếc Audi Q7 đang đậu trước ngõ, chứ không phải chiếc xe máy cũ thường ngày.

Cô ấy hỏi : ”Đây là xe của ai ?”

Tôi nói: “Xe của anh”.

Cô ấy nhìn tôi nghi hoặc : “Làm sao có thể. Sao có thể mua được chiếc xe này.”

Tôi mở cửa, mời cô ấy lên xe, sau đó phóng đi. Suốt cả quãng đường tôi không nói lời nào, chạy xe đến một căn biệt thự ở ngoại ô thành phố. (Đây là chỗ tôi ở trước khi quen cô ấy, sau khi quen cô ấy tôi hầu như không đến đây nữa, diện tích căn nhà không lớn lắm, chỉ khoảng hơn 500 m2). Người giúp việc nhìn thấy tôi đi vào, rất lễ phép chào hỏi: Cậu về rồi à !.

Cô ấy nhìn tôi bán tín bán nghi, tôi dẫn cô ấy lên lầu, bước vào phòng sách trên tầng 2, tôi từ trong ngăn kéo lôi ra một sổ đỏ và một hợp đồng thuê nhà. Sổ đỏ là ngôi nhà tôi đang dẫn cô ấy đi tham quan, hợp đồng thuê nhà là ngôi nhà tôi và cô ấy sống chung. 9 Trac nghiem 3Tôi bình tĩnh nhìn vào mắt cô ấy, đôi mắt long lanh tràn đầy kinh ngạc. Nhìn thấy biểu cảm phức tạp đó, tôi thực sự không biết nên khóc hay nên cười nữa.

Tôi mời cô ấy xuống phòng khách nói chuyện, sau đó tôi điềm đạm nói : “Anh từng nói với em anh là nhân viên một công ty, không sai, chẳng qua công ty đó của anh, anh là tổng giám đốc, còn bố anh là chủ tịch hội đồng quản trị. Xem ra, em chia tay anh là một sự lựa chọn sáng suốt, anh không hợp với em, em cũng không hợp với anh. Thực ra, anh chỉ hy vọng tìm được một cô gái chân thành, lương thiện, không ham mê vật chất, thật lòng yêu con người của anh chứ không phải vì khối tài sản này. 3 tháng chúng ta ở bên nhau, anh cảm nhận được em là người con gái chỉ yêu tiền bạc, thích nói dối, thích hưởng thụ mà thôi”.

Tôi nói tiếp : “Thực ra ngôi nhà cũ chúng ta sống cũng là nhà của gia đình anh, là ngôi nhà lúc bố mẹ anh phá sản đã từng ở. Ban đầu anh muốn biết em có thực sự yêu anh hay không nên mới nói dối em, và chờ đến lúc thích hợp anh sẽ nói ra toàn bộ gia thế nhà anh. Còn chiếc xe máy cũ đó là quà sinh nhật bố anh tặng năm anh học cấp 2, đã rất lâu rồi nhưng anh không nỡ bán.”

Tr nhan tinhCô ấy ngồi trên sôpha, cúi gằm mặt xuống không dám nhìn thẳng vào tôi, không nói lời nào, từng giọt nước mắt rơi xuống.

Thực ra, thời gian tôi và cô ấy ở bên nhau, tôi giả vờ nghèo khổ, bảo với cô ấy tiền lương mỗi tháng chỉ 5 – 6 triệu thôi, cũng rất nhiều lần tàn nhẫn từ chối mua hàng hiệu cho cô ấy, nhiều lần từ chối đi ăn ở nhà hàng. Thực ra, tất cả những thứ này không là gì đối với tôi, nhưng thời gian này tôi cảm thấy cô ấy coi trọng vật chất hơn tình cảm. Thậm chí còn lấy tiền bạc ra để đong đếm tình yêu, trước mặt tôi luôn nói bóng gió bạn trai của cô A B C nào đó mua cho họ bao nhiêu hàng hiệu… Cô ấy cho rằng tôi không có tiền, khi đi với tôi sẽ mất giá, cảm thấy vô cùng xấu hổ với bạn bè, người thân.

Đúng lúc không khí trầm xuống, người làm bước vào hỏi chúng tôi có ăn cơm ở nhà không ? Tôi hỏi cô ấy muốn ăn gì. Cô ấy im lặng một lúc rồi nói: Muốn ăn bít tết. Tôi nói với người làm chúng tôi muốn ra ngoài ăn, rồi đưa cô ấy đến nơi một nhà hàng vô cùng sang trọng. 9 Trac nghiem 4Lúc đang ăn, cô ấy khóc thút thít, vẻ mặt rất tội nghiệp, bẽn lẽn hỏi tôi cô ấy có thể rút lại lời chia tay được không ?

Cả bữa ăn tối hơn một tiếng đồng hồ, cô ấy cứ lải nhải biện minh, xin lỗi bên tai tôi. Còn tôi sớm đã hết hứng thú nghe cô ấy giải thích rồi.

Hai đưa mắt nhìn ra cửa sổ không muốn nhìn trực tiếp vào mặt cô ấy, cũng không muốn trả lời, chỉ nói với cô ấy, đợi sau khi ăn xong hãy nói. Chúng tôi cùng nhau trở về ngôi nhà cũ, giúp cô ấy thu dọn đồ đạc chuẩn bị chuyển nhà.

Sau bữa ăn tối, tôi lái con xe Audi Q7, đưa hết tất cả hành lí tư trang của cô ấy trở về phòng trọ cũ mà cô ấy thuê cùng người chị gái. Sau đó vẫy tay chào tạm biệt, từ đó chúng tôi không bao giờ gặp lại nữa.

9 Sac dep 1SẮC ĐẸP VÀ TIỀN BẠC

Một cô gái xinh đẹp đã đăng đàn tìm kiếm một người chồng giàu. Câu trả lời của một chủ nhân ngân hàng thật là lý thú !

Dưới đây là lời nhắn của một cô gái đăng trên một diễn đàn hò hẹn để tìm một người chồng giàu có :

Tôi rất thành thật về những gì tôi nói ở đây. Tôi hiện 25 tuổi, rất xinh, có phong cách và sành điệu. Tôi muốn lấy một người đàn ông có mức lương hàng năm từ 500 ngàn MK trở lên.

Quý vị có thể cho tôi là tham lam, nhưng một mức lương hàng năm 1 triệu chỉ được coi là thuộc giai cấp trung lưu ở Nữu Ước. Đòi hỏi của tôi không cao. Có ai trên diễn đàn này có thu nhập hàng năm 500 ngàn MK ? Quý vị đã có vợ hết chưa ? Tôi muốn hỏi: tôi nên làm gì để lấy một người giàu có như quý vị ? Trong số những người tôi đã từng hẹn hò cặp bồ thì người giàu nhất có lương 250 ngàn MK một năm, và xem ra cho đến nay đó là mức thu nhập cao nhất tôi có thể với tới. Nếu ai muốn chuyển đến sống ở khu vực đắt tiền phía Tây New York Garden thì thu nhập $250K một năm là không đủ.

Ở đây tôi chỉ khiêm nhượng đặt một vài câu hỏi:

1) Đâu là nơi các đàn ông độc thân giàu có thường lui tới ? (Xin vui lòng cho biết tên và địa chỉ của các quán rượu, nhà hàng, nơi tập thể dục, v.v….)

2) Tôi nên nhắm đến nhóm tuổi nào ?

3) Tại sao vợ của những người giàu có thường chỉ có sắc đẹp trung bình ? Tôi đã gặp một vài cô gái không có nhan sắc và cũng chẳng có gì hấp dẫn, thế nhưng họ có thể lấy chồng giàu có.

9 Sac dep 24) Làm sao các ông quyết định ai mới có thể trở thành vợ mình, còn ai khác chỉ có thể làm người tình ? (Mục tiêu của tôi bây giờ là lấy chồng.)

Cô Gái Đẹp

Dưới đây là bài trả lời đầy triết lý của Giám Đốc Ngân Hàng J.P. Morgan:

Cô Gái Đẹp thân mến,

Tôi đã rất quan tâm khi đọc tin nhắn của cô. Tôi đoán có rất nhiều cô gái ngoài kia cũng có những câu hỏi tương tự như cô. Xin cho phép tôi được phân tích trường hợp của cô dưới nhãn quan của một nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Thu nhập hàng năm của tôi là hơn 500 ngàn MK, đáp ứng các đòi hỏi của cô, vì vậy tôi hy vọng mọi người tin rằng tôi không làm chuyện ruồi bu, mất thì giờ vô ích ở đây.

Dưới cái nhìn của một nhà kinh doanh, cưới cô là một quyết định tồi. Câu trả lời rất đơn giản, vì vậy để tôi giải thích.

Bỏ qua một bên các chi tiết, thì cô đang làm một cuộc trao đổi giữa “sắc đẹp” và “tiền bạc”: bên A cung cấp sắc đẹp, và bên B trả tiền để được nó, rất sòng phẳng.
Tuy nhiên, có một trở ngại chết người ở đây: sắc đẹp của cô thì sẽ tàn phai, nhưng tiền của tôi sẽ không ra đi nếu không có lý do chính đáng. 9 Sac dep 3Thực tế là lương của tôi có thể tăng lên theo thời gian mỗi năm, nhưng cô không thể xinh đẹp hơn năm này qua năm khác được.

Do đó theo quan điểm kinh tế học, tài sản tôi có ngày càng tăng giá, còn tài sản cô có ngày càng xuống giá. Không phải xuống giá bình thường mà là xuống giá theo cấp số nhân. Nếu đó là tài sản duy nhất của cô, thì giá trị của cô sẽ tệ hơn rất nhiều sau 10 năm.

Theo ngôn ngữ mà chúng tôi thường dùng ở Wall Street, mỗi cuộc trao đổi chứng khoán đều phải có một quyết định mua hay bán. Hẹn hò với cô cũng là một “quyết định mua hay bán.”

Nếu giá trị chứng khoán bị giảm, chúng tôi sẽ bán nó ngay, chứ thật là không hay tí nào nếu cứ tiếp tục giữ nó lâu dài – cuộc hôn nhân mà cô mong muốn cũng không là ngoại lệ. 9 Trac nghiem 5Có thể hơi tàn nhẫn khi nói điều này, nhưng để có một quyết định sáng suốt, bất cứ tài sản nào bị mất giá nhiều sẽ bị bán ngay hay “đem cho thuê dài hạn”.

Bất cứ ai có lương hàng năm trên 500 ngàn MK thì không phải là một thằng ngu; chúng tôi sẽ chỉ cặp bồ với cô, chứ không cưới cô đâu. Tôi khuyên cô hãy quên đi việc tìm kiếm manh mối để lấy một người giàu. Và nhân đây, cô có thể tự làm cho mình trở thành người giàu có với lương hàng năm 500 ngàn MK. Điều này có thể dễ xảy ra hơn là đi tìm một người giàu mà ngu. Hy vọng câu trả lời này giúp cô phần nào. Ký tên,

Chủ tịch J.P. Morgan

Tr Thanh nien 2CUỐI TUẦN VÀ NHỮNG VIÊN BI..

Không còn nhiều thời gian nữa đâu !!!

Các bạn xem lại mình còn được mấy viên bi…?​  —> 2 !!!​

Càng lớn tuổi, tôi càng thấy thích thưởng thức những buổi sáng Thứ Bảy. Có lẽ là do bầu không khí yên lặng, tĩnh mịch cùng với việc là người đầu tiên thức dậy, hay cũng có thể là do niềm vui khi không phải đi làm. Dù sao đi nữa, vài giờ đầu của sáng Thứ Bảy luôn luôn mang lại cho tôi những cảm xúc thích thú nhất.

Cách đây vài tuần, vào một buổi sáng Thứ Bảy, tôi ngồi thưởng thức ly cà phê còn bốc khói, đọc báo và nghe radio. Từ radio đang phát ra một giọng nói vô cùng ấm áp, hấp dẫn, chất giọng vàng của một người đàn ông đã đứng tuổi đang nói với một ai đó tên là Tom về câu chuyện một ngàn viên bi gì đó…

Tò mò, tôi ngừng đọc báo và lắng nghe ông nói. “Này Tom, hình như anh đang rất bận với công việc của anh thì phải. Tôi chắc rằng họ trả lương cho anh cũng khá lắm phải không, nhưng thật không đáng nếu anh cứ phải luôn luôn vắng nhà và xa gia đình vì công việc như vậy. Không thể tin được một người trẻ tuổi như anh lại cứ quần quật làm việc mỗi tuần từ 60 đến 70 tiếng để trang trải mọi thứ. Thật đáng tiếc anh đã không tham dự được buổi biểu diễn của con gái anh”.

Tr cuoi 5Ông tiếp tục, “để tôi kể cho anh nghe điều này anh Tom ạ, một điều đã giúp tôi ý thức về những gì ưu tiên trong cuộc sống của mình”. Và ông bắt đầu giải thích lý thuyết của ông về “một ngàn viên bi”.

“Anh biết không, một ngày nọ tôi đã ngồi làm thử một bài toán nhỏ. Mỗi người trung bình sống được khoảng 75 năm. Tôi biết cũng có người sống thọ hơn và cũng có người chết sớm hơn nhưng trung bình, người ta sống được khoảng 75 năm”.

“Sau đó, tôi nhân 75 năm đó với 52 tuần thì ra con số 3900, là tổng số ngày Thứ Bảy mà mỗi người có được trong cả cuộc đời của họ. Này anh Tom, hãy tập trung và lắng nghe, tôi đang dẫn giải đến phần quan trọng rồi đây”.

“Phải đến năm 55 tuổi tôi mới biết suy nghĩ về mọi việc kỹ càng như vậy”, ông tiếp tục, “và cho tới lúc đó, tôi đã sống qua hơn 2800 ngày Thứ Bảy của đời mình. Và nếu tôi sống được đến năm 75 tuổi, tôi sẽ chỉ còn được hưởng khoảng 1000 ngày Thứ Bảy nữa mà thôi”.

“Và rồi tôi đi tới một cửa hàng đồ chơi, mua tất cả những viên bi họ có, và phải đi tới ba cửa hàng tôi mới mua được đủ 1000 viên bi cho mình. Tôi đem chúng về nhà, bỏ vào chiếc hộp nhựa lớn, ngay cạnh chỗ tôi thường ngồi. Từ đó, khi mỗi ngày Thứ Bảy qua đi, tôi lại lấy một viên bi ra và ném bỏ đi”.

Tr ong gia 1 “Tôi nhận ra rằng, khi nhìn số lượng những viên bi trong hộp ngày càng giảm dần, tôi đã biết tập trung hơn cho những điều thật sự quan trọng trong cuộc sống. Không gì thức tỉnh bằng việc nhìn thời gian còn lại trên trái đất của mình cứ ngắn dần và nó sẽ giúp bạn biết ý thức về những ưu tiên của mọi việc”.

“Bây giờ, tôi sẽ nói cho anh Tom nghe một điều cuối cùng trước khi tôi ngừng cuộc trò chuyện này của chúng ta để đưa người vợ yêu quý của tôi đi ăn sáng.

Sáng nay, tôi đã lấy viên bi cuối cùng ra khỏi chiếc hộp. Tôi hình dung nếu tôi có thể giữ nó cho tới sáng Chủ Nhật hôm sau nữa thì tức là Chúa đã ban cho tôi thêm một chút thời gian để được ở lại bên những người thân yêu…

“Thật tốt khi được trò chuyện với anh, anh Tom ạ, tôi mong anh sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu của anh và tôi cũng hy vọng, một ngày nào đó sẽ gặp lại anh. Chúc buổi sáng tốt đẹp !”.

HNg Huynh V. YenKhông một tiếng động khi ông ấy kết thúc cuộc trò chuyện. Tôi nghĩ ông ấy đã khiến tất cả chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Sáng hôm đó, tôi đã định làm một số việc, nhưng rồi, tôi quyết định chạy lên lầu, đánh thức vợ tôi bằng một cái hôn.

- “Dậy thôi em yêu, anh sẽ đưa em và các con đi ăn sáng”.

- “Có chuyện gì đặc biệt hả anh ?”, vợ tôi hỏi với một nụ cười.

“Không, không có gì đặc biệt cả”, tôi nói, “Chỉ vì đã lâu lắm rồi hai vợ chồng mình không có thời gian với nhau và với các con. À, trên đường đi mình dừng lại ở cửa hàng đồ chơi một chút nhé, anh cần mua một vài viên bi”.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (14)

Logo bay gio ke

CON TRAI

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

“Đốt tiền nấu trứng” là câu đồn thổi về công tử Bạc Liêu.Vậy mà ngày nay con trai ông lại đang phải chạy vạy kiếm từng bữa ăn trên chính mảnh đất của tổ tiên.

Trong căn nhà trọ nhỏ ở thị xã Bạc Liêu, ông Trần Trinh Đức – con trai của Công tử Bạc Liêu buồn bã ngắm nhìn cô con gái bị bệnh tâm thần phân liệt, cứ vô tư ngồi cười hềnh hệch. Bằng giọng trầm nhỏ, người đàn ông tuổi đã quá 60 cho hay, cuộc sống của gia đình ông hiện tại là chạy cơm mỗi bữa, tài sản duy nhất là chiếc xe máy để chạy xe ôm kiếm sống.

Theo ông Đức, dòng họ ông bắt đầu gặp khó khăn về kinh tế từ khi cha ông mất. Anh em ông bán căn biệt thự ở đường Nhất Linh, nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, quận Gò Vấp, Sài Gòn, để chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về ở nhờ nhà vợ tại đường Huỳnh Tịnh Của, quận 3. Dù buôn bán lặt vặt ở đất Sài Gòn nhưng nhờ được kế thừa một phần tài sản của Công tử Bạc Liêu nên cuộc sống tạm ổn. Thế rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền dẫn đến mắc nợ và bị bệnh tâm thần phân liệt. Vợ chồng ông phải bán hết tài sản còn lại để trả nợ cho con nhưng vẫn không đủ đành dắt díu nhau sang Campuchia lánh nợ với đủ thứ nghề.

Giọng nghèn nghẹn, ông Đức kể, sau hai năm trốn nợ bên đất khách quê người, năm 2000 ông Đức dẫn vợ con về lại Sài Gòn sống với nghề chạy xe ôm. Ông phải làm việc từ 5h sáng đến tận nửa đêm nhưng cuộc sống vẫn mãi nghèo túng vì ngoài chi phí sinh hoạt, gia đình ông phải mua thuốc điều trị cho con gái. Đến tháng 7 vừa qua, gia đình ông về cố hương tìm chốn dung thân.

Trở lại khuôn viên dinh thự của dòng họ Trần Trinh giàu nhất xứ Bạc Liêu xưa, nay được trùng tu thành khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức con trai của Công tử Bạc Liêu với người vợ thứ hai quê Mỹ Tho cho biết, cha mình có đến 4 người vợ. Ngay từ lúc lọt lòng, ông Đức đã mồ côi mẹ nên cùng anh trai là Trần Trinh Nhơn được cha đón về sống trong “nhà lớn”, chị ông Đức là bà Trần Thị Thảo sống với bà ngoại ở Mỹ Tho.

“Tôi sinh ra lúc ba tôi còn giàu có nên hồi 7 tuổi đã được ông gửi học tại Trường Lasan Taberd (nay là Trường THPT Lê Lợi, Sóc Trăng) thuộc dòng La Salle Saigon, cuối tuần lại rước về “nhà lớn”. Vài năm sau, ông đưa anh em tôi lên Sài Gòn học để cùng nhau quản lý tài sản là các dãy nhà phố và sống tại biệt thự số 117 Nguyễn Du. Sau này chúng tôi chuyển qua ở biệt thự trên đường Nhất Linh”, ông Đức bồi hồi nói.

Xuất thân giàu có, ảnh hưởng sự phong lưu của cha nên những năm tháng vàng son, không chỗ vui chơi nào ở Sài Gòn mà ông Đức không biết đến bởi đêm nào cũng đi nhảy đầm. Người em cô cậu ruột của ông là ông Phan Kim Khánh khi ấy cũng học ở Sài Gòn và “ham vui” có tiếng. Ông này biết trong “nhà lớn” có 5 cặp bình màu xanh lục (lục bình) có dấu ấn vua chúa được ông ngoại Hội đồng Trạch mua được từ bên Tàu. Mỗi lần vui chơi hết tiền, ông Khánh được một đại gia nổi tiếng trong giới kinh doanh xe máy ở Sài Gòn “xúi” về quê “chôm” cặp lục bình mang lên bán với giá 250.000-300.000 đồng/cặp (thời ấy giá lúa chỉ có 1,7 đồng/giạ) để lấy tiền tiêu xài. Đến năm 1975, khi miền Nam thay đổi chính thể, ông Khánh chính là người trực tiếp bàn giao 3 cặp lục bình còn lại cùng với toàn bộ tài sản là khu “nhà lớn”, đất đai, các khu phố… ở Bạc Liêu cho chính quyền cách mạng.

Cũng theo hậu duệ của Công tử Bạc Liêu, dòng họ Trạch thời đó sở hữu điền sản cò bay thẳng cánh với 145.000 ha ruộng lúa và 10.000 ha ruộng muối nằm dọc theo biển Bạc Liêu. Ngày cha ông về nước sau 3 năm du học bên Pháp, ông nội tất bật lên Sài Gòn mua ngay chiếc xe Ford mới cáu để đón “quý tử”, cũng là để làm rạng mặt dòng họ Trần Trinh lúc bấy giờ.

Người dân Bạc Liêu vẫn còn truyền lại câu chuyện nhờ cái mác “học bên Tây” về nên Ba Huy được cha rất ưu ái, mua hẳn ca-nô và máy bay để đi làm ăn, thu nợ và… thăm ruộng lúa, ruộng muối. Vậy là, ngoài vua Bảo Đại, Ba Huy là người dân sở hữu máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam. Có lần qua Rạch Giá thăm ruộng, Ba Huy hứng chí lái luôn máy bay ra Hà Tiên chơi. Do mải bay nên xăng hết không hay buộc lòng phải đáp khẩn cấp xuống đất Thái Lan (nước Xiêm). Trong lần “nhập cảnh trái phép” này Ba Huy bị bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa, buộc họ Trạch phải đưa một đoàn ghe dài chở lúa qua chuộc “quý tử” về.

Xung quanh chuyện giàu có của cha ông, ông Đức luôn cho đó là những kỷ niệm đáng nhớ mang theo suốt đời vì cái tên Công tử Bạc Liêu đã “vang danh” cả nước. Tuy nhiên, không ai “giàu ba họ” nên giờ đây nhiều người con của Công tử Bạc Liêu đang sống trong cảnh khốn khó, trong đó có ông.

Ông Đức kể, năm 1974 cha ông qua đời tại Sài Gòn, anh em ông đưa thi hài về quê an táng và lập mộ tại khu nhà mồ ở khu đất hương hỏa 1.000 ha tại Cái Dầy, thị trấn Châu Hưng (Vĩnh Lợi, Bạc Liêu). Lúc đó, dù đất hương hỏa rộng lớn nhưng con cái tứ tán nên bị lấn chiếm, sang bán dẫn đến mất gần hết tài sản. Khu nhà mồ dòng họ Trần Trinh hiện nay đường đi rất khó khăn bởi cỏ mọc cao hơn đầu người.

Đầu năm 2009, một doanh nghiệp ở Bạc Liêu hay tin con trai Công tử Bạc Liêu sống đời cơ cực nên đã gợi ý với ông là về Bạc Liêu. Trong một lần về giỗ cha tại khách sạn Công tử Bạc Liêu, ông Đức đã gặp ông Nguyễn Chí Luận (giám đốc Công ty Cổ phần Địa ốc Bạc Liêu) và bày tỏ nguyện vọng muốn về quê lập nghiệp. Chính vì vậy mà vị giám đốc này đã cho ông mượn khu đất rộng 300m2 với thời gian 50 năm, nằm đối diện khu du lịch Hồ Nam. Đầu tháng 11/2009, ông Luận và nhà văn Phan Trung Nghĩa cùng với ông Đức ra nền đất ấy thắp nhang động thổ xây dựng nhà ở, kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu. Tuy nhiên, đã gần một năm trôi qua nhưng khu đất vẫn chỉ là một bãi cỏ mọc um tùm.

“Động thổ để cất nhà lâu rồi mà đất vẫn còn hoang vu, cây cỏ mọc um tùm nên tôi phải ở đậu. Tôi tuổi già thế này thì khó xin được việc. Giờ mỗi ngày cứ phải chạy vạy khắp nơi vay mượn tiền mua gạo và thuốc thang cho con gái”, ông Đức buồn bã nói.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Chí Luận cho biết, theo đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu, ông sẽ nhanh chóng ứng tiền mua khung nhà gỗ từ huyện Hòa Bình, san lấp mặt bằng trên khu đất cỏ mọc um tùm hiện nay để xây nhà kết hợp phủ thờ Công tử Bạc Liêu giúp ông Đức. Theo ông Luận, lý do ông cho ông Đức mượn đất 50 năm là vì công ty của ông cũng chỉ được phép sử dụng khu đất này trong khoảng thời gian ấy. Khoản tiền ông tạm ứng ra để cất nhà sẽ được hoàn lại bằng tiền mà Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu vận động giúp ông Đức. (Theo Thiên Phước)

GIAI THOẠI V

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

Công tử Bạc Liêu tức Trần Trinh Huy, tên thật là Trần Trinh Quy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1900, nhưng do cho rằng cái tên “Quy” không sang trọng nên ông đổi lại thành “Huy”. Ngoài tên Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử).

Trần Trinh Huy là con trai ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch, một người xuất thân là thư ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì, người có đất ruông nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ là “Vua lúa gạo Nam Kỳ”. Ông Bá hộ chọn rể cho cô con gái thứ Tư trong trường hợp đặc biệt. Hằng năm ông tới Tòa Bố (tòa Hành chánh) tỉnh đóng thuế điền địa. Trong nhiều năm ông chấm viên thư ký điền địa tên Trần Trinh Trạch là người đứng đắn đàng hoàng. Ông hỏi thăm gia thế thì biết thầy ký Trạch chưa vợ. Ông mời về nhà chơi, tạo thuận lợi cho thầy ký Trạch trông thấy cô con gái thứ tư của ông.

Nhiều lần tới lui, hai bên “mến tay mến chân”. Ông Bá hộ thấy hai đứa nhỏ “tình trong như đã mặt ngoài còn e” liền làm lễ cưới. Ông cho con gái và rễ một sở đất để ra riêng. Thầy ký Trạch xin nghỉ làm công chức điền địa để làm chủ điền. Với trình độ văn hóa tương đối khá, lại có ông già vợ cho đất, giúp vốn nên không bao lâu thầy kỳ Trạch phất lên. Với huê lợi hàng năm, ông sắm thêm đất điền. Có điều ông Bá hộ không thích là đất ông tách bộ cho các con của ông lần lượt chạy về tay chàng rể thứ tư. Nguyên do là các con ông mê cờ bạc nên đem đất điền cầm cố nơi anh rể. Cầm cố lâu năm không chuộc kể như mất luôn.

Ông Bá hộ chỉ tự an ủi là “lọt sàng xuống nia”, các sở đất đó không rơi vào người ngoài, thương con gái thì phải thương rể. Nhờ vậy, Hội Đồng Trạch càng ngày càng giàu có, đồn điền ruộng lúa có thể được xếp vào hàng bậc nhất miền Nam lúc bấy giờ. Có người viết :

Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh

Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu

Trần Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa, gần 100.000 ha ruộng muối. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của cha sở và một lô của dân thường. Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.

Con người Trần Trinh Huy từng đi du học ở Pháp, sau ba năm về nước không một mảnh bằng, để lại một người vợ Pháp và một đứa con ở lại Paris. Khi Ba Huy về nước ông Trạch kéo gia đình lên Sài Gòn đón quí tử. Chiếc xe Ford đang dùng tốt nhưng ông nói nhân sự kiện đặc biệt này phải sắm thêm một chiếc xe mới, cho xứng với học hàm, học vị của cậu Ba, cho rạng mặt Trần gia.

Trần Trinh Huy là người cao lớn, khoảng 1,70m, lực lưỡng nhưng không cục mịch, trái lại dáng người rất thanh thoát, sang trọng, da đen, mày rậm… người đầy sinh lực. Tính tình Huy rất dễ dãi và hào phóng. Người trong nhà lầm lỗi, Huy cũng ít rầy la. Bà con ở xa lên thăm, Huy đều cho tiền. Tá điền không thấy Huy đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ Huy còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.

Trong các mối quan hệ, Ba Huy là người khoáng đạt, không dè dặt và mưu toan gì. Thời đó, các cậu công tử lẫn điền chủ điều chơi với người Pháp thì rất khúm núm, nịnh nọt, gọi là “chơi thế”. Riêng Ba Huy thì cứ “toa toa” “moa moa” sòng phẳng, ngang hàng. Nếu như trong mắt giới giang hồ tứ chiếng, Ba Huy là một người ngon nhất Nam bộ, thì trong mắt người Pháp, Huy được nể trọng vì có vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình. Tánh của Ba Huy vị tha và coi tiền như rơm rác. Bút tích của Huy cho thấy tuy nét chữ bay bướm nhưng lại rất xấu, chứng tỏ đó là một con người thông minh, từng trải nhưng đường học vấn không đến nơi đến chốn.

Ba Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ khác. Ông từng ủng hộ Việt Minh một lúc 13.000 giạ lúa. Công tử Bạc Liêu còn tỏ ra là một con người tự trọng, đã hứa với Chính phủ những gì thì ông sẽ làm thế ấy. Ông đã hứa với người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh ủy Bạc Liêu là giảm tô, không hợp tác với Pháp, gửi vải vóc thuốc men cho kháng chiến và thực hiện đúng như vậy. Thích hội hè, Ba Huy có lẽ là người tổ chức hội chợ và hội thi “Hoa hậu miệt đồng” đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ba Huy có bốn người vợ và rất nhiều nhân tình. Người vợ đầu là người Pháp, trong thời gian Ba Huy đi học ở Paris. Về nước ông cưới một người vợ ở Bạc Liêu là Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô Hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn. Ông lấy thêm một bà nữa và sinh được ba người con: Nghĩa, Nhơn, và Đức.

Bà cuối cùng, khoảng năm 1968, Ba Huy dọn về căn nhà phố đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống, ông thấy một cô gái gánh nước đi qua đẹp quá. Hỏi thăm thì đựơc biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà ông già xin “đổi” căn nhà đó lấy cô gái. Ông già và cô gái sau khi bàn bạc đồng ý. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông đến 50 tuổi. Bà sống chung thủy với ông đến ngày ông qua đời. Họ có ba con trai và một con gái tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.

Ba Huy còn rất nhiều con với các nhân tình. Tuy những người đó không phải vợ chính thức nhưng con cái của họ đều được Trần gia thừa nhận. Ông mất năm 1973 ở Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

Những giai thoại

Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Huy đi vào các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc này là một sự kiện đặc biệt, Ba Huy đi đến đâu tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa được nhìn thấy xe hơi, ca nô bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội Đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ “mẫu quốc” qua làm mướn cho bên vợ, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.

Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nữa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò, là em út của ông ta.

Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quí tử về. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.

Ba Huy sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia SG Xuan Maimà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, cây “can”…

Công tử Bạc Liêu là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh. Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo vannghe A

9 Anh Thy 1NHẠC PHẨM HOA BIỂN

CỦA ANH THY

Nhạc phẩm Hoa biển của Anh Thy do nhật Trường và Tuấn Vũ trình bày

http://youtu.be/hgSi–9Dw-s

http://youtu.be/4EzZVc1tfA0

Sau tháng 4/75, nhạc miền Nam nhanh chóng vượt Bến Hải, tiến chiếm lĩnh vực nghe nhạc tại Hà Nội, Hải Phòng, lan tận ải Nam Quan. Thậm chí nhạc miền Bắc cũng dần dần mất định hướng, đành chịu để nhạc miền Nam giành dân lấn đất.

Đến nay, ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng là Đêm nguyện cầu đã phủ mờ Trường sơn đông Trường sơn tây. Và Tiếng chày trên sóc bam bo đã chìm dần trong Tiếng hát hậu phương âm vang Trên bốn vùng chiến thuật.

Riêng nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam Trần Thiện Thanh có cái lạ là sau cuộc đổi đời, không chỉ lấn lướt nhạc lính của tất cả nhạc sĩ miền Bắc mà còn làm thay đổi cả cảm nhận của chính người miền Nam. Trước kia, rất nhiều người coi lời ca Trần Thiện Thanh là cường điệu, là hào nhoáng nhưng khi quê hương sỏi đá biết buồn, những lời đó lại gây nhức nhối tận tâm can.

Tôi cũng không thoát khỏi sự chuyển hướng này mà không chừng còn … sâu đậm hơn. Trước đây, tôi không chỉ cho lời ca Trần Thiện Thanh là đầu môi chót lưỡi mà còn thích nghêu ngao những câu sửa đổi cợt đùa, như “trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp… không giống ai” ! Vậy mà khi từng trải những đêm dài trong tù, dù chỉ với một giọng ca làng nhàng, chỉ với từng tiếng đàn lập dập mà lạ lùng sao chính những lời chót lưỡi đầu môi đó lại thắm thía gợi về những buồn vui đời lính, về những vùng biển mặn xa khơi.

Tôi bắt đầu yêu nhạc Trần Thiện Thanh từ đó. Cho nên khi an cư lạc nghiệp xứ người, tôi đã tìm mua bất cứ băng nhạc, CD và DVD nào có giọng ca hoặc nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Một là để thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh, hai là như một lời xin lỗi…

Khi được tin anh đã qua Mỹ 1993, tôi rất vui mừng. Tôi muốn nhìn lại hình ảnh Nhật Trường trên Tiếng Hát Đôi Mươi mà hai mươi năm trước tôi không mấy quan tâm. Quả nhiên, qua cuốn video Holywood Night, tôi đã vô cùng thích thú gặp lại Nhật Trường trong phong thái diễn tả rất đặc thù. Hình ảnh của anh trong bộ quân phục trắng hải quân gợi nhớ hình ảnh của chính tôi ngày nào. Thêm vào đó là bài Hoa Biển mang tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ Anh Thy …

Cuối năm 1967, đang chỉ huy toán giang đỉnh hoạt động vùng sông Măng Thít, tôi bất ngờ được lệnh thuyên chuyển về Phòng Tâm lý chiến Bộ tư lệnh Hải quân. Tôi chắc là nhờ “uy tín” mấy bài thơ, mấy truyện ngắn đăng trên tờ nguyệt san “Lướt Sóng” mà được ban biên tập “triệu hồi” tăng cường. Vào trình diện vị trưởng phòng, tôi không giấu vẻ thất vọng khi ông lại giao cho cái chức hoàn toàn ngoài năng khiếu : Trưởng ban văn nghệ Hải quân. Tôi viện lý do không rành đờn ca xướng hát để từ chối. Ông cười, bảo tôi có máu văn nghệ mà được giao cho nguyên ban văn nghệ thì còn đòi hỏi gì !

Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc, ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó là lần đầu tôi thấy “dung nhan” ba nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân và Anh Thy. Riêng với Anh Thy, tôi vốn thích các bản Biển Tuyết, Tâm tình Người Lính Thủy, Lời Nguyện Cầu Nửa Đêm nên có ngay cảm tình.

Nguyễn Vũ vóc dáng nhỏ con, chững chạc, ít cười. Mặc Thế Nhân ngang tầm Nguyễn Vũ, nếu không tía lia thì luôn chúm chím. Còn Anh Thy, người cân đối, cao ráo, khuôn mặt điểm vài anh hoa phát tiết, miệng rộng môi dầy, cười hở hai hàm răng đều đặn. Ba nhạc sĩ thành danh nhưng chỉ mình Nguyễn Vũ ôm đàn trên sân khấu, còn Mặc Thế Nhân thì giữ vai kịch sĩ, Anh Thy làm hoạt náo viên. Đó cũng là lần đầu tôi biết mặt ca sĩ kích động Elvis Phương, lúc đó anh biết chỉ mỗi bản tân nhạc Mộng Dưới Hoa mà dân làng xã đều ….ngáp khi anh trình diễn. Còn đỡ hơn là khi anh hát kích động Anh Mỹ họ bỏ ra về. Có lẽ vì vậy mà năm sau anh xin qua Biệt đoàn văn nghệ trung ương.

Ban văn nghệ thường tháp tùng trên một trong hai chiếc y tế hạm, phối hợp thực hiện công tác có tên gọi chung là dân sự vụ. Công tác gồm trình diễn văn nghệ, khám bệnh phát thuốc, phát quà và truyền đơn. Đối tượng là các đơn vị Hải quân, gia đình binh sĩ và dân chúng ở các làng xã vùng xôi đậu, các hải đảo xa khơi… Mỗi chuyến kéo dài từ một đến hai tháng.

Sau chuyến công tác đầu tiên vùng Rạch Giá – Phú Quốc, tôi biết được tính tình và biệt danh của từng người. Như tay trống kích động tên Minh rất vui nhộn, có bộ mặt dài như mặt ngựa nên bạn bè gọi Minh ngựa. Hai tay đờn hiền hậu có cùng tên Đức nên được phân biệt Đức Cống, Đức Cạp. Riêng Anh Thy tuy dáng vẻ hào hoa, lịch lãm nhưng do mang tên thật là Phạm Văn Khổn nên bị anh em âu yếm tặng cho cái biệt danh khó nghe : Khổn Lò ! Dù vậy nhạc sĩ nhà ta lại tỏ ra thích thú.

Thời gian đó Sài Gòn đang lộn xộn với các cuộc đảo chánh, biểu tình nên dù vừa xa nhà cả tháng mới về, chúng tôi vẫn lãnh lệnh cấm trại 50%. Tôi và Anh Thy được chia cùng phiên trực nhật nên có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Một buổi tối, đang ngồi viết một truyện ngắn thì Anh Thy bước đến trước bàn, chân chập lại, tay đưa lên chào, nửa nghiêm nửa đùa. Anh tươi cười mở quyển Lướt Sóng đã cũ, chỉ bài thơ :

- Ông thầy ! Em viết bản nhạc khá lâu mà không đặt ra lời. Gặp cái tựa bài thơ của ông thầy em chịu quá. Xin phép cho em “chôm” cái tựa Hoa Biển để làm tựa cho bản nhạc.

Tôi vồn vã :

- Khỏi cần chôm cái tựa, hân hạnh tặng Anh Thy nguyên bài thơ để phổ nhạc.

Anh Thy đọc một đoạn trong tám đoạn :

- “Áo trắng em mang hoa bọt biển. Còn đêm nay nữa, sáng xong rồi. Áo trắng anh mang cho trọn kiếp. Còn em một buổi để rồi thôi” ! Rất tiếc ông thầy, nghe …thảm quá ! Em chỉ thích những gì vui vui…

Hai tuần sau, Anh Thy vừa đàn vừa hát cho tôi nghe lời ca đã hoàn chỉnh. Tôi thích thú với những ý tưởng hòa ái thật khớp với giai điệu nhịp nhàng. Lời bài hát đè bẹp lời bài thơ. Hoa Biển được tiếp nhận nồng nhiệt dù phát hành sau Tết Mậu Thân tang tóc…

Chừng tháng sau, khi được chỉ định làm trưởng trại tiếp cư Phạm Thế Hiển, tôi kéo trọn trung đội này qua bên kia cầu chữ Y để giữ an ninh trật tự… Nhiều tháng sau đó, toàn ban lại khăn gói xuống chiếc y tế hạm, trực chỉ miền Trung, ngược dòng Hương giang đến ủi bãi bên cầu Tràng Tiền và bắt đầu công cuộc cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc.

9 Anh Thy 2Ở Huế trở về, tôi được thăng cấp, thăng chức phó phòng, bàn giao ban văn nghệ cho một sĩ quan tân đáo. Bẵng một thời gian, một buổi sáng, Anh Thy vào văn phòng tặng tôi bản nhạc mới ra lò Lính Mà Em. Anh cho biết đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi có dịp hỏi anh học nhạc với ai. Anh Thy tươi cười, nghe cái “air” thì biết là ai rồi. Tôi thú nhận không rành nhạc. Anh lại cười, là Nhật Trường sư phụ !

Ngoài Anh Thy, Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc : “Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá” ! Tôi khích lại : “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên tứ tỉnh queo : “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không” ? “Chỉ với một điều kiện : cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”.

Tôi thấy cũng dễ… ăn tiền. Cứ dựa vào bốn năm đi tàu từ ngày ra trường, rồi thêm mắm thêm muối là thành truyện dài thỏa mãn điều kiện. Hăng hái, tôi miệt mài viết ba tháng liền nhưng vì ướt át quá nên trở ngại… phối hợp nghệ thuật. Mãi đến giữa năm 1969 tôi mới có sách để “đáp lễ” các nhạc sĩ của tôi. Khi đọc dòng đề tặng Mến tặng nhạc sĩ Anh Thi, anh gãi đầu xin sửa thành Thy. Vài hôm sau, Anh Thy chê : “Truyện viết về sĩ quan mà lại lấy cái tựa Đời Thủy Thủ”. Tôi bào chữa : “Thì quan đi tàu cũng là… thủy thủ” !

Chưa kịp hưởng cái thú chiều chiều dạo qua các nhà sách, sạp sách xem vị thế trình làng của Đời Thủy Thủ, tôi được lệnh tham dự hành quân tái lập quận Năm Căn. Toàn ban văn nghệ với sự tăng cường các chuyên viên tâm lý chiến gồm các nhà văn nhà thơ Võ Hà Anh, Phan Minh Hồng, Tống Minh Phụng, Tô Giang…, chúng tôi đảm trách phần nhiệm chiêu dụ dân chúng trở về quận cũ đang bỏ hoang. Ngày nào như ngày nào, cứ vừa ra khỏi căn nhà nổi trên sông Bồ Đề chừng vài trăm thước là bị tấn công. Tuần nào cũng có tử thương, bị thương nặng nhẹ. VC cũng không chừa cả chiếc y tế hạm có mang biểu tượng hồng thập tự to lớn hai bên hông.

Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt-Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy.

Gần Tết năm 71, lên Sài Gòn nhận sách biếu, tôi ghé Phòng tâm lý chiến ưu tiên gặp họa sĩ Vũ Thái Hòa (Nhiều thông tin trên interrnet cho rằng Anh Thy chính là Trần Thiện Thanh. Một bài viết của Vũ Thái Hòa cho rằng Phạm Văn Khổn không biết đàn và tiếm danh Anh Thy là của Trần Thiện Thanh. Còn Việt Dzũng cho biết Anh Thy soạn Hoa Biển chung với Trần Thiện Thanh), người phụ trách trình bày tờ Lướt Sóng và vẽ bìa cho các quyển truyện dài của tôi. Kế đến là tìm các nhạc sĩ hải quân. Nhìn tựa truyện Trong Cơn Bão Biển, Anh Thy đùa : “À, truyện về bão, không phải về quan… thủy thủ !” Tôi cười gượng : “Vẫn là truyện quan thủy thủ !”.

Về lại vùng hoạt động, lòng nhủ lòng nhất định phải viết một truyện về lính. Cuối tuần, tôi theo các giang đỉnh đi hành quân tuần tiểu. Một giang đỉnh thường được trang bị bốn nhân viên. Thuyền trưởng thâm niên nhất mang cấp hạ sĩ quan. Đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho quyển truyện tương lai. Tôi quan sát nghi nhận sinh hoạt. Tôi nghiền ngẫm nội dung, sắp xếp bố cục. Đầu năm 75, quyển Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh ra đời. Tôi ghé phòng Tâm lý chiến, hy vọng ban văn nghệ chưa đi trình diễn xa để có dịp khoe “thành tích” với Anh Thy. Nhưng Vũ Thái Hòa lại báo tin Anh Thy đã tử nạn trong một chuyến công tác năm rồi…

Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân Việt Nam. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải ấn hành năm 2004.… Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là… Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích.

Một hôm nghe tin Nhật Trường tuyên bố giải nghệ, tôi gửi mua ngay cái DVD cuối cùng của anh : Nhật Trường Giã Từ Sân Khấu. Ngày 13 tháng 5 năm 2005, các báo đồng loạt đưa tin Trần Thiện Thanh đã vĩnh viễn ra đi…. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Viêt tỵ nạn, Trung tâm Asia tổ chức một đại nhạc hội quy mô trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa. Tôi muốn về tham dự nhưng ở quá xa. Đành phải chờ DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh phát hành tháng 4/2006.

Từ nhạc bản đầu tiên của DVD 1, tôi đã bắt đầu rơi nước mắt. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca hàng đầu, qua nghệ thuật hòa âm hiện đại, trong một khung cảnh huy hoàng và trong nỗi xúc động sâu xa. Tới DVD thứ nhì, sau liên khúc Không Bao Giờ Ngăn Cách và Mùa Đông Của Anh, MC Việt Dzũng giới thiệu mục kế tiếp : “Ca khúc Hoa Biển được viết chung với nhạc sĩ Anh Thy, cũng là một Trung uý Hải quân”. Đang tràn ngập xúc động, lời giới thiệu làm tôi tỉnh người. Tôi chưa từng nghe hoặc đọc thấy tác giả Hoa Biển là Trần Thiện Thanh dù là soạn chung với Anh Thy. Trên các tác phẩm tôi được tặng, từ Anh Thy cũng như từ Trần Thiện Thanh, từ các bài viết xưa tới nay đều ghi một tác giả duy nhất là Anh Thy. Tác phẩm này nổi tiếng đến độ nói đến Hoa Biển là người yêu nhạc nghĩ đến Anh Thy hoặc nói đến Anh Thy là thấy Hoa Biển. Thêm một ngạc nhiên nữa, nhạc sĩ Anh Thy không thể là Trung úy Hải quân. Cho đến ngày tôi rời ban văn nghệ năm 1970, Anh Thy còn mang cấp hạ sĩ. Vào năm anh tử nạn 1974, có thể anh được vinh thăng Thượng sĩ.

Trong khi tôi còn đang ngơ ngẩn về tiết lộ tác giả mới của bài Hoa Biển thì một tiết lộ khác, kế tiếp, làm tôi sững sờ. Ở tiết mục ngay sau đó, MC Nam Lộc gợi ý cho nữ ca sĩ Thanh Tuyền đứng bên cạnh, rằng theo mọi người biết thì nhạc phẩm Chuyến Đi Về Sáng là của nhạc sĩ Mạnh Phát nhưng theo gia đình Nhật Trường tiết lộ thì ca khúc này là của Trần Thiện Thanh. MC Nam Lộc yêu cầu Thanh Tuyền, trong tư cách là học trò của nhạc sĩ Mạnh Phát và cũng là bạn thân của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, hãy cho mọi người biết tác giả thực sự của Chuyến Đi Về Sáng. Thanh Tuyền xác nhận chính Trần Thiện Thanh sáng tác bản nhạc này nhưng vì do túng thiếu nên đem bán cho Mạnh Phát. Mạnh Phát góp phần hiệu đính nên tác giả là thực sự là cả hai người.

Hai tiết lộ liên tiếp, bất ngờ khiến tôi bực mình tắt máy và trằn trọc cả đêm. Trước Hoa Biển, Anh Thy đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Lời ca chắc chắn là của Anh Thy. Phần nhạc, rất có thể do Anh Thy sáng tác nhưng nhờ thầy Trần Thiện Thanh duyệt sửa ? Duyệt sửa thì có đáng gì nên “sư phụ” không muốn ghi tên mình vào. Lại nữa, có nên tin chăng sự việc “Trần Thiện Thanh hợp soạn cùng Anh Thy” khi mà ngay cấp bậc của Anh Thy đã được nêu lên không đúng ?

Trường hợp Chuyến Đi Về Sáng. Chuyện riêng giữa hai nhạc sĩ, làm sao Thanh Tuyền biết ? Có đáng tin không ? Sao Trần Thiện Thanh không bán thẳng cho nhà xuất bản mà lại bán cho Mạnh Phát ? Có thể đó là bản nhạc đã bị nhà xuất bản từ chối, nhưng vì đàn anh Mạnh Phát muốn giúp đàn em Trần Thiện Thanh có tiền thang thuốc cho con nên mới mua. Và dành quyền sửa chữa. Dù thế nào, việc đàn anh mua nhạc đàn em và đề riêng tên mình xem ra cũng không mấy tốt đẹp. Trần Thiện Thanh biết vậy nên đã tự trọng, biết ơn và giữ kín trọn đời. Vậy thì Thanh Tuyền lấy tư cách gì mà công khai phổ biến ? Chẳng lẽ Thanh Tuyền không hiểu làm như thế là bêu rêu cả hai nhạc sĩ ?

Việc chọn lựa nhạc để vinh danh Trần Thiện Thanh của Trung tâm Asia cũng lạ lùng. Trần Thiện Thanh nổi tiếng qua cả trăm bản nhạc, đâu cần phải “dựa hơi” hai bản chưa từng mang tên Trần Thiện Thanh. Vinh danh bằng hai bản nhạc “soạn chung” sao bằng hai bản của chính đương sự. DVD 50 chỉ mới sử dụng có 26 bản nhạc. Còn đến 80 bản. SG Lan Huong 2Như Mùa Xuân Lá KhôDấu Đạn Thù Trên Tường Vôi Trắng có phần mang nhiều ý nghĩa hơn cả Hoa BiểnChuyến Đi Về Sáng!

Một năm đã trôi qua kể từ ngày phát hành Asia DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh, một quãng thời gian đủ để tránh mọi ngộ nhận. Công trình huy hoàng tráng lệ đã gặt hái thành quả tương xứng. Xúc động của hàng trăm ngàn khán giả cũng đã lắng dần. Tôi thấy đây là lúc cần đặt ra câu hỏi: “Tại sao Trung tâm Asia lại nêu lên sự việc quá xa xưa, chỉ người trong cuộc mới biết, khi mà cả ba tác giả liên hệ đều đã qua đời ?” Những gì do các MC và ca sĩ Thanh Tuyền tiết lộ lại chỉ là những lời nói suông. Đây không thể là vấn đề giải trí, mua vui mà là vấn đề danh dự, đạo đức. Nếu vì mục đích “sự thực” thì hãy trưng bằng cớ… (theo Vũ Thất)

Lan Hương chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (38)

Logo vannghe A

Anh Viet Thu 2NHỚ VỀ NHẠC SĨ

ANH VIT THU

Anh Việt Thu tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Campuchia. Đến năm 1940 thì ông mới được làm giấy khai sinh tại An Hữu, Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Bút danh “Anh Việt Thu” có nghĩa là “Anh của Việt Thu” vì em trai của ông có tên là Việt Thu.

Ông sáng tác rất sớm. Từ năm 1956, ông đã có một số tác phẩm đầu tay như Giòng An Giang, Đẹp Bạc Liêu… Từ đó cho đến lúc qua đời, ông đã sáng tác khoảng hơn hai trăm bài hát. Bạn bè nhận xét rằng Anh Việt Thu là một người ít nói, hiền lành, sống nhiệt tình và có tính nghệ sĩ. Lúc ông dạy nhạc ở Tây Ninh, tuy lương bổng rất khá nhưng do tính tình nghệ sĩ nên Anh Việt Thu vẫn cứ túng thiếu chuyện tiền bạc, có lúc đã phải bán radio để trả tiền thuê nhà.

9 Anh Viet Thu 1Anh Việt Thu qua đời ngày 15 tháng 3 năm 1975 (nhằm ngày 3 tháng 2 năm Ất Mão) tại Y viện Quảng Đông, Sài Gòn (nay là bệnh viện Nguyễn Tri Phương, do căn bệnh hoại thận. Ông được đưa về quê an táng tại làng An Hữu (nay là xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).

Sự nghiệp

Niên khoá 1958-1959, Anh Việt Thu là trưởng đoàn văn nghệ Tổng hội Sinh viên Quốc gia. Năm 1963, ông đệ trình luận án âm nhạc học tại nhạc viện Tokyo, Nhật Bản và sau đó đỗ tốt nghiệp hạng ưu tại Trường Âm nhạc Quốc gia Sài Gòn khóa đầu tiên. Năm 1964, ông về Tây Ninh dạy nhạc cho một trường phổ thông.

Từ năm 1965 đến năm 1966, ông thành lập đoàn Du ca Phù Sa hát từ Cần Thơ ra đến Huế.

Ông được đài phát thanh Sài Gòn mời về làm chương trình Phù Sa và Tuần báo văn nghệ truyền thanh từ năm 1966 đến năm 1968. SG Lan HuongSang năm 1971, ông có riêng chương trình Giờ âm nhạc Anh Việt Thu trên Truyền hình số 9 Sài Gòn..

Từ năm 1972 đến năm 1974, Anh Việt Thu hợp tác với hãng đĩa hát Việt Nam thực hiện một số băng nhạc. Về cuối đời, ông làm việc tại Phòng Văn nghệ đài phát thanh Quân Đội VNCH chung với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. (trích trong Wikipedia)

Lan Hương chuyển tiếp

NHẠC SĨ ANH VIỆT THU

Khi nói đến hai bài thơ Nhớ Nhau Hoài và Gió Về Miền Xuôi của nhà thơ Thiên Hà, mà không nói đến nhạc sĩ Anh Việt Thu quả thật sẽ thiếu xót.

Cũng như nhà thơ Thiên Hà, nhạc sĩ Anh Việt Thu rất được nhiều văn nghệ sĩ viết về ông. 9 Anh Viet Thu 6Với nhận xét của nhạc sĩ Nguyễn Quốc Đông sau đây :

- Nhạc sĩ Anh Việt Thu sinh năm 1940, tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang, quê Cái Bè – An Hữu thuộc tỉnh Tiền Giang bây giờ. Bút danh nầy theo lời anh Vũ Anh Sương (làm thơ – bạn Anh Việt Thu) xuất phát từ câu chuyện gia đình : Việt Thu là tên em trai ông, do ông phải bảo bọc người em nên đặt tên như thế để nhớ trách nhiệm của mình tức “anh của Việt Thu”. Ông hoạt động văn nghệ ở Sài Gòn vào những năm 1970. Các bài hát của ông đã quá quen với chúng ta như : Đa tạ, Người ngoài phố, Tám điệp khúc, Hai vì sao lạc, Người đi ngoài phố..

Vào năm 1964 nhạc sĩ Anh Việt Thu từ Sài Gòn lên Tây Ninh dạy học ở trường Nam (nay là trường PTTH Trần Hưng Đạo). Có thể nói ông là người đầu tiên đưa âm nhạc vào học đường thời ấy. Lớp học trò bây giờ ở trên tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, vẫn còn nhớ bài hát mang điệu valse ngọt ngào mà thầy Thu đã dạy :

“Dòng An Giang sông sâu nước biếc, dòng An Giang cây xanh lá thắm,l ã lướt về qua Thất Sơn….

“Dòng An Giang đáy nước in sâu, nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa, nắng vẫn chiếu trên làn nước nhấp nhô…

“Đây những người thôn nữ xinh duyên dáng chuyền tay dắt nhau múc mấy vầng trăng đổ đi…”

Mời nghe ca khúc Dòng An Giang – do Ánh Tuyết trình bày :

http://youtu.be/rJBR-NmvblU

Ông dạy nhạc có những nét độc đáo khó quên, lúc ngẫu hứng cùng thầy đi bộ từ chợ cũ – thị xã (nơi ông thuê nhà luật sư Đinh) xuống dốc sương mù Mít Một vào khu vườn sầu riêng của hai người bạn tên Muông – Trâm để vui chơi ca hát. 9 Anh Viet Thu 2Lương bổng thời đó rất khá (tương đương một chiếc xe Honda Nhật) nhưng do tánh nghệ sĩ nên cũng túng thiếu dài dài, có lần ông phải bán chiếc radio 3 band để trả tiền thuê nhà (nên nhớ thời đó có cái radio là quý, nghệ sỹ càng quý hơn vì để nghe nhạc của mình.)

Đời nghệ sỹ là vậy, xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử từng than : Gió trăng có sẵn làm sao ăn ?

Ông là một trong những người đưa những âm điệu nhẹ nhàng bình dân vào nhạc cùng với các nhạc sỹ Trúc Phương, Châu Kỳ, Minh Kỳ. Lam phương… (Như điệu boléro, ballade, habanera…) và đã từng đỗ hạng ưu khoá I trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn.

Sau này nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ khá nhiều bài thơ của người bạn thân Thiên Hà, rất thịnh hành và quen thuộc với người yêu nhạc như bài Nhớ nhau hoài, hay bài Gió về miền xuôi.

Theo nhạc sĩ Nguyễn Quốc Đông kể :

- Trong một dịp xuống Cẩm Giang vào năm 2005, tôi được Vũ Anh Sương cho xem bức thư ông gửi khi sáng tác xong ca khúc Đa Tạ, lời thư rất cảm động : “Mình vừa sáng tác xong 2 bài, độ trung tuần tháng tư trở đi cậu đón nghe đó là Chân dung và Đa tạ. Hiện mình chưa in ronéo, 9 Anh Viet Thu 3cuối tháng tới mình in luôn, cậu nhớ mua cái radio nho nhỏ nghe nhạc mình xem sao ? Mình vẫn sống vất vưởng cù bất cù bơ… (thư đề ngày 31/3/66)

Cũng vào thời ấy, nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ một bài thơ hay của thi sĩ Trường Anh, một nhà giáo ở Gò Dầu, bài “Mưa Cẩm Giang” trích trong tập thơ “Mưa Đêm Nay” xuất bản năm 1964 được thi sĩ Vũ Hoàng Chương đề tựa.

Năm 1972,nhạc sĩ Anh Việt Thu là một trong 12 nhạc sĩ du ca có mặt trong tuyển tập nhạc “Hát cho những người sống sót “ (Bút nhạc xb 1973) ông đã viết “Một ngày Việt Nam thơm lừng hòa bình, một ngày Việt Nam bay tràn thế giới…”

Đến năm 1975 ông qua đời tại Sài Gòn, hiện còn người vợ là bà Trần Nữ Hiệp và con trai Việt Bằng sống ở Sài gòn.

Còn nhà thơ Thiên Hà viết về người bạn thân :

9 Anh Viet Thu 5- Với Anh Việt Thu phải nói là người bạn thâm giao của Thiên Hà. Anh Việt Thu đã phổ nhạc rất nhiều bài thơ của Thiên Hà và bài nào cũng nổi tiếng đi vào lòng người cho đến tận hôm nay như : Gió Về Miền Xuôi, Nhớ Nhau Hoài, Xa Dấu Ngựa Hồng…v..v.

Do cơn bệnh hiểm nghèo những ngày cuối đời Anh Việt Thu tâm sự với Thiên Hà, anh mơ ước có một căn nhà bên cạnh dòng sông như ở Tân Qui, đường Trần Xuân Soạn hay Bình Đông. Có lẽ anh muốn ngắm nhìn dòng nước mỗi ngày như ở vùng An Hữu quê anh thời thơ ấu.

Khi Thiên Hà đẩy xe đưa Anh Việt Thu vòng quanh bệnh viện cho khuây khỏa chuyện các thầy thuốc đã bó tay. Qua khoảng sân còn sót từng giọt nắng chiều Anh Việt Thu nhìn bầu trời bao la mà thèm những bông hoa nắng. Hiểu ý bạn Thiên Hà hái một đoá Mẫu Đơn bên vệ đường an ủi, động viên bạn mình. Nhưng rồi cơn bệnh nan y đã ngắt đi cuộc sống của nhạc sỹ Anh Việt Thu tại Y viện Quảng Đông (nay là Bệnh viện Nguyễn Tri Phương) Sài Gòn lúc 2 giờ 40 ngày 15/3/1975 và đưa đi an táng tại quê nhà.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết :

- Anh Việt Thu mất sớm. Những ngày còn làm việc tại Phòng Văn Nghệ thuộc TCCTCT (do Đinh Thành Tiên, tức Thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng), Anh Việt Thu chắc chỉ mới ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong Phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường nữa. 9 Anh Viet Thu 4Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư nhiếp hộ tuyến (hay phổi ?) rồi qua đời.

Như thế ca khúc “Dòng An Giang” hẳn đã được Anh Việt Thu viết vào những năm ông còn rất trẻ, ở độ tuổi chưa đến 20, vì bài hát đã nổi tiếng trước đó nhiều năm.

Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói. Ông hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình. Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi.

Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam trước 1975; những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao, hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh, rạch, như lòng người miền Nam, khi thủy triều rút đi, khô cạn, phơi mở không còn gì giấu giếm, lúc thủy triều trở lại, lại kín đáo, tràn đầy. Như bài “Dòng An Giang”.

SG Ng Viet 4Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu là một tình khúc. Nhưng ông đã nhập cái tình riêng của mình vào với tình yêu quê hương, đất nước. Một đất nước tràn ngập điêu linh, tang tóc, mỗi tiếng hát như một lời thở than, kêu gọi yêu thương nhiều hơn là tỏ tình.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn…

Nguyễn Việt (trong “Tác phẩm và tác giả Thơ Nhạc trữ tình”)

Đọc thêm: Trên “Một thời Sài Gòn”năm 2010.

Mời bấm vào đường link sau đây : Nhạc sĩ Anh Việt Thu (1939-1975)

Tr ca nhacMỜI NGHE 2 CA KHÚC :

ĐA TẠ & TÁM ĐIỆP KHÚC CỦA ANH VIỆT THU

Tám Điệp Khúc – Duy Khánh & Thanh Tuyền

http://youtu.be/HkCPPFwtxSwhttp://youtu.be/_zls9Ly4YXo

ĐA TẠ - Duy Khánh & Tuấn Vũ

http://youtu.be/N2xGuVvAO-o - http://youtu.be/0IkdTaHhm34

Logo phiem

9 Canh ga 1CHỦ NGHĨA

“CANH GÀ THỌ XƯƠNG”

Sống mãi trong sự nghiệp “dịch” cũa chúng ta ! Câu chuyện (có thật) về …. “chicken soup”.

Số là trong văn chương ca dao Việt Nam có bài này:

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương

Mịt mùng khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ…

Thực ra nguyên tác bài này là ở Hà Nội, nên phiên bản gốc là

9 Canh ga 2Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương  (đền Trấn Võ ở Hà Nội)

Mịt mùng khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày An Thái mặt gương Tây Hồ

Nhưng cụ Phạm Quỳnh khi ở Huế, cảm hứng cái đẹp xứ Huế, nên cụ “mượn” bài nói trên và đổi đền Trấn Vũ ra chùa Thiên Mụ. Bài thơ là thế, nhưng vào khoảng thập niên 60, có một “hộc” giả ở miền Nam, tôi không nhớ tên, dám dịch 4 chữ “canh gà Thọ xương” là “chickken soup Thọ Xương”, và giảng là món canh gà đặc sản của …. Thọ Xương….  Tới bây giờ người ta vẫn còn dùng chữ “chicken soup” để nói về bài thơ dịch “sáng tạo” nói trên.

Trong khi “canh gà” ở đây là giờ ban đêm – kiểu canh một, canh hai …. và ở đây canh gà phải hiểu là tiếng gà gáy điểm canh 5, Hng Ng Van Danhtức là tiếng gà gáy gần sáng (canh 5 là khoảng 3h-5h sáng – xem chi tiêt bên dưới).

Theo quan niêm tính giờ ngày xưa thì một ngày 24h được chia làm 5 canh và 6 khắc

Theo cách tính thì Canh 1 là Giờ Tuất 19h-21, Canh 2 là Giờ Hợi 21h-23h, Canh 3 là Giờ Tý 23h-1h, Canh 4 là Giờ Sửu 1h-3h, Canh 5 là Giờ Dần 3h-5h. (theo Q.V.)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Logo tam su 2

6 Thuong xa ASÀI GÒN ƠI !

Đoản văn : Uyên Sồ

Thế là thương xá TAX sắp tiêu đời nhà ma rồi. Nó sắp theo chân EDEN để đi vào nghĩa trang quên lãng.

Người SG nhốn nháo. / Người SG rưng rưng.

SG ơi ! Gần 40 năm nay em thay đổi nhiều quá ! Em giống như một bệnh nhân phong, cứ từ từ rơi rụng mất từng phần cơ thể. Từng ngày. Từng tháng. Từng năm…Ôi ! Xót xa !

Người SG đỏ mắt tìm kiếm những phần cơ thể em rơi rụng mà nào có thấy. Công Lý nơi đâu ? Tự Do chốn nào ? Cường Đẻ trôi giạt về đâu ? Làm sao có lại con đường đại học, con đường DUY TÂN cây dài bóng mát để Trả lại em yêu ?

Tr ao dai 10Đâu rối những tà áo dài thướt tha nườm nượp phố xá mỗi chiều thứ Bảy và Chủ nhật ? Đâu rồi những trai thanh, gái lịch nắm tay nhau dung dăng dung dẻ trên các ngả đường văn minh của Hòn ngọc Viễn đông?

Đâu rồi những ngày cận Tết nguyên đán nhôn nhịp với hàng Tết muôn màu rực rỡ cùng tiếng rao hàng rôm rả ? Đâu rồi chợ hoa NGUYỄN HUỆ mỗi dịp xuân về ?

SG bây giờ ngập lụt quanh năm suốt tháng. SG bây giờ đống rác Viễn đông. SG bây giờ làm ta quặn đau nhức buốt.

Ta bỗng nghe đâu đây tiếng ai nức nở:

SG ơi, ta đã mất người trong cuộc đời

SG ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời

Giờ còn đây những kỉ niệm sống trong tôi, những nụ cười nát trên môi, những giọt lệ , ôi sầu đắng…

Uyên Sồ - SG, 7/10/2014

Logo nhan vat

9 Nuoc my 2NGƯỜI VIỆT ĐẦU TIÊN

ĐẶT CHÂN ĐẾN HOA KỲ

Khi Bùi Viện (một vị quan sống dưới triều vua Tự Đức) đặt chân đến Hoa Kỳ để đặt quan hệ ngoại giao vào đầu những năm 1870, lịch sử đã coi ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đất nước châu Mỹ này. Nhưng trong cuốn sách “con đường thiên lý” (NXB Văn hóa – Thông tin), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục, chứng minh rằng trước Bùi Viện 20 năm, có một người Việt đã thực hiện một chuyến phiêu lưu ở miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ như một cao bồi thực thụ. Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông làTrần Trọng Khiêm (người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ).

Từ người Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ và nhà báo Việt đầu tiên trên đất Mỹ

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

9 Den My 1Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất, từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó ông trở về thành phố Xanh – Phát – Lan – Xích – Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.

Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Lousiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là cụm từ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người, nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn, gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. 9 Den My 2Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam, nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa, nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng. Nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng, các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8/11/1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. 9 Den My 3Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco  và nước Mỹ với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương. Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. 9 Den My 4Khi người anh nhắn lại: “gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi làng xóm bắt đầu trù phú thì thực dân Pháp xâm lược nước ta. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi. Năng khiếu ngoại ngữ cũng giúp Lê Kim cảm hóa được một nhóm lính Pháp và dùng chính nhóm lính này tấn công quân Pháp ở Cái Bè, Mỹ Qưới, khiến cho quân giặc điêu đứng.

Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăn trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối : “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

HNg Huynh V. Yen 3Như vậy, không chỉ là người đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, Lê Kim còn là một trong những nhà yêu nước can đảm đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Dù cuộc khởi nghĩa của ông cùng chung số phận với nhiều cuộc khởi nghĩa khác ở Nam Kỳ đều bị thực dân Pháp và triều đình Nguyễn đánh tan, nhưng Lê Kim vẫn được công nhận là một trong những danh nhân lớn ở Đồng Tháp thế kỷ 19 (Dựa trên tư liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 52 other followers

%d bloggers like this: