VĂN HÓA VĂN NGHỆ (20)

Logo vannghe A

9 Dan bau 5VÀI NÉT VỀ ĐÀN BẦU

- Nhạc Sĩ Phạm Thúy Hoan

Đàn bầu ai gảy nấy nghe

Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu

Câu ca dao trên chúng ta thường được nghe truyền tụng trong dân gian, đã phần nào nói lên được sức quyến rũ của cây đàn này. Vâng, thật là tuyệt diệu, chỉ với 1 sợi dây thép căng dài trên mặt đàn, 1 đầu dây cột dưới đàn, 1 đầu dây cột vào cần đàn, trên cần có nửa trái bầu, thế rồi chỉ với một cây que ngắn trong bàn tay mặt, khảy vào một số điểm trên dây, người nghệ sĩ tạo ra vô vàn âm thanh quyến rũ:

Một dây nũng nịu đủ lời

Nửa bầu chứa cả đất trời âm thanh

(Văn Tiến Lê)

Cũng như hầu hết các nhạc khí khác của Việt Nam, đàn bầu không biết do ai sáng chế, và xuất hiện từ thời kỳ nào. Dựa vào chuyện kể của GS Trần Văn Khê, thầy nói rằng trong 1 bài tham luận về đàn bầu nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, đọc tại Bulgary nhân dịp Liên Hoan Âm Nhạc Dân Gian, nhạc sĩ kể lại rằng :

Tương truyền ngày xưa có 1 người tên là Trương Viên cùng các trai tráng phải lên đường chống giặc. Trước khi đi, Trương Viên dặn vợ, nếu chẳng may loạn lạc khắp nơi, thì hãy dẫn mẹ trở về quê lánh nạn. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, vợ Trương Viên phải dắt mẹ trở về quê, trên đường đi vất vả, 9 Dan bau 2cực khổ, nhiều khi nàng phải nhịn đói để nhường cơm cho mẹ.

Một buổi sáng kia, khi đi ngang qua 1 làng nọ, bỗng nhiên người trong làng đổ xô ra niềm nở chào đón, lại còn đãi mẹ con 1 bữa cơm thịnh soạn. Hai mẹ con nhìn nhau ngơ ngác, không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa. Đợi cho hai người ăn xong, 1 bô lão trong làng mới nói lý do. Đó là mỗi năm làng phải tế cho hung thần cặp mắt của một người phụ nữ. Không muốn người trong làng bị móc mắt, làng bèn đạt ra lệ rằng mỗi năm đúng ngày giờ này, người phụ nữ nào đaặt chân vào làng trước thì sẽ được đãi một bữa ăn thịnh soạn, sau đó thì bị xin cặp mắt. Nay bà lão đặt chân vô trước, vậy xin cặp mắt của bà lão.

Nghe vậy, vợ Trương Viên òa khóc, rồi quỳ xin được hiến cặp mắt của mình thay cho mẹ. Dân làng bằng lòng, thế là họ móc cặp mắt nàng.

Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo đó, Tiên trên trời bèn hiện ra và cho nàng cây đàn 1 dây, dặn rằng : “Cây đàn này sẽ giúp con nuôi được mẹ và sau này gia đình con sẽ được đoàn tụ.” Nàng nhận đàn, lạy tạ Bà Tiên. Từ đó hai mẹ con dắt nhau đi đàn ca để kiếm tiền độ nhật.

Chiến tranh chấm dứt, Trương Viên trở về nhà thì không thấy mẹ và vợ đâu cả. Hỏi thăm mọi người thì cũng không ai biết. Đoán là hai người đã về quê, Trương Viên vội vã đi kiếm. Trên đường đi, anh cũng đi ngang cái làng có hung thần, hỏi thăm thì mọi người thuật lại hiếu thảo của nàng dâu, nhưng họ không biết sau đó hai mẹ con đi đâu nữa. Trương Viên buồn bã, đành lang thang đi tìm khắp nơi.

Bỗng một hôm khi ngang qua một cái chợ nhỏ, Trương Viên nghe thấy tiếng đàn rất lạ, rồi lại thấy một đám đông đứng chen chúc nhau, hình như họ đang bị quyến rũ bởi tiếng đàn đó. Hiếu kỳ, Trương Viên lách vào coi, thì giật mình nhận ra vợ mình đang đàn 1 cây đàn lạ, còn mẹ đang ngồi ngã nón xin tiền. Trương Viên mừng rỡ, ôm chầm lấy mẹ và vợ, cả ba người khóc như mưa. Riêng người vợ thì bao nhiêu nhớ nhung, khốn khổ vất vả, lạ còn bị đui mù nữa khiến nàng tủi thân, tức khóc mãi, khóc mãi, khóc mãi đến khô hết nước mắt, rồi thì máu mắt chảy ra. Lạ thay khi dòng máu bắt đầu chảy cặp mắt nàng trở lại như xưa.

9 Dan bau 1Mặc dầu đây chỉ là một truyền thuyết, nhưng khi một nhạc khí mà đã có được một truyền thuyết lưu truyền rộng rãi trong dân gian như thế đủ chứng tỏ rằng nhạc khí đó được yêu thích biết bao nhiêu.

Vì đàn bầu xuất phát từ dân gian, nên ít được nhắc đến trong sách sử. Phải đợi tới thời Vua Thành Thái, đàn bầu mới được thay thế đàn tam trong ngũ tuyệt tranh-tỳ-nhị-nguyệt và bầu. Tuy vây, trong sách Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quí Đôn có ghi lại rằng sứ nhà Nguyên khi sang nước Việt có nói đã thấy cây đàn 1 dây tại nước Việt.

Nói về cây đàn 1 dây, thì không phải chỉ nước ta mới có. Theo tài liệu của GS Trần Văn Khê, thì tại Châu Á, có nhiều cây đàn 1 dây:

Trung Quốc có đàn Ixian qin (nhất huyền cầm) đàn 1 dây tơ, khảy bằng các ngón tay mặt, tay trái chặn dây tai nhiều chỗ. Độ cao của các âm tùy theo sự dài ngắn của sợi dây mà tay trái chặn.

Nhật Bản có đàn Ichigenkin, nhứt huyền cầm, cũng 1 dây tơ (xem hình phía dưới), mà tay khảy bằng móng đeo vào mấy ngón tay của tay mặt, tay trái cầm 1 miếng ngà chặn dây và vuốt trên dây.

-  Campuchia co đàn Sadev, 1 dây căng trên 1 cần đàn giữa 2 trục. Cần đàn có 1 bầu gắn vào 1 đầu của đàn, bầu áp vào người. Khảy đàn bằng ngón tay áp út của tay mặt, tay trái nhấn trên dyâ ở nhiều điểm khác nhau

Ấn Độ có đàn Gopi Yantra (xem hình bên tay mặt), 1 dây căng giữa, 1 đầu tre và 1 miếng da có 2 thanh tre cặp 2 bên. Tay mặt khảy dây, tay trái bóp 2 thanh tre làm cho mặt da dùng, thằng, làm phát ra những âm thanh có độ cao khác nhau. Độ cao nhứt là khi mặt da để thẳng. Chủ yếu phụ họa theo những bài ca của những người hành khất trong dân tộc Peul của Ấn Độ.

-  Châu Phi có rất nhiều đàn 1 dây mà luôn luôn có cung kéo, cung không có bả cung (mèche) mà cung làm bằng 1 que cây rừng trụi lá có thoa chất làm cho thân rí và cạ vào dây.

-  Cổ Hy Lạp có đàn 1 dây, không dùng để đàn mà để làm tiêu chuẩn định thang âm (Pythagore)

Ngay tại Việt Nam chúng ta cũng có cái trống quân 1 dây. Qua những đàn 1 dây kể trên, chúng ta nhận thấy rằng nghệ sĩ đều tạo âm thanh bằng cách thay đổi độ căng-chùng hoặc dài ngắn của sợi dây, mà không dùng kỹ thuật tạo âm bội như của đàn bầu, vì thế chúng ta có thể khẳng định rằng đàn bầu chính là nhạc khí độc đáo của dân tộc ta.

9 Dan bau 6Ôi ! Đàn bầu quê tôi ! Đàn bầu quê tôi

Nửa bầu mà rót hoài không cạn

Một dây thôi – nói biết bao lời

Cung thương tha thiết chơi vơi

Cung trầm sâu lắng… rạng ngời tình quê. (Hoàng Trang)

Cây đàn bầu độc đáo

Bây giờ xin mời chúng ta làm quen với cây đàn bầu độc đáo của dân tộc ta.

Mô tả đàn bầu : Đàn bầu là loại đàn hình hộp chữ nhật, 1 đầu to, 1 đầu nhỏ hơn 1 chút, thường dài khoảng 110cm, bề ngang khoảng 12.5cm, đầu nhỏ khoảng 9.5cm, cao khoảng 10.5cm. Mặt đàn và đáy đàn bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ thông hay gỗ tung. Mặt đàn hơi cong lên 1 chút, đáy đàn phẳng có 1 lỗ nhỏ để treo đàn, 1 hình chữ nhật ở giữa để cầm đàn,và 1 khoảng trống để cột dây đàn. Thành đàn bằng gỗ cứng như cẩm lai, hoặc mun để cho chắc chắn và vò thể cẩn ốc được.

Trên thành đàn phía tay mặt người khảy đàn có 1 miếng xương hoặc kim loại nhỏ gọi là ngựa đàn, qua ngựa đàn, sợi dây thép dầy khoảng 40mm được luồn xuống và cột vào cái trục xuyên qua thành đàn gọi là cái trục lên dây đàn, trục này đẹp vì nó được dấu phía sau thành đàn, nhưng rất dễ tuột dâym vì vậy ngày nay người ta dùng khóa sắt cho chắc hơn. Về phía tay trái người đàn, có 1 cần dây đan còn gọi là vòi đàn trên đó gắn nửa trái bầu khô hoặc tiện bằng gỗ, 1 đầu dây đàn cột vào cần khoảng giữa bầu đàn.

Ngoài ra, để tăng âm lượng tiếng đàn, người ta lắp mobin điện vào dưới mặt đàn, đồng thời phải khoét 1 lỗ cắm dây zắc dẫn tín hiệu rung của dây vào bộ phận tăng âm. Chính vì xài điện nên dây đàn phải dùng dây bằng thép thay vì bằng inox.

Cách cột dây đàn: Cột dây đàn bầu tương đối khó nên chúng ta xem qua cách cột dây 1 chút. [..minh họa]

-  Que khảy đàn: Đây là một bộphận quan trọng dể khảy đàn bầu, Que thường được vót bằng tre, bằn ggiang, bằng thân dừa, 9 Dan bau 3gỗ mềm mại hơn, người ta hay làm bông boặc tưa đầu nhọn 1 chút. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4.5cm.

Các tư thế diễn tấu: Thông thường nhất là đàn bầu đặt trên 1 cái bàn nhỏ (thường là hộp đàn có lắp 4 chân rời, trên mặt giá có 2 chỗ chặn để khi kéo dây, đàn khôn gbị di chuyển theo).

Khi ngồi khoanh chân trên chiếu để đàn thì đầu gối chân mặt phải tì vào cạnh mặt đàn nhằm giữ cho cây đàn khỏi bị xê dịch. Cũng có thể đứng đàn, nhưng không đẹp và cây đàn không được vững bằng cách ngồi.

Cách cầm que đàn: Que đàn được đặt trên 2 đốt ngón tay trỏ và giữa của bàn tay mặt, còn đốt thứ 1 của ngón cái thì giữ que đàn, đầu nhỏ của que thường nhô ra khoảng 1.5cm. Hai ngón còn lại thì hơi cong theo ngón trỏ và giữa. Khi khảy dây ta đặt cạnh bàn tay vào điểm phát ra bội âm, hất nhẹ que đàn cùng llúc nhấc bàn tay lên, ta sẽ có được âm bội.

-  Cách xác định điểm trên đàn: Nếu gọi dây buông là nốt C thì nếu chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn:

1/2 dây có nốt C1 cao hơn dây buông 1 quãng 8 – 1/3 dây sẽ là nốt G1 – 1/4 ta sẽ có nốt C2 – 1/5 dây sẽ có E2 - 1/6 dây sẽ có nốt G2 – 1/7 dây sẽ là nốt Bb. Nhưng nốt này ít được sử dụng. – 1/8 sẽ có nốt C3

Tóm lại, sáu điểm trên đàn la C1 – G1 – C2 – E2 – G2 – C3 là 6 diểm thông dụng nhất. Ngoài ra ta có âm thực tức là khảy dây buông, thường khảy gần ngựa đàn chứ không khảy vào các điểm đã ghi.

Bây giờ, trên 7 âm thanh này, nếu vài kỹ thuật tay trái như căng dây hoặc chùng dây, ta sẽ tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa.

Nếu chỉ dừng lại ở chỗ tạo ra những âm thanh rời rạc thì đàn bầu chẳng thể làm cho ta mê mẩn hay xúc động được. Vậy đàn bầu hay ở chỗ nào ?

 Chúng ta cũng thấy rằng chính những kỹ thuật của tay trái đã nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh, cho âm thanh một hơi thở, một sinh khí, một cái hồn. Những kỹ thuật đó là gi? Xin chúng ta cùng tìm hiểu.

9 Dan bau 4Cách đặt tay trái trên cần đàn:

- Ngón rung: Khi khảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ cần đàn, âm thanh sẽ phát ra tự như làn sóng thì ta có ngón rung. Ngón rung rất quan trọng vì không những nó làm cho tiếng đàn mềm mại mà nó còn thể hiệnphong cách của bản nhạc. Với các bài buồn, hoặc bài vui, ta phải rung theo những âm đã được qui định.

Ngón vỗ: Vỗ ngón cái, vỗ nón trỏ. Theo nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm thì ngón vỗ thường diễn tả tình cảm đau khổ, uát ức, nghẹn ngào.

-  Ngón vuốt: miết ngón tay vào cần đàn để cao độ trượt qua các âm và dừng lại ở âm qui định.

 Ngón luyến: kéo thẳng cần lên hoặc xuống tới âm qui định

-  Ngón tạo tiếng chuông: Nón tạo âm bội trên âm bội có sẵn. v.v.’

Đàn bầu trong đời sống âm nhạc dân tộc

Có thể nói chưa có nhạc khí dân tộc nào của nước ta được thay đổi, cải biến nhiều như đàn bầu. Xin mời chúng ta xem thử.

Cần đàn thay vì bằng tre thì nay bằng sừng trâu để cho mềm dễ kéo hơn. Bầu đàn thay vì bằng vỏ bầu khô, người ta dùng sừng trâu, hoặc thông dụng nhất là tiện bằng gỗ để có thể cẩn ốc được.

Que đàn: Ngày xưa que đàn dài khoảng 10cm, nay có que ngắn khoảng 4cm. Que thường được chuốt bằng tre, giang, nay có thêm bằng gỗ, bằng dừa, hoặc bằng sừng trâu, nhưng sừng trâu dở nhất vì nó quá trơn.

Theo nhạc sĩ Bùi Lẫm, thì vào thập kỷ 60, nghệ sĩ Mạnh Thắng là người sáng chế ra lối que gẩy ngắn, ông cũng là người đã cải tiến đưa phần khuếch đại âm thanh vào đàn bầu, và ông cũng là người đầu tiên đưa đàn bầu đi trình diễn quốc tế, mang giải thưởng cao quí cho ViệtNam.

Sau đó thì cũng với que gẩy ngắn này, nghệ sĩ ưu tú Đức Nhuận đã phát minh ra lối kỹ thuật vê trên 1 dây đánh bồi âm trên bồi âm.

- Thân đàn: Ngày trước không dùng điện nên thân đàn to mặt đàn mỏng, khóa đàn bằng gỗ, ngày nay xử dụng mobine nên đàn thường nhỏ hơn, khóa đàn bằng sắt, gắn mobine trong đàn, khoét lỡ cắm dây zắc, và diểm táo bạo nhất mà không một nhạc khí nào dám làm, đó là cưa đôi đàn ra, xếp lại cho gọn, chừng nào đàn thì kéo thẳng ra.

-  Hộp đàn: Ngoài cái hộp thông thường dể đựng đàn, còn có loại hộp vừa để đựng đàn, vừa để làm cái bàn, rất tiện lợi và gọn gàng. 9 Dan bau 6Như chúng ta đã biết, đàn bầu luôn phải căng dây và chùng dây, vì vậy rất cần phải có 2 chỗ chặn 2 đầu cho đàn khỏi bị xê dịch.

Những đàn bầu cải biến

Một trong những nhạc sĩ đã đóng góp rất nhiều c6ng sức vào việc cải biến đàn bầu, đó là nhạc sĩ Phan Chí Thanh. Theo lời kể của nhạc sĩ thì ông đã chế ra nhiều loại đàn bầu, đặt tên như sau:

Đàn bầu du kịch: Dựa vào hình thức của cây anten là kéo dài hoặc thâu ngắn lại, nhạc sĩ đã dùng những ống tre xếp lồng vào nhau cho gọn, bỏ vào trong balô, rồi chỉ với 1 cáu radio nhỏ, nhạc sĩ đã biểu diễn suốt dọc đường Trường Sơn vào những năm 1971.

-  Đàn bầu trung tâm: Tới năm 1972 ông đã mở rộng âm vực cây đàn tức là lên thêm 1 quãng 8 và xuống thêm 1 quãng 8. Ngoài ra, áp dụng luật đòn bẩy, nhạc sĩ đã dùng 1 cái lò xo gắn vào phía cuối cần đàn và đáy đàn. Nhờ cái lò xo nàymà người biểu diễn khi kéo cần tới quãng 4, thay vì phải dùng 1 lực kéo cần khoảng 8kg, thì bây giờ chỉ còn kéo khoảng 1.2kg. Không dừng tại đây, nhạc sĩ còn nghiên cứu ra 1 thiết bị gắn vào đàn gọi là âm thanh ngân dài để cho tiếng đàn ngân dài tùy thích.

Đàn bầu đặc tính: Phát huy âm thanh riêng biệt mỗi đàn nhờ cách thay đổi dây cho có tiếng trầm, thật trầm, cao thật cao, để 4 cây có htể hòa tấu với nhau mà vẫn giữ được âm sắc của từng cây.

-  Đàn bầu Hạnh Phúc: Vào năm 1973 nhạc sĩ chế ra cây đàn bầu Hạnh Phúc. Đàn này dài 5.5m, với 5 quãng 8 thay vì 3 quãng 8 như đàn bầu cổ truyền, 1 cái cần, 1 cái bầu, và 4 người cùng đàn một lúc.v.v.

Tất cả những tìm tòi và thể nghiệm của nhạc sĩ Phan Chí Thanh, cho tới bây giờ, có cái được chấp nhận, nhưng cũng có cái không được chấp nhận. Dầu sao thì chúng ta cũng rất trân trọng tấm lòng của nhạc sĩ Phan Chí Thanh, một người đã gắn bó và hy sinh cả cuộc đời mình cho cây đàn bầu.

9 Dan bau 7Một dây căng giữa ĐẤT TRỜI

Cần nghiêng nghiêng tựa dáng NGƯỜI vươn cao

Tiếng ngân ngân tận cõi nào

Dư âm rơi ngẩn ngơ vào tim ai.

(Nguyễn Hải Phương)

Đàn bầu không những được người Việt chúng ta yêu mến, mà còn được rất nhiều bạn bè năm châu ưa chuộng. Hầu như các chương trình nhạc dân tộc trong nước cũng như ở nước ngoài, không thể thiếu cây đàn bầu. Đàn bầu độc tấu, hòa tấu, đệm cho ca, đệm cho ngâm thơ, đệm cho Hát Chèo, Hát Bội, Cải Lương, v..v… Đàn bầu còn hòa chung với dàn nhạc giao hưởng nữa.

Hiện nay người học và biểu diễn đàn bầu rất đông. Tuy vậy, sách học đàn bầu lại chưa có nhiều. Có thể kể vài cuốn như: “Bài Đàn Độc Huyền” của Cố Nghệ Sĩ Ưu Tú Nguyễn Hữu Ba, sách “Học đàn bầu” của nghệ sĩ ưu tú Thanh Tâm và Trần Quốc Lộc, sách học đàn bầu của Bùi Lẫm, “Phương Pháp Đàn Bầu” của CLB Tiếng Hát Quê Hương.

Riêng về bande đàn bầu thì lại có rất nhiều : Đan Bầu Việt Nam- Dân Ca Quốc Tế, Đàn Bầu – Đàn Tranh, Tiếng Bầu Tiếng Trúc, Độc tấu Sáo Nhị Bầu, Làng tôi, v.v.

Qua những bande nhạc này chúng ta thấy nhạc khí Tranh- Sáo – Bầu thường hòa chung với nhau. Âm thanh của 3 nhạc khí này hòa quyện với nhau đã tạo ra 1 âm sắc đặc biệt quyến rũ đến nỗi đã có nhiều bande nhạc cũng mang tên là Tranh – Sáo – Bầu nhưng lại do đàn organ nhái theo.

Tóm lại: Với hình thức đơn giản, với kỹ thuật sử dụng bội âm một cách tài tình, độc tấu đàn bầu đã tạo ra được sức quyến rũ kỳ lạ, xứng đáng với lòng yêu mến và hãnh diện của dân tộc ta.

SG Kieu Dac Them 2Xin mượn lời nhà thơ Pháp Meray in trong cuốn sách “Học Đàn Bầu” của Nghệ Sĩ Ưu Tú Thanh tâm và Trần Quốc Lộc như sau:

Cây đàn bầu thật giống với con ngươì Việt Nam

Nghèo của mà giàu long

Giản dị mà thanh cao

Đơn sơ mà phong phú. (theo Phạm Thúy Hoan)

Kiều Đắc Thềm chuyển tiếp

9 KieuẢNH HƯỞNG CỦA

TRUYỆN KIỀU

- Hoàng Yên Lưu

Các nhà nghiên cứu đều công nhận tác phẩm có mức phổ biến sâu rộng nhất trong Văn học Việt Nam chính là Truyện Kiều hay Đoạn Trường tân thanh. Truyện Kiều đã vượt khỏi thử thách của không gian và thời gian và về nhiều phương diện câu nhận định của Phạm Quỳnh “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!…” tỏ ra xác đáng.

Gần hai trăm năm lưu hành, không phải tác phẩm chỉ được giới trí thức hân thưởng mà người bình dân cũng dùng Kiều trong lúc cảm xúc dâng cao.

Ngẫu hứng ngâm Kiều, đố Kiều:

Muốn ngỏ ý kín đáo với người mình yêu, khi có dịp gặp gỡ chàng trai có thể mượn câu Kiều :

Tiện đây xin một hai điều

Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng ?

Muốn dặn dò khi từ biệt, chàng trai có thể nhắn nhủ bóng bẩy người yêu trọn đạo thủy chung :

Tr KieuGìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Nhớ quê người ta ngâm Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần,

Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa!

Nhớ mẹ, lữ khách mượn Kiều bày tỏ tấc lòng:

Tiếc người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?

Lúc trai gái hội họp hoặc mượn câu Kiều để tỏ tình hoặc mượn Kiều để đố vui thăm dò đối tượng xem có phải người thanh lịch văn vẻ và hiểu biết hay không. Vì thế lối đố kiều rất được dân gian ưa chuộng. Cô gái có thể hỏi chàng trai, người tự hào là đã biết thưởng thức vần thơ của Nguyễn Du :

Truyện Kiều anh học đã lầu

Đố anh kể được một câu năm người

Nếu là trai thanh, có thể đáp ngay gái lịch :

Này chồng, này mẹ, này cha

Này là em ruột, này là em dâu

Câu hỏi có thể oái oăm hơn :

Truyện Kiều anh đã thuộc nhiều

Đố anh kể được truyện Kiều nghìn năm

Chàng trai “hay chữ” tính toán rất nhanh, biết rằng trong truyện Kiều có đúng mười lần chữ Trăm năm nên không ngần ngại khéo cắt xén thành 22 câu nối vần được với nhau, cộng lại đủ 1000 năm như sau :

9 Tr Kieu 1“Trăm năm” trong cõi người ta

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

Đã nguyền hai chữ đồng tâ

“Trăm năm” thề chẳng ôm cầm thuyền ai

Trót vì cầm đã bén dây

Chẳng “Trăm năm” cũng một ngày nước non

“Trăm năm” tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch song

Tóc tơ căn vặn tấc long

“Trăm năm” tạc một chữ đồng mới hay

Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay

Tiết “Trăm năm” nỡ một ngày bỏ đi

Chở che đùm bọc thiếu gì

“Trăm năm” danh tiết cũng vì đêm nay

Rằng “Trăm năm” cũng từ đây

Của tin gọi một chút này làm ghi

Người đâu gặp gỡ làm chi

“Trăm năm” biết có duyên gì hay không

Lỡ làng nước đục bụi trong

“Trăm năm” giữ một tấm lòng với ai

Một nhà phúc lộc gồm hai

Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

Bói Kiều :

Mơ tưởng khách đông sàng, không biết duyên nợ ngày sau ra sao, một cô gái có thể bói Kiều như trong tác phẩm Lều chõng của Ngô Tất Tố. Người muốn biết chuyện tương lai chỉ cần giơ cuốn Kiều lên trán và cung kính khấn vái:

“Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy Tiên Thúy Kiều…

Tên con là… Cho con xin một quẻ 4 câu ứng về việc nhân duyên ở vị trí bấm ngón tay kể xuống dưới”

Trang Kiều được mở ra và theo vết bấm, kết quả có thể như bốn câu sau :

Vội vàng sắm cửa lễ công

Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng ruổi cao

Bày hàng cổ xúy xôn xao

Song song đưa tới trướng đào sánh đôi

Còn gì mừng hơn, rõ ràng là cảnh lên xe hoa về nhà chồng !

Tập Kiều, lẩy Kiều là gì ?

Người sành điệu, khách văn nhân có thể tập Kiều hay lẩy Kiều: Tập Kiều là chắp nối nhiều câu nguyên văn rải rác trong Truyện Kiều, làm nên một công trình mới có vần, để diễn tả ý mình. Lẩy Kiều là sửa chữa hay thay đổi một vài chữ trong câu Kiều, nhằm diễn đạt một đề tài.

9 Nguyen Du 2Trông thấy cô gái bán khỏa thân trên bãi tắm khách đa tình buột miệng “lẩy Kiều” để ca tụng nhan sắc khuynh thành :

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên !

Giai thoại văn chương còn kể lại một bài “tập Kiều” nổi tiếng của Nguyễn Bính. Nhà thơ làm ra bài nay không bao lâu thì qua đời. Người ta nói dù mượn câu Kiều ghép lại nhưng Nguyễn Bính đã ký thác tâm sự u uất trong lòng từ khi tờ Trăm Hoa của ông bị đóng cửa (1955) và ông bị gửi về Nam định với hình thức quản thúc tại gia.

Một nhân chứng kể lại, vào giữa năm 1965 – Ty Văn Hóa Thông Tin Nam định chuẩn bị lễ kỷ niệm 200 năm đại thi hào Nguyễn Du. Ban tổ chức cuộc họp yêu cầu các tác giả góp bài về Nguyễn Du, các bài được chọn sẽ đăng trong tờ báo địa phương – Nam Hà, số xuân 1966.

Các bài khác được thông qua rất nhanh, nhưng đến lượt Nguyễn Bính các thành viên nóng lòng chờ nghe bài của thi sĩ. Ông rút túi lấy ra bài thơ tiêu đề “Tặng cụ Nguyễn Du và Truyện Kiều” đoạn đọc to cho mọi người cùng nghe :

9 Nguyen Du 1Cảo thơm lần giở trước đèn

Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa

Trăm năm trăm cõi người ta

Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau

Khen tài nhả ngọc phun châu

Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình.

Mấy lời ký chú đinh ninh

Rằng tài nên trọng mà tình nên thương

Khen rằng giá đáng thịnh Đường

Thì trao giải nhất, chi nhường cho ai

Gẫm âu người ấy, báu này

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào

Nặng vì chút nghĩa xưa sau

Mà cho thiên hạ trông vào cũng hay

Thương vui bởi tại lòng này

Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời

Lòng thơ lai láng bồi hồi

Tưởng người nên lại thấy người về đây.

Mọi người nghe xong bàng hoàng. Toàn bài thơ là lời được nhặt ra từ Truyện Kiều, xâu chuỗi lại bằng vần và ý nghĩa. Kinh ngạc hơn, bài thơ tổng kết cuộc đời tài hoa của nàng Kiều, song ai cũng ngậm ngùi nhận ra hình ảnh của Nguyễn Bính trong đó. Cảm động nhất ở những câu kết… Mọi người lặng đi ! Bài thơ thật hay nhưng thấy quá buồn. Có người đề nghị tác giả sửa mấy câu kết “đọc nghe sái quá” ! Nguyễn Bính kiên quyết không nghe : “Một chữ cũng không sửa. Các vị đừng mê tín… cốt hay là được !…”.
Nào ngờ cuối năm 1965, ngày mồng một tết còn nguyên vẹn, Nguyễn Bính bất ngờ tạ thế vì trúng phong khi ra trước ao của nhà bạn ở Lý Nhân, Hà Nam nơi ông về ăn tết theo lời mời.

Dùng thơ vịnh cô Kiều:

Dùng thơ vịnh truyện Kiều là thói quen của nhà Nho, từ Chu Mạnh Trinh tới Tản Đà đều để lại những vần hoa gấm. Tuy nhiên, không ít người cầm bút mượn việc ngâm vịnh mà bình phẩm cô Kiều và ngầm đả kích người tán dương cô Kiều. Chẳng hạn như chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng góp vần trong vụ tranh luận về Truyện Kiều với chủ bút tờ Nam Phong là Phạm Quỳnh. Cụ Huỳnh viết những dòng liên hoàn mạt sát Truyện Kiều hết sức chua chat :

Pham Quynh 1Á cũ qua rồi, mới chửa Âu !

Học KIỀU xúm xít bọn mày râu

Đã đem thân thế nương nhà thổ

Còn trách cha ông vụng kiếp tu

Một khúc Đoạn Trường khêu lửa dục

Mấy thiên Bạc Mệnh chác hơi sầu

Biết chăng, hỏi cụ Tiên Điền vậy

Muôn ác tà dâm, ấy sự đâu ?

Muôn ác tà dâm, ấy sự đâu

Tình đâu đâu, mà hiếu đâu đâu

Theo trai gác xó lời cha mẹ

Làm đĩ thân đành kiếp ngựa trâu

9 Tr Kieu 3Nghiêng nước trận cười, gương mấy kiếp

Đắm mình bể sắc, tội nghìn thu

Tiên Điền cụ nghĩ mua vui vậy

Biết nỗi người sau dại thế ru ?

Biết nỗi người sau dại thế ru

Phong trào đưa giọng chuyện phong lưu

Vẩn vơ người ấy phường trăng gió

Đau đớn lòng ai cuộc bể dâu

Nòi giống khôn thiêng dân một nước

Anh hùng nhiều ít tiếng năm châu

Tiên Điền cụ có hay chưa nhỉ

Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu !

Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu

Xúm nhau sùng bái gái bên Tàu

Cột đồng Mã Viện xô chưa ngã

Sóng ác Kiều Nương lại đắm sâu

Ô điểm nghìn năm nhơ lịch sử

Báo chương phân nửa chuyện thanh lâu

Ai ơi, gọi cụ Tiên Điền dậy

Nguyen Binh 2Đừng để non sông chịu tiếng vu!

Đừng để non sông chịu tiếng vu

Phật nhà không lạy, lạy người Tàu

Trưng Vương đền cũ mùi hương lạnh

Triệu Ẩu bia còn nét chữ lu

Thiện chẳng thấy bày, bày những ác

Ơn kia không biết, biết chi cừu

Tiên Điền cụ biết thời nay nhỉ

Á cũ qua rồi, mới chửa Âu !

Trái với cụ Huỳnh có thái độ cực đoan với truyện Kiều và nhân vật Thúy Kiều nhưng các nhà thơ mới, lớp trí thức của thế hệ 32-45, lại thắt chặt mối dây thông cảm giữa danh sĩ và giai nhân, nối tiếp nguồn cảm hứng của Chu Mạnh Trinh thế hệ trước.

Tài liệu còn ghi Chế Lan Viên viết hàng chục bài thơ về Truyện Kiều. Ngân Giang, Tế Hanh, Đằng Phương cũng có nhiều bài về tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Nhưng cảm động nhất vẫn là thơ cảm hứng về Kiều của Vũ Hoàng Chương và Hồ Dzếnh.

Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ mới, rất nổi tiếng đã viết năm bài cảm đề Đoạn trường tân Vu Hoang Chuongthanh trong đó có những câu:

Ôi Thúy kiều xưa khóc Đạm Tiên

Hoàng lang giờ lại khóc Tiên điền

Dây thông cảm buộc từ ba kiếp

Sổ Đoạn trường ghi chẳng một tên

Xác mới đây còn thân cũ nhớ

Trời xanh đâu chỉ má hồng ghen

Bốn trăm năm lẻ tình khôn dứt

Lệ trước mồ chưa ráo trước đèn

Tâm sự của Vũ Hoàng Chương trong năm bài cảm đề và bài Hỏi ai người khóc bày tỏ nỗi cảm thông của người danh sĩ tài hoa với khách giai nhân bạc mệnh. Còn Hồ Dzếnh làm sao quên hình ảnh người mẹ quê tuy không biết chữ mà thuộc lòng truyện Kiều và thường hay bói Kiều khi ông còn nhỏ :

9 Tr Kieu 2Nhớ xưa Tết đến bói Kiều

Lật trang sách đoán những điều mẹ mong

Phận Kiều trôi dạt long đong

Khác chi đời mẹ khúc sông sóng dồi

Con nằm thiêm thiếp trong nôi

Giấc mơ thấp thoáng những lời mẹ ru

truyen-kieu-5Mẹ chưa được học bao giờ

Từng trang Kiều vẫn câu thơ thuộc long

Nuôi con vai mẹ gánh gồng

Dép da trâu vượt hết vòng chông gai

Dạy con lòng mẹ nào hay

Yêu thơ yêu tự những ngày còn thơ

Phong sương tóc đã phai mờ

Lời ru mẹ với câu thơ vẫn còn

Vẫn là nghĩa nước, nguồn non

truyen-kieu-3Câu thơ Kiều vượt xói mòn bể dâu

Truyện Kiều càng ngẫm càng sâu

Càng thương thế thái càng đau nhân tình

Dù con đi trọn đời mình

Vẫn chưa đi hết tấm tình mẹ ru

Tằm dù nhả hết dòng thơ

Chắc đâu ghép nổi phím tơ Thúy Kiều

Xúc động của Hồ Dzếnh, một nhà thơ mang hai dòng máu Hoa-Việt vào mùa xuân 1989 trước khi ông qua đời không lâu, một lần nữa cho thấy ảnh hưởng của Truyện Kiều sâu rộng tới tầng lớp bình dân và tâm hồn thi nhân như thế nào.

Đừng nên quên, những kẻ sống trong một xã hội tù túng, có cảm giác bị bạc đãi, bị chèn ép như nhà thơ càng dễ thông cảm với Nàng Kiều. Hồ Dzếnh đã từng viết :

Gọi đời là cõi người ta

Sao nghe thấm thía xót xa nỗi mình !

Còn Chế Lan Viên vào buổi tỉnh giấc mơ thiên đường, đã thấm thía viết những câu sau đây trong di cảo :

HNg Huynh V. YenKhi ta kỷ niệm Nguyễn Du chả ích gì cho Nguyễn

Chẳng qua để kẻ yêu thơ khỏi tủi trong long

Ông đã hóa mây trắng ngang trời hoài niệm

Hóa ra Kiều cao gấp mấy đời ông !

Chế Lan Viên chỉ trong bốn câu đã nói lên được giá trị và ảnh hưởng của Truyện Kiều và Nguyễn Du đối với thi nhân ở bất cứ thời đại nào. (theo Hoàng Yên Lưu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: