ĐI VÀO HANG ĐỘNG
GÁI MẠI DÂM THẤP HÈN
Đây là bài viết sau khi đọc qua hai luận văn nghiên cứu điền dã về khu kinh tế mại dâm tại Sài Gòn của tiến sĩ Kimberly Kay Hoang, người vừa được Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA) chấm giải “Luận án hay nhất” năm 2012.
Người viết đã đọc để biết và viết để hiểu thêm cùng giới thiệu lại những kết quả và nhận định của tác giả một công trình nghiên cứu rất đáng chú ý về một góc nhỏ của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện đại.
Hai báo cáo, “Economies of Emotion, Familiarity, Fantasy, and Desire: Emotional Labor in Ho Chi Minh City’s Sex Industry” và “She’s Not a Dirty Low Class Girl: Sex Work in Ho Chi Minh City,” là những công trình đã đoạt giải luận văn sinh viên cao học tại các đại học Cornell (2008), UC Berkeley (2010) và những giải thưởng khác của ASA và giải Cheryl Allyn Miller, Những nhà Xã hội học cho Phụ nữ trong Xã hội (2011).
Tác giả Kimberly Hoàng tốt nghiệp cử nhân về Communication & Asian American Studies tại đại học UC Santa Barbara và theo học Xã hội học tại đại học Stanford trước khi hoàn tất học trình tiến sĩ Xã hội học (chú trọng về phụ nữ, giới tính và tình dục) tại đại học UC Berkeley.
Sau cuộc nghiên cứu điền dã kéo dài bảy tháng trong khoảng 2006 đến 2007 ở ba khu mại dâm phân tầng rõ rệt tại Sài Gòn, tác giả đã đi đến những nhận định:
- Người nước ngoài da trắng không phải là khách trả tiền nhiều nhất;
- Không phải phụ nữ bán dâm nào cũng là người trong giới nghèo hèn;
- Phụ nữ bán dâm, tùy hoàn cảnh, đã biết khai thác tối đa tất cả tiềm năng có sẵn, từ trình độ văn hóa, tiền bạc, đến thể xác, để hành nghề;
- Quan hệ giữa kẻ bán – người mua (dâm) là một sự trộn lộn chuyện mây mưa với tiền và cả “tình”. Nghĩa là ngoài phần lao động thể xác (đổi sex lấy tiền) phụ nữ bán dâm ở Sài Gòn còn có phần lao động tình cảm (theo thuyết của Arlie Hochschild).
Phương pháp nghiên cứu
Với sự chấp thuận của Đại học Stanford năm 2006 và UC Berkeley năm 2007, tác giả đã thực hiện bảy tháng nghiên cứu điền dã trong lĩnh vực dân tộc học – chia làm ba lần – từ giữa tháng 6 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007 tại Sài Gòn. Để bảo vệ người hành nghề và khách mại dâm, đại học Stanford và UC Berkeley yêu cầu tác giả phải có lời đồng ý của những người nhận tham gia vào cuộc nghiên cứu.
Tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã quan sát, thu gặt dữ liệu như người trong cuộc (participant observation) bằng các cuộc phỏng vấn, sinh hoạt với phụ nữ hành nghề và khách mua dâm ở quán bar, cà phê, nhà riêng, tiệm ăn, trung tâm mua sắm và trên đường phố trong ba khu mại dâm phân tầng rõ rệt – hạ, trung và cao cấp.
Một điểm đặc biệt, dù trá hình cơ sở hoạt động là những tiệm hớt tóc, hay quán bar, hoặc đóng vai nhân tình với khách hàng tất cả những phụ nữ hành nghề mại dâm đều gọi họ là “gái đi khách” thay vì là gái điếm hay gái mại dâm vì nghề mại dâm không được phép hoạt động tại Việt Nam.
Tác giả cũng đã trở lại Sài Gòn 15 tháng trong khoảng 2009-2010 để nghiên cứu về quan hệ khách – gái đi khách trong các không gian riêng tư và kín đáo hơn như tại các quán karaoke dành cho đại gia Việt Nam và các doanh nhân châu Á.
Thí dụ, gái đi khách cao cấp thường nói họ vào nghề vì nghèo túng nhưng sự thật, khi tác giả theo đến tận nhà, thì biết họ thuộc những gia đình khá giả ở địa phương và ngay cả khi so sánh với tiêu chuẩn thế giới.
Đối với tác giả, phương pháp “quan sát như người trong cuộc” (participant observation) là yếu tố quan trọng nhất đã giúp tác giả ghi nhận kỹ càng để nghiên cứu về quan hệ phức tạp giữa những người mua và kẻ bán dâm.
Tác giả bắt đầu bằng cách bỏ thời gian lai vãng các quán bar và hè phố địa phương để làm quen với phụ nữ hành nghề, khách mua dâm cũng như các chủ quán. Giai đoạn hai là lúc phương pháp “quan sát như người trong cuộc” được áp dụng triệt để song song với những cuộc phỏng vấn không chính thức với những phụ nữ hành nghề mại dâm đã đồng ý tham gia vào cuộc nghiên cứu.
Trong thời gian nghiên cứu điền dã tác giả đã làm bạn với hai người lái xe ôm Việt Nam là Cường và Lộc – hai người đã hướng dẫn tác giả đi vào khu mại dâm cấp thấp nhất và làm thế nào để ứng xử thích hợp với khách mua dâm và phụ nữ hành nghề trong khu vực đó.
Trong bảy tháng nghiên cứu, mỗi tuần tác giả làm việc, quan sát tại hiện trường ba ngày, và để ba ngày ghi chép lại dữ liệu và nhận định. Sinh hoạt của tác giả thường bắt đầu bằng những buổi sáng ở những tiệm hớt tóc cũng là nhà chứa cho phụ nữ mại dâm cấp thấp hành nghề; và những buổi ăn trưa hay đi mua sắm với khách mua dâm và phụ nữ mại dâm ở bậc trung và cấp cao. Tác giả trao đổi bằng tiếng Việt với khách mua dâm và phụ nữ hành nghề mại dâm cấp thấp. Trong khu vực mại dâm bậc trung và cao cấp tác giả sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt với khách và gái đi khách. Trong đó là 12 phụ nữ mại dâm và bốn khách hàng trong khu vực thấp, 31 gái đi khách và 15 khách mua dâm trong khu vực hạng trung, và 11 phụ nữ mại dâm và 7 khách hàng trong khu mại dâm cao cấp.
Sau cùng, tác giả trình bày và phân tích ba trường hợp điển hình về mối quan hệ tình dục, liên đới, và riêng tư giữa khách hàng và phụ nữ mại dâm trong ba khu vực phân tầng trong kỹ nghệ tình dục tại Sài Gòn.
Mại dâm tại Việt Nam – Bối cảnh lịch sử
Theo tác giả Kimberly Hoàng, kỹ nghệ mại dâm hiện đại tại Đông Nam châu Á đã phát triển nhanh từ thời thuộc địa Pháp và trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam với sự thiết lập các căn cứ quân sự tại nhiều nơi khác nhau trong vùng. Tình trạng này ban đầu đã giúp tạo nên hình ảnh, ở phương Tây, phụ nữ Á châu là những người đàn bà ngoan ngoãn và đẹp kỳ lạ.
Nghề mại dâm tại Việt Nam phát triển theo sự thuộc địa hóa mãnh liệt của Pháp tạo ra một khu vực mới để phục vụ đàn ông thực dân. Trước thời là thuộc địa của Pháp, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp; sự phát triển các trung tâm đô thị lớn hội tụ các cơ quan hành chính, thương mại, và tài chánh của chính phủ thực dân đã làm đảo lộn cấu trúc kinh tế, thuận lợi cho nghề mại dâm phát triển. Bị ảnh hưởng nhiều nhất trong thời thuộc địa là khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn – nơi từng được gọi là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Dân số tại đây vụt tăng từ 13.000 người năm 1883 lên đến 250.000 người năm 1932.
Tại những thành phố giống như Saigon, chính phủ thực dân cố gắng đưa ra những đạo luật nhằm kiểm soát nghề mại dâm bằng cách buộc phụ nữ hành nghề mại dâm phải ghi danh với chính phủ quận lỵ. Lý do cơ bản để chính quyền Pháp ban hành luật gắt gao để bảo vệ đàn ông thực dân không bị vướng vào các bệnh hoa liễu. Tuy nhiên, những luật lệ đó đã hoàn toàn thất bại vì những chủ nhà thổ thường là các tổ chức bí mật. Những ổ điếm thường được trá hình là những quán cà phê, nhà hút thuốc phiện, hay quán nhậu khiến việc kiểm soát nghề mại dâm trở nên rất khó khăn.
Trong chiến tranh Việt Nam, chính sách của Bộ Quốc Phòng Mỹ lúc bấy giờ là ngăn chận mại dâm bất cứ khi nào có thể làm được. Tuy nhiên, tập tục xã hội Mỹ trong những năm 1960 đã trở nên bớt căng về vấn đề sinh dục. Đến năm 1966, tại Saigon có hơn 1000 quán bar, hơn 100 hộp đêm và có ít nhất 30 vũ trường. Khi số binh sĩ Mỹ tham chiến tại Việt Nam tăng thì nhu cầu mại dâm cũng tăng theo. Có khoảng 1/2 triệu lính Mỹ và binh sĩ Việt Nam trong năm 1967, cùng lúc có độ vài trăm ngàn phụ nữ làm việc trong kỹ nghệ mại dâm. Đường phố Saigon, cạnh các căn cứ và cư xá quân sự, dày đặc những quán bar để phục vụ khách hàng gần như toàn là đàn ông Mỹ.
Sài Gòn sụp đổ vào 30 tháng Tư 1975 và sau đó đổi tên là TP HCM. Dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, chính quyền đề ra những chương trình “phục hồi nhân phẩm” nhằm loại trừ nghề mại dâm. Sau hơn 10 năm suy sụp về mặt sản xuất, lạm phát gia tăng, nhà nước Việt Nam đã đề ra một chính sách cải cách gọi là Đổi Mới – chuyển đổi Việt Nam XHCN thành một quốc gia theo nền kinh tế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa); có nghĩa là Việt Nam vẫn giữ lại chế độ chính trị một đảng cầm quyền.
Từ đó, Sài Gòn trở thành một địa điểm có lưu lượng cao về tư bản và người nước ngoài. Nổi tiếng là “Vùng kinh tế Miền Nam”, kinh tế Sài Gòn chiếm 35% tổng sản lượng quốc gia. Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Tác giả Kimberly Hoàng xếp Sài Gòn vào hạng một thành phố quốc tế đang lên thay vì là một thành phố toàn cầu vì vẫn chưa có một hệ thống giao thông cao cấp, một sàn giao dịch chứng khoán tầm cỡ quốc tế, và có ảnh hưởng trên thế giới.
Đây chính là luận điểm của tác giả cho rằng Sài Gòn là thành phần ven biên của thị trường tư bản toàn cầu; ở đó cấu trúc xã hội và kinh tế ngày càng bị ảnh hưởng do sự toàn cầu hóa từ ngọn – do lưu lượng người và vốn nước ngoài vào Việt Nam – và sự áp dụng chủ nghĩa vượt phạm vi quốc gia từ gốc. Người Việt Nam trong nước nắm bắt những quan hệ, mốc nối từ ngoài để sinh tồn hoặc nâng cao mực sống là những người đang áp dụng chủ nghĩa vượt phạm vi quốc gia từ gốc.
Suốt 20 năm qua ít ai để ý đến độ phát triển của nghề mại dâm tại Việt Nam. Trên thực tế, nghề mại dâm đã lập tức tăng cao ngay sau khi chính sách Đổi Mới đước áp dụng. Hiện nay có khoảng 200.000 phụ nữ Việt Nam đang hành nghề trong kỹ nghệ mại dâm.
Khu mại dâm bậc thấp : “Đụng chạm họ làm chị muốn ói !”
Phụ nữ mại dâm phục vụ khách hàng đàn ông Việt Nam trong nước thường hành nghề đúng công thức “bán dâm lấy tiền”. Những phụ nữ này hoạt động tại những nhà chứa trá hình là những tiệm hớt tóc tại Sài Gòn ở Q.3, Q.10, Q,Bình Thạnh và khu vực quanh phi trường Tân Sơn Nhứt. Những quận hạt này cách Q.1 – trung tâm thương mại và là nơi có nhiều du khách – khoảng 45 phút.
Để tránh bị công an dòm ngó, và cũng để dễ ăn nói với bà con chòm xóm và bè bạn, những phụ nữ mại dâm này thường hoạt động vào ban ngày từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều.
Mười hai phụ nữ mà tác giả đã tiếp xúc đều là những người mẹ độc thân, tuổi từ 29 đến 60 và cũng đều chưa học xong tiểu học. Họ là những phụ nữ nghèo ở đô thị hay là người chạy từ quê lên tỉnh và đều đã làm việc trong khu công nghệ sản xuất trước khi bước vào nghề mại dâm. Những gái đi khách trong khu vực cấp thấp này cung cấp một số dich vụ tiêu biểu ; thí dụ như đưa khách mua dâm lên đỉnh khoái lạc nhanh gọn trong vòng 20 phút mây mưa.
Khách thường mua dâm bằng 3 đô-la và kẻ mua người bán cũng ít khi phải thương lượng giá cả. Trung bình những phụ nữ này kiếm được khoảng trăm đô-la mỗi tháng, như vậy thu nhập khoảng 40-50 đô-la nhiều hơn nếu đi làm tại quán ăn, tiệm hớt tóc thực sự hay làm ô-sin. (Admin : trong nghề mại dâm dù là hạng gái nào cũng có tiếng lóng để ám chỉ chuyện mua bán dâm tính bằng thời gian : 1 dù = một lần giao tiếp với bất cứ hình thức nào; over night = cả đêm; còn tiếng bình dân dâm tục có thể kể theo ngôn ngữ địa phương như quất, địch, đéo, mần, quả v.v…)
Những phụ nữ mại dâm đứng tuổi, 45 đến 60, cho biết họ phải đi làm gái vì chủ cũ chuộng nhân viên trẻ hơn. Bà Phượng, 60 tuổi, từng làm việc trong kỹ nghệ nuôi tôm với lương tháng khỏang 50 đô-la, đã vào nghề mại dâm sau khi bị đuổi việc vì quá già. Những phụ nữ mại dâm này lây lất bên lề của trung tâm Sài Gòn và không có đủ khả năng kinh tế để đi vào khu có giá cao hơn. Họ không có tiền mua sắm quần áo đẹp, son phấn, hay đi sửa sắc đẹp là những phần vốn phải có để kinh doanh trong khu mại dâm bậc trung như một chiêu đãi viên, và họ cũng không đủ tiền mua nước uống tại các quán bar mà gái đi khách bậc trung thường lai vãng.
Để tìm hiểu, tác giả đã hỏi Dung, 34 tuổi, độc thân có hai con, tại sao lại chọn hành nghề trong khu mại dâm cấp thấp và tại sao không qua Q.1,
ở đó Dung có nhiều cơ hội gặp khách mua dâm bằng đô-la nước ngoài. Dung trả lời toạc móng heo, bằng tiếng Việt :
- “Chị già rồi. Chị đã có con. Chị cũng không đẹp. Chị không biết nói tiếng Mỹ và ngay cả không biết làm sao tới những chỗ đó (nơi có khách mua dâm người nước ngoài). Chị không có tiền để diện áo quần hay vô ngồi ở những quán bar loại đó nên chị không bao giờ làm việc được ở những chỗ đó. Chị không ganh đua được với những cô đó đâu. Lấy tiền của người nước ngoài khó lắm.”
Ngoài việc thiếu tiền để vào ra những nơi “xa lạ”, những người phụ nữ này cũng không có đủ vốn văn hóa hay khả năng ngôn ngữ để giao tiếp với đàn ông nước ngoài, như Dung đã nói, vì không thể tiếp chuyện với người nước ngoài nên không thể đi khách ở khu mại dâm cao giá. Hơn nữa, dù Q.1 chỉ cách khu xóm họ đang làm việc cỡ 30-40 phút xe ôm nhưng nhiều phụ nữ mại dâm bậc thấp này chưa hề đặt chân đến đó. Họ không biết đường vào Q.1 và cũng không chịu nổi cuốc xe ôm 2 đô-la vào trung tâm Sài gòn. Ngay cả nếu có thể bỏ một ngày ở giữa thành phố họ cũng không biết sẽ đi đâu và sẽ làm gì ở đó.
Khi mới bắt đầu cuộc nghiên cứu tác giả đã vô tình mời vài phụ nữ mại dâm bậc thấp đi ăn trưa hay dùng cơn chiều ở Q.1 khiến họ rất khó chịu, nếu không nói là lạc lõng trong những không gian đó. Một thí dụ, Trúc đã nói :
- “Chị không bao giờ đến những tiệm ăn như vậy và vì quá sợ chị cũng không dám ngồi xuống, nhìn giá cả trên tấm thực đơn rồi hoảng hốt vì chị không đủ sức trả cho món rẻ nhất trong đó nữa. Nếu chị quay lưng bỏ đi thì người ta sẽ cười vô mặt chị.”
Tóm lại, thiếu kém của những phụ nữ mại dâm về tiềm năng văn hóa và kinh tế đã đẩy họ vào hành nghề mại dâm, lệ thuộc vào những người đàn ông nghèo, người bản xứ.
Ngoài sự thiếu thốn về mặt kinh tế và vốn văn hóa, những phụ nữ mại dâm trong khu vực bậc thấp còn thiếu cả vốn liếng thể xác (sắc đẹp) để cạnh tranh trong thị trường mại dâm bậc trung hay bậc cao.
Mai, một phụ nữ từ vùng đồng bằng sông Cửu Long, đang hành nghề tại một trong những tiệm hớt tóc, nói :
- “Chị đã ở giữa tuổi ba mươi. Chị đã có một con. Chị không đẹp… Vì vậy chị đâu còn lựa chọn nào khác hơn là đi khách ở đây.”
Trong khi những gái đi khách ở bậc trung thường dùng một phần lớn của thu nhập đầu tư vào để sửa sắc đẹp, mua quần áo, đồ trang sức, và son phấn thì phụ nữ mại dâm ở bậc thấp phải lấy thu nhập trả tiền nhà, tiền chợ, tiền học cho con cái. Vì vậy áo quần mặc trong nhà hay ở nơi làm việc của những phụ nữ mại dâm bậc thấp không khác gì nhau. Họ không trưng diện khi hành nghề và cũng chằng có áo quần sexy, gợi tình; trên thực tế, nhìn những phụ nữ này không khác gì những bà nội trợ, những bà chị hay những bà mẹ nghèo nàn. Họ là những người nghèo cùng giai cấp với những người khách bản xứ nghèo khó.
Dù không bị ép buộc mại dâm, nhiều phụ nữ đã tiếp tục hành nghề để thoát cảnh đói nghèo. Những phụ nữ trong khu mại dâm bậc thấp nằm trong số những người bị tổn thương và bị bóc lột nhiều nhất.
Họ không có lựa chọn nhiều lắm về mặt khách hàng. Nhiều khi khách nào họ cũng đi, vì họ cần tiền. Mai nói :
- “Những điều tụi chị làm rất nhơ nhớp. Những ông già dơ dáy tới đây và mấy ổng rất thô lỗ trên thân thể của chị. Họ đâu cần biết gì tới chị vì với họ chị chỉ là một gái đi khách. Khi mới vô nghề, sau mỗi lần đi khách là chị ói, nhưng bây giờ quen rồi.”
Khách của số lớn trong nhóm phụ nữ này là những đàn ông Việt Nam nghèo với thể xác làm họ buồn nôn. Nếu thủ dâm và khẩu dâm không làm khách đạt thỏa mãn, thì giao cấu là biện pháp cuối cùng những người đàn bà này sẽ làm. Chín trong số mười hai phụ nữ mại dâm đã cho tác giả biết họ đều nôn mửa khi mới vào nghề sau khi cảm thấy tinh dịch của khách hàng trên tay hay trong miệng vì họ tởm lợm thể xác của những khách mua dâm. Trâm giải thích :
- “(Khi) mấy ổng già, mình phài làm cực hơn để mấy ổng ‘ra’ … hay mấy ổng (những ông tài xe tải) lái xe lâu mà không tắm nên hôi rình à.”
Nôn mửa, theo tác giả, là một phản ứng tự nhiên của cơ thể khi cảm thấy tởm lợm vì thể xác đàn ông nói chung, và đặc biệt với thân hình của những người đàn ông lớn tuổi không sạch sẽ. Tất cả những phụ này đều nói là họ đã từng ôm nhau khóc vì họ phải làm những việc, như Trâm nói, “mà chỉ có những người đàn bà ở dưới đáy của xã hội mới làm.”
Mỗi bao cao su giá khoảng 40 xu, một giá quá đắt đối với những phụ nữ mại dâm bậc thấp. Vì thế, họ thường cố gắng làm cho khách xuất tinh bằng những cách khác hơn là giao cấu. Đôi khi khách mua dâm dùng bao cao su. Tuy nhiên, nếu không có bao cao su, những phụ nữ này vẫn giao cấu với khách không có phòng ngừa. Gái đi khách trong khu mại dâm thấp thường không mang theo bao cao su, tại sao ? Nguyệt giải thích với tác giả :
- “Chị không đem bao cao su theo vì nếu công an vô đây khám xét tiệm của chị và tìm thấy bao cao su thì họ có thể bắt chị về tội làm gái. Chị sẽ ráng làm khách hàng ‘ra’ bằng tay hay bằng miệng trước. Nếu không làm mấy ổng ‘ra’ nổi thì chị sẽ làm tình… rồi ra tiệm thuốc tây mua viên thuốc uống liền để khỏi bị có bầu.”
Khi tác giả hỏi khách mua dâm về việc dùng bao cao su, một số cho biết họ luôn luôn cung cấp bao cao su vì sợ mang bệnh.
Khách hàng trong khu mại dâm thấp là những người tác giả khó bắt chuyện nhất. Tác giả đã thường nhờ những tài xế xe ôm giúp, qua ly cà phê, điếu thuốc trong khi khách hàng đang ngồi chờ tới phiên được phục vụ. Câu chuyện với khách hàng và gái đi khách ở khu mại dâm bậc thấp thường xoay quanh lý do gì khiến họ đến những địa điểm đó để thỏa mãn xác thịt.
Vào một buổi chiều, ngồi trò chuyện với các cô gái đi khách tại một quán cà phê – nhà chứa ở Q.Bình Thạnh, tác giả gặp một khách hàng tên Khoa, tuổi độ giữa 40.
Sau khoảng một giờ trao đổi, tác giả biết Khoa làm việc với một công ty xây cất trong vùng, lương chừng trăm đô-la một tháng. Khoa có vợ và con mới một tuổi; con Khoa ở với mẹ và bà con tại một làng quê ở Cà Mau. Trả lời câu hỏi cớ gì khiến Khoa đến những nhà chứa này, Khoa nói :
- “Nè, chắc cô nghĩ tất cả đàn ông đều làm chuyện tồi bại cả, nhưng tự cô đến đây, vậy nếu cô muốn biết, tôi sẽ nói cho cô biết và nếu cô khó chịu thì đó là lỗi cô đã làm phí thì giờ của mình ở đây. Vợ tôi đang ở dưới quê với con nhỏ, và tôi đang ở thành phố một mình. Tôi phải giải quyết một số vấn đề, và tôi có thể bỏ vợ theo một người đàn bà khác hay tôi có thể tới đây (giải quyết một số vấn đề) đợi ngày vợ tôi trở lại.”
- “Vợ anh có biết anh tới đây không ?”
Khoa trả lời :
- “Cô ấy ngây thơ lắm, không biết gì đến những nơi này.”
Hai người ngồi trong yên lặng một lúc, tác giả quay qua hỏi Lộc, người lái xe ôm, những người đàn ông như Khoa có khi nào mua dâm với gái đi khách ở Q.1 hay không. Lộc nói, “Họ không mua nổi mấy cô đó.” Quay lại, Khoa nói, “Tôi không có nhiều tiền. Những cô đó không khi nào mất thời giờ với đàn ông như tôi. Tại sao phải mất thì giờ khi người ngoại quốc trả họ nhiều tiền hơn.”
Gái đi khách nghèo phục vụ khách mua dâm nghèo. Những phụ nữ như Dung và Mai, và đàn ông như Khoa sống xa trung tâm thành phố đến nỗi họ không có đủ tiền đi xe vào Q.1, đó là khu kinh tế mại dâm bậc trung và cao cấp.
Hơn nữa, giữa người bản xứ, chuyện mua bán tình dục thường diễn tra trong phạm vi của những tiệm hớt tóc hay các quán cà phê. Rất hiếm khi khách và gái đi khách mua bán ở những nơi khác.
Gái đi khách ở bậc thấp không đủ khả năng trả tiền xe hay tiền ăn uống tại các quán bar ở Q.1. Đó là vùng hoạt động của gái mại dâm bậc trung và gái đi khách cao cấp. Chỉ có thể phục vụ và lệ thuộc vào khách hàng như Khoa, với phụ nữ mại dâm như Hà, là việc làm khiến họ phải nôn mửa. Những phụ nữ hành nghề ở khu mại dâm bậc thấp là những người có ít kiểm soát nhất về việc làm của họ. Vì không có nhiều khách mỗi ngày, phụ nữ mại dâm trong khu vực này hiếm khi từ chối đi khách. Thay vào đó họ dùng chiến thuật “làm sớm nghỉ sớm” và tránh được chuyện giao cấu càng nhiều càng tốt. Cũng vậy, khách mua dâm cũng tránh không có qua lại nhiều với gái mại dâm bậc thấp; họ đến, họ ‘ra’, rồi họ đi. Đôi khi cũng có khách ngồi lại uống ly cà phê, hút điếu thuốc nhưng rất hiếm khi chuyện vãn với phụ nữ mại dâm. Dù một một số phụ nữ mại dâm có những khách thường xuyên, nhưng những khách hàng đến những nơi này chi để mua một thứ – khoái lạc – không mua gì hơn. Khách và gái đi khách giao tiếp qua những trao đổi rạch ròi : bán khoái lạc lấy tiền. Quan hệ kinh tế và quan hệ riêng tư không tròng chéo trong khu vực mại dâm bậc thấp.
Lê Hoàng Nguyễn post (theo Trần Giao Thủy)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ 
VỀ GÁI MẠI DÂM
Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.
Luận án tựa đề “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam”, là công trình 15 tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Saigon; tại đây TS Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”
Trong lá thư đề cử, GS. Ray gọi luận án “Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam” là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng TS. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.
Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay TS. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice;
TS. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.
Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).
TIỀN, SEX VÀ TÌNH YÊU
Nạn buôn người và sự liên hệ giữa HIV và mại dâm tại Việt Nam đã được nói đến nhiều. Mới tháng Sáu năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo, đưa Việt Nam vào danh sách loại 2 (cần được theo dõi). Trên thế giới, cả người theo quan điểm bảo thủ lẫn tự do đều cố gắng quyên tiền, xây dựng các tổ chức phi chính phủ (NGO) để cứu những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới hoặc bị bắt bán dâm.
Tuy vậy, sự tập trung quá mức vào vấn nạn buôn người ở Việt Nam khiến chúng ta có thể bỏ qua cuộc sống của những cô gái không bị ép làm nghề bán dâm. Bài viết của tôi muốn hé lộ cuộc sống của những phụ nữ tự nguyện làm nghề bán dâm ở Việt Nam, và quan sát những người đàn ông – địa phương và nước ngoài – hưởng thụ sex.
Khách hàng thay đổi
Trong thập niên đầu tiên kể từ sau Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến tiền kiều hối của Việt kiều tăng vọt. Ví dụ, thống kê năm 2005 của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam nhận gần 4 tỉ đôla kiều hối, chiếm 8% GDP đất nước. Luồng vốn và nhân lực nước ngoài đổ vào đất nước cũng gia tăng. Báo chí cũng tường thuật rằng đến năm 2009, nguồn vốn chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã chuyển từ Mỹ, châu Âu sang các nước châu Á như Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật Bản, Singapore.
Những thay đổi kinh tế vĩ mô này đã biến đổi cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, và cũng ảnh hưởng cả ngành công nghiệp tình dục. Các khu vực mới trong ngành công nghiệp sex xuất hiện khi mà khách hàng nam giới cũng có những đổi thay về giai cấp và chủng tộc.
Ví dụ, giai đoạn 2006-07, tôi phát hiện rằng khách hàng trả tiền cao nhất chủ yếu là Việt kiều hưởng thụ trong khi về Việt Nam chơi hay thăm gia đình. Điều này không ngạc nhiên vì khi đó, tiền kiều hối còn cao hơn FDI.
Nhưng đến năm 2009, khu vực cao giá nhất trong ngành công nghiệp sex lại quay sang phục vụ các doanh nhân người Việt trong nước và châu Á. Trung bình một tháng họ bỏ ra 15000- 20000 đôla ở các quán bar cao cấp. Những quán bar này chỉ có hệ thống karaoke bình thường, nhưng điều duy nhất đưa chúng lên thành cao cấp là loại rượu whisky, Johnny Walker, Blue Label. Các cô phục vụ cũng bán dâm cho nhiều khách hàng, và có thu nhập trung bình 2000 đôla một tháng nhờ tiền boa, và khoảng 150 – 200 đôla cho mỗi lần qua đêm với khách.
Trao đổi với các cô gái, tôi nhanh chóng nhận ra là rất ít cô ở Sài Gòn xem mình là bị bắt đi bán dâm. Thực tế, nhiều cô gái nói rõ là họ xem công việc này còn ít bị bóc lột hơn là nghề bồi bàn, giúp việc hay làm trong xưởng may.
Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng.
Vân, một cô gái 24 tuổi, nói : “Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng. Họ sẽ luôn nghèo vì không đủ dũng cảm hay thông minh để đổi đời”. “Những người thông minh bỏ nhà máy, đi làm ở bar vì số lương kia họ kiếm được chỉ sau một giờ, và khách hàng đối xử còn đàng hoàng hơn ông chủ nhà máy.”
Các quán bar cao cấp là không gian nơi đàn ông trong nước chứng tỏ cho đối tác Á châu thấy rằng mặc dù Việt Nam là đất nước nhỏ, nước này cũng là dân chơi máu mặt trong nền kinh tế toàn cầu. Sau khi nốc sáu chai whisky, Thắng, một doanh nhân 56 tuổi, giải thích : “Thời kỳ Việt kiều đã qua rồi. Dân trong nước nay đi xe Bentley giá nửa triệu đôla. Khi dân Việt Nam đã chơi, thì còn dữ hơn dân Á châu hay Việt kiều.”
Cho dù doanh nhân trong nước và Á châu chiếm lĩnh khu vực cao giá nhất của ngành công nghiệp sex, đàn ông Việt kiều cũng không kém mấy. Khách hàng Việt kiều thường đến các club mở cho công chúng. Bên trong là bàn ghế để ngồi, uống rượu, có khi xem nhạc sống và mời các cô PG (promotion girl) đến bàn. Đêm đến, khách hàng có thể chèo kéo một cô gái nào đó qua đêm với giá chừng 100 đôla.
Công việc ‘thực sự’
Một buổi tối ở quán bar vắng khách, tôi nói chuyện với các cô về nghề của họ. Tôi hỏi họ có muốn tìm nghề khác không. Yến, 23 tuổi, nói : “Em xem đây là công việc thực sự. Nếu phục vụ trong nhà hàng hay quán cà phê, chỉ được khoảng 4 triệu đồng một tháng. Số tiền đó hai đêm ở đây là được, mà lại còn vui hơn. Em được gặp bao nhiêu người từ khắp thế giới.”
Thoại, 24 tuổi, nói them : “Người ta nghĩ em hẳn phải ngu lắm, em làm nghề này vì không tìm được việc. Nhưng ở đây em kiếm nhiều tiền hơn, thế ai ngu hơn ? Khi em mới tới Sài Gòn, em làm ở xưởng có lương 1 triệu đồng một tháng. Ở Sài Gòn, lương vậy sao mà sống ?”
Cũng có những quán bar phục vụ người Tây phương làm việc ở Việt Nam và du lịch ba lô. Chúng khác với các quán cho dân trong nước và Việt kiều ở chỗ đàn ông ở đây có thể mua bia rẻ tiền chỉ có 2 đôla. Năm 2007, tôi gặp Linh, 22 tuổi, làm ở khu dành cho các nhóm du lịch ba lô. Khi ấy, cô có quan hệ với 3 người khác nhau. Họ gửi tiền cho cô hàng tháng, rồi lại cả một khoản lớn để mở cửa hàng, giúp cô nuôi người cha đau yếu. Khi được hỏi cô có yêu người nào không, cô nói: “Khi mới vào nghề, em còn trẻ, không khôn ngoan lắm. Tôi yêu dễ dàng và rồi đau khổ. Nay em muốn thay đổi đời mình trước tiên, yêu là chuyện đi sau.”
Tình yêu
Vài tháng sau, Linh giới thiệu cho tôi gặp James, một người đàn ông 60 tuổi về hưu từ Úc. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta không chỉ tìm kiếm sex. Ông muốn yêu một cô gái mà ông mô tả là “trung thực, chăm làm, nhưng mắc kẹt ở đất nước thế giới thứ ba không có nhiều cơ hội.” James không đề cập chuyện lấy tiền đổi sex, mà ông xem quan hệ với Linh dựa trên tình yêu thật. Ông cũng tin rằng cô ấy yêu ông.
Ông bày tỏ niềm tin rằng ông sẽ là người “cứu” cô ra khỏi cuộc đời làm gái bar.
Hai năm sau, 2009, Linh và James kết hôn và cô được cấp visa di cư sang Úc. Ở buổi tiệc chia tay, tôi hỏi : “Em có yêu anh ta không ?”.
Cô trả lời : “Tụi em vất vả lắm để có visa, và ảnh rất cố gắng. Nay em yêu ảnh. Trong đời này hên sui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”
Quan hệ của Linh và James minh họa cho cách mà các cô gái bán dâm đã có ý thức vượt qua lằn ranh giữa chuyện “ăn bánh trả tiền” và góc cạnh thân mật hơn. Những phụ nữ có vẻ yếu ớt lại có thể lợi dụng hệ thống áp bức họ, có lợi nhờ mối liên hệ đa quốc gia. Công việc bán dâm đôi khi chuyển hóa thành quan hệ thân mật, và nếu họ “may mắn”, họ còn có thể có những tình yêu chân thật.
Về tác giả : Kimberly Hoang là nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Đại học California tại Berkeley. Cô viết riêng bài này cho BBC Việt ngữ, dựa trên bài nghiên cứu học thuật dài hơn đã đăng trên tạp chí Sexualities tháng Tư 2010
Nguyễn văn Danh post
Filed under: Chuyện khỉ gió Thẻ: | Bình luận, Tình dục

